Đề tài: Đối tợng của hạch toán kế toán
Lời mở đ ầu
Hạch toán kế toán là một môn khoa học kinh tế phản ánh và giám đốc
các mặt hoạt động kinh tế tài chính ở tất cả các doanh nghiệp, tổ chức hành
chính sự nghiệp và các cơ quan khác. Hạch toán kế toán là cơ sở quan trọng để
đi vào nghiên cứu các chuyên ngành kế toán. Để có thể thành công trong việc
nắm vững và vận dụng nó, chúng ta phải nhận biết bản chất, quy luật vận động
của các đối tợng hạch toán kế toán. Sự phát triển của xã hội nói chung của nền
kinh tế nói riêng làm cho đối tợng của hạch toán kế toán cũng có sự biến đổi.
Với nhận thức trên, tôi đi sâu nghiên cứu và viết đề tài: Đối tợng của
hạch toán kế toán.
Trong bài viết này, tôi xin trình bày lý luận chung và những quan điểm
khác nhau về đối tợng chung của hạch toán kế toán qua các thời kỳ khác nhau ở
nớc ta.
Bài viết gồm ba chơng:
Chơng I: Lý luận chung về đối tợng của hạch toán kế toán.
Chơng II: Đối tợng cụ thể của hạch toán kế toán.
Chơng III: Biểu hiện của đối tợng kế toán trong các đơn vị khác.
Đây là kết quả của việc nghiên cứu nghiêm túc, kết hợp với những kiến
thức thu đợc từ sự giảng dạy của các thầy cô trờng đại học kinh tế quốc
dân. Song do quá trình nghiên cứu có nhiều hạn chế nên không tránh khỏi
những khiếm khuyết, kính mong các thầy cô đóng góp, giúp đỡ để kiến thức
của tôi về môn học ngày càng đợc hoàn thiện hơn.
Xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 16 tháng 9 năm 2003
1
Đề tài: Đối tợng của hạch toán kế toán
Chơng I
Lý luận chung về đối tợng
của hạch toán kế toán
càng phong phú, đa dạng và phức tạp. Để đáp ứng những thông tin về hoạt động
đó một cách chi tiết, cụ thể, hạch toán đã phát triển phân chia thành ba loại
khác nhau. (Hạch toán thống kê, hạch toán nghiệp vụ, hạch toán kế toán.) Cả ba
loại hạch toán đều nhằm thu thập thông tin, ghi chép và truyền đạt những tin tức
tài chính, là những khâu cơ bản trong hệ thống thông tin kinh tế. Mọi thông tin
kinh tế trong đơn vị phải dựa trên cơ sở số liệu thống nhất do ba loại hạch toán
cung cấp. Trong ba loại hạch toán thì kế toán có vai trò rất quan trọng trong
công tác quản lý xí nghiệp. Vì vậy ngời ta coi kế toán là quy tắc đâu tiên của
quản lý; không có kế toán thì không thể quản lý đợc kinh tế. Kế toán không
phải là công việc giấy tờ, một loại nghiệp vụ đơn giản, mà là một môn học về
quản lý rất tinh vi. Hạch toán kế toán ra đời chính là để đáp ứng nhu cầu thông
tin về các hoạt động kinh tế tài chính phát sinh trong hoạt động lao động sản
xuất của con ngời. Tất cả các hình thái xã hội đều phải tiến hành hạch toán. Tuy
nhiên mỗi chế độ xã hội đều có công thức sản xuất riêng, phơng thức sản xuất
thay đổi làm cho toàn bộ cơ cấu kinh tế, xã hội và chính trị thay đổi. Bên cạnh
đó cùng với sự phát triển sản xuất của xã hội hạch toán cũng không ngừng đợc
phát triển và hoàn thiện về phơng pháp cũng nh định hớng tổ chức. Trong xã hội
có giai cấp, hạch toán bao giờ cũng là công cụ trong tay giai cấp thông trị sử
dụng quản lý kinh tế phục vụ trực tiếp quyền lợi của giai cấp đó.
Trải qua các quá trình hình thái kinh tế xã hội khác nhau cũng đã có
nhiều quan điểm khác nhau về hạch toán kế toán, song có thể đa ra hai quan
điểm cơ bản sau. Các nhà t bản nhìn nhận hạch toán dới góc độ công việc, là
một hoạt động dịch vụ, là một thứ ngôn ngữ kinh doanh. Tóm lại họ coi kế toán
là một phơng tiện, công cụ phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay hoạt
động quản lý các hoạt động kinh tế ấy. Giai cấp t bản biện luận rằng trong bất
cứ chế độ xã hội nào hạch toán cũng giống nhau, có thể nghiên cứu các phơng
3
Đề tài: Đối tợng của hạch toán kế toán
pháp hạch toán độc lập và tách rời phơng thức xã hội. Họ muốn chứng minh
tính chất bền vững của hạch toán t bản chủ nghĩa nói riêng và tính chất ổn định
hình thái khác. Hạch toán kế toán với vai trò rất quan trọng trong hệ thống quản
lý kinh tế quốc dân cũng nh trong từng đơn vị cần phải nhận biết số tài sản đang
sử dụng trong đơn vị, nhận biết đợc các hoạt động kinh tế tài chính nảy sinh gây
nên sự biến động của tài sản. Do vậy hạch toán kế toán cần thiết phải thu nhận
sử lý thông tin, cung cấp thông tin về tài sản đơn vị đang sử dụng, về các hoạt
động kinh tế tài chính gây nên sự biến động thay đổi tài sản trong đơn vị. Thực
hiện phản ánh kiểm tra giám sát số tài sản hiện có và các hoạt động kinh tế tài
chính đó, góp phần sử dụng có hiệu quả các tài sản trong đơn vị hơn. Có thể cụ
thể hoá đặc điểm đối tợng hạch toán kế toán.
Thứ nhất: Hạch toán kế toán nghiên cứu các yếu tố của quá trình tái sản
xuất trên góc độ tài sản (tài sản cố định và tài sản lu động) trong kinh doanh tài
sản này đợc gọi là vốn, nguồn hình thành các tài sản này gọi là nguồn vốn.
Nghiên cứu tài sản trong mối liên hệ giữa hai mặt vốn và nguồn vốn là đặc trng
nổi bật của hạch toán kế toán.
Thứ hai: Hạch toán kế toán không chỉ nghiên cứu tài sản trong trạng thái
tĩnh mà còn phải nghiên cứu cả trong trạng thái động của tài sản trong quá trình
sản xuất kinh doanh.
Thứ ba: Trong quá trình kinh doanh của đơn vị ngoài các mối quan hệ
trực tiếp đến tài sản của đơn vị còn phát sinh cả những mối quan hệ kinh tế
pháp lý ngoài vốn của đơn vị nh: Sử dụng tài sản thuê ngoài, nhận vật liệu gia
công, thực hiện các nghĩa vụ trong các hợp đồng kinh tế, liên kết kinh tế.
Những mối quan hệ kinh tế pháp lý này ngày nay đang đặt ra các nhu cầu cấp
bách đòi hỏi kế toán phải nghiên cứu giải quyết.
Thứ t : Việc cụ thể hoá đối tợng nghiên cứu của hạch toán kế toán chỉ có
thể đạt đợc khi nắm đợc cả phạm vi biểu hiện của đối tợng này. Rõ ràng khó có
thể thấy đợc quá trình tái sản xuất với đầy đủ các giai đoạn của nó trong phạm
vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân với hàng loạt những mối quan hệ qua lại của
các doanh nghiệp, tổ chức cơ quan. Mặt khác trong phạm vi rộng lớn đó giữa
các đơn vị kinh tế với nhau hay với các đơn vị, tổ chức phi kinh tế, các mặt biểu
hiện của tài sản khác nhau. Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý toàn bộ nền
sản và sự vận động của tài sản trong đơn vị.
6
Đề tài: Đối tợng của hạch toán kế toán
Thực chất về mặt bản chất, hai quan điểm trên có sự thống nhất về đối t-
ợng mà kế toán phản ánh, chỉ khác nhau về mặt phạm vi biểu hiện của đối tợng
ấy.
Quan điểm thứ nhất đợc đa ra trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch hoá
tập chung bao cấp. Trong chế độ này, do chỉ tồn tại duy nhất loại hình kinh tế
Nhà nớc, mọi hoạt động đều đợc sự tài trợ và đảm bảo của nhà nớc, tài sản của
các đơn vị đều là tài sản chung - tài sản xã hội chủ nghĩa.
Khi chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế mới - vận hành theo cơ chế thị tr-
ờng có sự quản lý của nhà nớc - Nền kinh tế gồm nhiều thành phần kinh tế khác
nhau. Các đơn vị không phải chỉ có các đơn vị thuộc quốc doanh mà còn có cả
các đơn vị ngoài quốc doanh. Mọi hoạt động kinh tế tài chính trong đơn vị hoạt
động theo nguyên tắc tự chủ trong phạm vi chính sách chế độ thể lệ về kinh tế,
tài chính của nhà nớc. Tài chính mỗi đơn vị này không chỉ duy nhất thuộc
quyền sở hữu của nhà nớc mà còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác tham gia
trong nền kinh tế. Với vai trò của mình, hạch toán kế toán phải phản ánh đợc tất
cả các tài sản, sự vận động của tài sản ấy. Nh vậy là ở đây đối tợng của hạch
toán kế toán đợc biểu hiện ở phạm vi rộng hơn, đầy đủ hơn. Đó là tài sản và sự
vận động của tài sản nói chung trong hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn
vị.
Tuy nhiên trên đây mới chỉ là những nhận thức khái quát về đối tợng của
hạch toán kế toán. Để có thể hiểu đợc đầy đủ, rõ ràng đối tợng của kế toán
chúng ta cần phải đi sâu vào nghiên cứu đối tợng cụ thể của hạch toán kế toán
trong các đơn vị mà tiêu biểu là đơn vị sản xuất - một đơn vị kinh tế cơ sở của
nền kinh tế quốc doanh sử dụng tài sản và có các hoạt động kinh tế tài chính đa
dạng, phong phú. Nghiên cứu đối tợng cụ thể của hạch toán kế toán trong đơn vị
sản xuất và với phơng pháp luận khoa học giúp ta có khả năng nghiên cứu, nhận
biết đợc đối tợng cụ thể của hạch toán kế toán trong các đơn vị khác.
8
Đề tài: Đối tợng của hạch toán kế toán
vốn kinh doanh (xem trong doanh nghiệp có những loại vốn cụ thể gì), các
nguồn vốn kinh doanh trong đơn vị (nguồn hình thành các loại vốn mà doanh
nghiệp đang sử dụng), cũng có nghĩa là cần việc nghiên cứu, phân loại vốn kinh
doanh trong đơn vị theo kết cấu vốn kinh doanh và theo nguồn hình thành vốn
kinh doanh.
I. Phân loại vốn kinh doanh theo kết cấu
Trong đơn vị sản xuất, vốn kinh doanh đợc phân loại theo kết cấu gồm:
vốn lu động và vốn cố định.
1. Vốn lu động
Vốn lu động đợc biểu hiện bằng tiền (giá trị) của tài sản lu động. Đặc
điểm của vốn lu động là thời gian luân chuyển ngắn, thờng là trong vòng một
chu kỳ kinh doanh hay trong vòng một năm. Trong đơn vị sản xuất, vốn lu động
bao gồm: các loại tiền, chứng khoán ngắn hạn, tài sản trong thanh toán, tài sản
dự trữ trong sản xuất kinh doanh, do đó vốn kinh doanh trong đơn vị sản xuất
cũng chia thành các loại vốn tơng ứng: vốn bằng tiền và các khoản đầu t ngắn
hạn, vốn trong thanh toán, vốn dự trữ sản xuất kinh doanh. Chúng ta hãy lần lợt
xem xét từng loại vốn dới đây.
- Vốn bằng tiền và các khoản đầu t ngắn hạn: là trị giá của các loại tiền
nh tiền mặt ở quỹ (bao gồm cả tiền Việt Nam và ngoại tệ), tiền gửi ở ngân hàng
kho bạc, ở công ty tài chính vàng bạc, kim khí đá quý ở quỹ hay gửi ở ngân
hàng, ở kho bạc, ở công ty tài chính; trị giá các loại chứng khoán ngắn hạn, các
khoản góp vốn liên doanh ngắn hạn và cho vay ngắn hạn. Thông thờng các
khoản đầu t chứng khoán hay cho vay ngắn hạn có thể bán đi, nói một cách
khác là chuyển đổi thành tiền trong vòng một năm.
- Vốn trong thanh toán là trị giá tài sản của đơn vị đang nằm trong quá
trình thanh toán nh các khoản phải thu của khách hàng, khoản tạm ứng cho
nhân viên, khoản phải thu khác. Đó là những tài sản của doanh nghiệp nhng do
quan hệ thanh toán những khoản vốn đó vẫn do cá nhân hay các đơn vị khác sử
kinh tế mà nó đem lại nh: chi phí thành lập doanh nghiệp, bằng sáng chế, bản
quyền tác giả, chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí về lợi thế thơng mại, độc
quyền nhãn hiệu. . .Tài sản này có thể do doanh nghiệp tự đầu t xây dựng hoặc
do doanh nghiệp thuê dài hạn mà có.
10
Đề tài: Đối tợng của hạch toán kế toán
- Tài sản cố định thuê tài chính: Là giá trị các khoản đầu t dài hạn với
mục đích kiếm lợi nh: đầu t góp vốn liên doanh dài hạn, chứng khoán dài hạn,
cho thuê tài sản cố định dài hạn, cho vay vốn dài hạn hay đầu t kinh doanh bất
động sản. . .
Trên đây là cách phân loại vốn kinh doanh theo kết cấu đợc áp dụng từ
năm 1995 trở lại đây (xem bảng tóm tắt số 2). Trớc năm 1995, việc phân loại
vốn kinh doanh cũng có tất cả các nội dung của phân loại hiện nay, chỉ khác
nhau về sự sắp xếp trật tự hai loại vốn (xem bảng số 1).
Trớc kia, các doanh nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào nhà nớc, khi mà chế
độ kế hoạch hoá tập trung bao cấp đã từng tồn tại trong một thời gian dài ở nớc
ta. Nhà nớc cung cấp vốn sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp vừa chịu trách
nhiệm phân phối sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra, vấn đề cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp hoàn toàn không đợc đề cao. Do vậy vốn cố định luôn
chiếm một tỷ trọng lớn và yêu cầu quản lý loại vốn này luôn đợc đặt lên hàng
đầu. Việc phân loại vốn cố định chỉ gồm có tài sản cố định hữu hình là do trong
cơ chế cũ, tài sản chủ yếu của đơn vị là chỉ là tài sản cố định hữu hình nh máy
móc thiết bị, dụng cụ lao động. . . Tài sản cố định vô hình cũng nh tài sản cố
định thuê tài chính cha đợc đầu t cũng nh cha đợc quan tâm đúng mức. Thực tế
trong cơ chế cũ hai loại tài sản cố định này không có điều kiện tồn tại và phát
triển.
Vốn lu động trong doanh nghiệp ở chế độ cũ chiếm tỷ trọng nhỏ đợc
quản lý theo định mức, các định mức sử dụng loại vốn này đều do Nhà nớc quy
định sẵn tuy theo mục đích chỉ đạo của Nhà nớc. Chính vì vậy vốn này còn có
tên gọi là vốn lu động định mức. Mặt khác vốn lu động này đợc sắp xếp theo
định
Vốn lu
động
Vốn dự
trữ
Vốn trong
thanh toán
TSCĐ
Vốn sản
xuất
Vốn thành
phẩm
Vốn bằng
tiền
-Nhà cửa
- Vật kiến trúc
- Máy móc thiết bị
- Phơng tiện VT
- Nguyên liệu
- Vật liệu
- Công cụ lao
động thô sơ
- Nửa thành phẩm
tự chế
- Sản phẩm dở dang
- Thành phẩm
- Tiền mặt
- Tiền gửi ngân
hàng
- Thanh toán với ngời