Tiểu luận:Trình bày lý thuyết về tuần hoàn và chu chuyển tư bản. ý nghĩa thực tiễn rút ra khi nghiên cứu lý thuyết này đối với việc quản lý các doanh nghiệp của nước ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN - Pdf 21


TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….

[\[\
TIỂU LUẬN
Đề tài: Trình bày lý thuyết về tuần hoàn và chu chuyển tư bản.
ý nghĩa thực tiễn rút ra khi nghiên cứu lý thuyết này đối
với việc quản lý các doanh nghiệp của nước ta khi
chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Trình bày lý thuyết về tuần hoàn và chu
chuyển t bản. ý nghĩa thực tiễn rút ra khi
nghiên cứu lý thuyết này đối với việc quản lý
các doanh nghiệp của nớc ta khi chuyển
sang nền kinh tế thị trờng định hướng
XHCN
B. PHẦN NỘI DUNG
PHẦN I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TUẦN HOÀN VÀ CHU CHUYỂN T BẢN
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ TUẦN HOÀN VÀ CHU CHUYỂN CỦA T BẢN.
1. Quan điểm của Mác - Lênin về tuần hoàn của t bản.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, t bản luôn luôn vận động và trong quá trình
vận động, nó lớn lên không ngừng. Để đạt đợc hiệu quả sản xuất kinh doanh nhà t bản
không đợc để t bản nhàn rỗi, mà phải sử dụng triệt để dới nhiều hình thức, chức năng khác
nhau. T bản phải đợc tuần hoàn và chu chuyển liên tục, hợp lý để kết quả sản xuất kinh
doanh thu đợc lợng t bản lớn hơn lợng đầu t ban đầu. Theo Mác - Lênin thì: “Tuần hoàn

loạt những sự biến hoá hình thái của bản thân tuần hoàn.
2.2. Tuần hoàn của t bản sản xuất.
Công thức chung của tuần hoàn của t bản sản xuất là:
SX H’ - T’ - H SX
Tuần hoàn này nói lên sự hoạt động lắp đi lắp lại một cách chu kỳ của t bản sản xuất,
hay quá trình sản xuất của t bản, coi là quá trình sản xuất gắn liền với việc tăng thêm giá
trị, nó không những nói lên việc sản xuất mà còn nói lên việc tái sản xuất một cách chu kỳ
giá trị thặng d nữa, nó nói lên hoạt động của t bản công nghiệp đang nằm dới hình thái sản
xuất của nó, hoạt động không phải chỉ có một lần, mà là lắp đi lắp lại một cách chu kỳ,
thành thử sự lắp đi lắp lại đã do chính điểm xuất phát quy định rồi có thể là một bộ phận
của H’ lại trực tiếp gia nhập làm t liệu sản xuất trong quá trình lao động đã sản xuất ra nó
làm hàng hoá; do đó việc chuyển hoá giá trị của bộ phận jđó thành tiền hiện thực, hay
thành ký hiệu tiền tệ trở thành thừa. Bộ phận giá trị ấy không đi vào lu thông. Vậy là có
những giá trị gia nhập quá trình sản xuất mà không gia nhập quá trình lu thông.
Trong hình thái T - T’ quá trình sản xuất, tức là chức năng sản xuất, sản xuất làm
gián đoạn lu thông của t bản tiền tệ và chỉ xuất hiện thành kẻ môi giới giữa hai giai đoạn
của lu thông là T - H và H’ - T’ và là khâu trung gian giữa t bản sản xuất mở đầu cuộc tuần
hoàn với t cách là cực thứ nhất, và t bản sản xuất kết thúc tuần hoàn đó với t cách là cực
cuối dới một hình thái mà tuần hoàn đó mở đầu trở lại sự vận động. Mặt khác toàn bộ lu
thông biểu hiện ra dới hình thái ngợc lại với hình thái mà nó mang tròn tuần hoàn của t
bản tiền tệ.Nến không nói đến đại lợng giá trị thì hình thái của nó trong tuần hoàn của t
bản tiền tệ là: T - H - T (T - H . H - T); nếu nói đến đại dợng giá trị thì hình thái của nó là:
H - T - H tức là hình thái lu thông giản đơn của hàng hoá.
Tái sản xuất giản đơn.
Điểm xuất phát của lu thông giữa hai cực Sx Sx là t bản - hàng hoá: H’ = H + h =
Sx + h. Trớc kia chức năng của t bản hàng hoá H’ - T’ là giai đoạn thứ hai của lu thông bị
gián đoạn và là giai đoạn kết thúc của tổng tuần hoàn. Bây giờ nó là giai đoạn thứ hai của
tuần hoàn nhng lại là giai đoạn thứ nhất của lu thông. Tuần hoàn thứ nhất kết thúc bằng T’
và cũng có thể trở lại mở đầu tuần hoàn thứ hai với t cách là t bản - tiền tệ. Tính chất của
tuần hoàn thay đổi các cách giải quyết để biết đợc công thức mà ta đang xét đại biểu cho

khi tuần hoàn đó hoàn thành.
H’ - T’, giai đoạn thứ hai của lu thông và giai đoạn cuối cùng của tuần hoàn I ( T T’),
lại là giai đoạn thứ hai của tuần hoàn của chúng ta, và là giai đoạn thứ nhất của lu thông
hàng hoá. Do đó về mặt lu thông mà nói thì H - T’ cần đợc bổ sung bằng T’ - H’. Nhng H’
- T’ không những đã xảy ra sau quá trình làm tăng thêm giá trị mà còn là kết quả của nó,
nhờ hành vi ấy sản phẩm - hàng hoá H’ đã đợc thực hiện rồi. Nh vậy là quá trình làm cho t
bản tăng thêm giá trị, cũng nh việc thực hiện sản phẩm - hàng hoá đại biểu chio giá trị t
bản đã tăng thêm giá trị đều kết thúc bằng H’ - T’.
Trong lu thông của thu nhập của nhà t bản, hàng hoá đã đợc sản xuất ra, tức là h trên
thực tế chỉ đợc dùng để đợc chuyển hoá thu nhập ấy trớc hết thành tiền, rồi lại từ tiền
thành một hàng hoá khác phục vụ cho tiêu dùng cá nhân. Nhng ở đây chúng ta không nên
bỏ qua một việc nhỏ này: h là một giá trị hàng hoá không tốt gì cho nhà t bản cả, nó là hiện
thân của lao động thặng d, chính vì thế mà nó xuất hiện lúc ban đầu với t cách là một
thành phần của t bản - hàng hoá H’. Bởi vậy chỉ có một sự tồn tại của thân nó, h này cũng
đã gắn liền với tuần hoàn của giá trị - t bản đang tiến hành quá trình của mình; nếu tuần
hoàn ấy bì đình chỉ hoặc xảy ra một sự rối loạn nào đó nói chung, thì không phải chỉ việc
tiêu dùng h, mà đồng thời cả việc tiêu thụ cái loạt hàng hoá đem trao đổi với h, cũng đều
bị thu hẹp lại hoặc đình chỉ hẳn, h - t - h chỉ gia nhập lu thông của t bản chừng nào mà h
còn là một phần giá trị của H’.
Mối quan hệ giữa tuần hoàn của t bản với t cách là một bộ phận của lu thông chung,
và tuần hoàn của t bản với t cách là một trong những khâu của một lu thông độc lập, cũng
biểu lộ ra khi chúng ta tiếp tục xem xét lu thông của T’ = T + t. Là t bản tiền tệ, T tiếp tục
tuần hoàn của t bản; t bị tiêu dùng đi với t cách là thu nhập (t - h) thì đi vào lu thông chung,
nhng lại tách khỏi tuần hoàn của t bản. Chỉ có bộ phận t hoạt động làm t bản - tiền tệ phụ
thêm mới gia nhập tuần hoàn này mà thôi. Trong h - t - h tiền chỉ làm chức năng tiền đúc,
mục đích của lu thông này là sự tiêu dùng cá nhân của nhà t bản. Khoa kinh tế chính trị
tầm thờng cho rằng lu thông ấy không gia nhập tuần hoàn của t bản - tức là lu thông của
bộ phận sản phẩm - giá trị bị tiêu dùng đi với t cách là thu nhập - là tuần hoàn đặc trng
của t bản.
Trong giai đoạn thứ hai, T - H thì giá trị t bản T = SX lại tái hiện nhng đã bị tớc mất

sản xuất t bản chủ nghĩa. Sự chuyển hoá của các yếu tố sản xuất thành sản phẩm hàng hoá,
tức là việc chuyển hoá từ Sx thành H’, đợc tiến hành trong lĩnh vực sản xuất, việc chuyển
hoá ngợc lại từ H’ thành Sx đợc tiến hành trong lu thông. Việc chuyển hoá trở lại này đợc
chuyển hoá nhờ sự biến hoá hình thái giản đơn của hàng hoá. Nhng xét về mặt nội dung
của nó thì việc chuyển hoá trở lại này là một yếu tố của quá trình tái sản xuất.
Trong T T’, T là hình thái ban đầu của giá trị t bản; giá trị t bản trút bỏ hình thái này
đi để rồi sau đó lại mang lấy nó. Trong Sx H’ - H Sx, T là một hình thái chỉ hiện ra
trong quá trình tuần hoàn, rồi sau đó lại trút bỏ đi ngay trong giới hạn của chính quá trình
ấy. Nếu sự biến hoá hình thái thứ hai T - H gặp trở ngại thì tuần hoàn tức là tiến hành của
quá trình tái sản xuất, bị đứt quãng, hoàn toàn giống nh trong trờng hợp t bản bị đọng lại
dới hình thái t bản - hàng hoá. Khi t bản không còn làm chức năng t bản tiền tệ thì nó vẫn
luôn luôn là tiền; nhng nếu nó bị giữ quá lâu trong chức năng t bản - hàng hoá, thì nó sẽ
không còn là hàng hoá nữa và nói chung không còn là giá trị sử dụng nữa.
Slđ
Trong hình thái I, hành vi T - H Tlsx chỉ chuẩn bị cho sự chuyển
hoá đầu tiên của t bản tiền tệ thành t bản sản xuất, trong hình thái II, hành vi ấy chuẩn bị
cho sự chuyển hoá trở lại của t bản hàng hoá thành t bản sản xuất. Bởi vậy, ở đây cũng nh
trong hình thái I, hành vi này xuất hiện thành giai đoạn chuẩn bị cho quá trình sản xuất
nhng nó lại thể hiện nh là bớc quay trở về quá trình ấy, nh là việc lặp lại quá trình ấy, do
đó nh là bớc mở màn cho quá trình tái sản xuất, và vì vậy mở màn cho việc lặp lại quá
trình làm tăng thêm giá trị.
Một lần nữa T - Slđ là việc mua bán hàng hoá sức lao động
dùng để sản xuấta ra giá trị thặng d, còn T - Tlsx là một công việc không thể thiếu đợc về
mặt vật chất để đạt đợc mục đích đó. Sau khi T - H Slđ
hoàn thành,thì T đợc chuyển hoá thành t bản sản xuất thành Sx và tuần hoàn lại bắt đầu trở
lại.
Do đó, hình thái đầy đủ của Sx H’ - T’ - H Sx là:
Việc chuyển hoá t bản - tiền tệ thành t bản sản xuất là việc mua hàng hoá nhằm sản
xuất ra hàng hoá. Chỉ khi nào sự tiêu dùng là tiêu dùng sản xuất nh thế nào thì nó mới gia
nhập vào tuần hoàn của bản thân t bản; điều kiện của sự tiêu dùng đó bao hàm ở chỗ nhờ

chuyển hoá thành trái vụ, thành chứng từ về quyền sở hữu đối với một vật ngang giá mà
có thể là ngời mua đã có trong tay, hoặc hy vọng đã có. Cũng hệt nh tiền đem gửi thành
các chứng khoán có lãi sản phẩm thặng d đó không gia nhập vào quá trình tái sản xuất
của t bản thực hiện tuần hoàn ấy, mặc dù nó có thể gia nhập tuần hoàn của những t bản
công nghiệp cá biệt khác. Toàn bộ tính chất của sản xuất t bản chủ nghĩa đợc quy định
bởi việc làm tăng thêm giá trị của giá trị ứng trớc do đó trớc hết đợc quyết định bởi việc
sản xuất ra giá trị thặng d càng nhiều càng tốt.
Trớc hết, khi xem xét tái sản xuất giản đơn, chúng ta đã giả định rằng toàn bộ giá trị
thặng d bị chi tiêu đi với t cách là thu nhập. Trên thực tế, trong những điều kiện bình thờng,
một bộ phận giá trị thặng d bao giờ cũng phải bị tiêu với t cách là thu nhập, còn một bộ
phận khác phải đợc t bản hoá, hơn nữa số giá trị thặng d đợc sản xuất ra trong từng thời kỳ
nhất định, khi thì bị chi tiêu toàn bộ, khi thì đợc t bản hoá toàn bộ, điều đó không hoàn
toàn quan trọng. Xét trung bình và công thức chung có thể biểu hiện đợc sự vận động
trung bình mà thôi:
Sld Sx’ biểu thị một t bản sản xuất đợc tái sản
Sx H’ - T’- H’ Tlsx xuất trên quy mô mở rộng, với t cách là t bản có một
giá trị lớn hơn, và sau đó nó bắt đầu tuần hoàn thứ hai của nó, hoặc - điều này cũng vậy -
nó lặp lại tuần hoàn thứ nhất của nó, nhng với t cách là một t bản sản xuất đã tăng thêm.
Khi tuần hoàn thứ hay này bắt đầu, chúng ta lại thâys Sx xuất hiện ở điểm xuất phát, nhng
chỉ khác có một điều là Sx này là một t bản sản xuất có quy mô lớn hơn Sx thứ nhất. Cũng
giống nh là khi trong công thức T T’, tuần hoàn thứ hai bắt đầu vơis T’, thì T’ này cũng
làm chức năng giống chức năng của T’, tức là làm chức năng của một t bản - tiền tệ ứng
trớc có một đại lợng nhất định; đó là một t bản - tiền tệ có quy mô lớn hơn t bản - tiền tệ
mở đầu tuần hoàn thứ nhất, nhng một khi t bản - tiền tệ lớn hơn đó bắt đầu làm chức năng
t bản - tiền tệ ứng trớc, thì tất cả mọi sự liên tởng đến việc nó đã tăng thêm nhờ t bản hoá
giá trị thặng d đến biến mất. Tình hình nh vậy cũng diễn ra đối với Sx khi nó làm điểm
xuất phát của một tuần hoàn mới.
Nếu so sánh Sx Sx’ với T T’ hay với tuần hoàn thứ nhất, thì thấy rằng hai tuần
hoàn đó hoàn toàn không có ý nghĩa giống nhau. Bản thân T T’ với t cách là một tuần
hoàn cô lập, chỉ nói lên rằng T tức là tiền tệ (hay t bản công nghiệp đang thực hiện tuần

Việc tích luỹ tiền
Việc t tức giá trị thặng d đã biến thành tiền, có thể lập tức đợc bỏ thêm vào giá trị - t
bản đang ở trong quá trình vận động của nó hay không, và do đó có thể gia nhập quá trình
tuần hoàn bằng cách nhập làm một với t bản T thành đại lợng T’ hay không - việc đó phụ
thuộc vào những tình hình không có quan hệ gì với sự tồn tại đơnthuần của t. Chức năng
riêng của t là nằm dới hình thái tiền, cho đến khi nó nhận thức của những tuần hoàn lắp đi
lắp lại, - tuần hoàn làm tăng thêm giá trị - tức là nhận thức đợc từ bên ngoài, những khoản
tăng thêm đủ để đạt tới đại lợng tối thiểu cần thiết cho sự hoạt động tích cực của nó, chỉ
với đại lợng ấy thì nó mới có thể tham gia vào việc hoạt động của t bản - tiền tệ T’, tham
gia với t cách là t bản tiền tệ. Vậy ở đây việc tích luỹ tiền, tích luỹ tiền là một quá trình
tạm thời kèm theo việc tích luỹ hiện thực, tức là việc mở rộng quy mô hoạt động của t bản
công nghiệp.
Hình thái tiền tích trữ chỉ là hình thái tiền không nằm trong lu thông, là hình thái của
số tiền mà lu thông của nó bị gián đoạn và vì lẽ đó mà đợc giữ lại dới hình thái tiền. Còn
nh bản thân quá trình hình thành tiền tích trữ, thì nó là chung cho bất cứ nền sản xuất hàng
hoá nào, và chỉ trong các hình thái cha phát triển của sản xuất hàng hoá trớc chủ nghĩa t
bản thì quá trình tích luỹ tiền ấy mới đóng một vai trò nào đó với t cách là mục đích tự
thân.
Quỹ dự trữ.
Bản thân tiền tích trữ là điều kiện tích luỹ. Nhng quỹ tích luỹ cũng có thể đảm nhiệm
những công việc đặc thù, có tính chất phụ, tức là có thể gia nhập quá trình tuần hoàn của t
bản mà không cần phải mang hình thái Sx Sx’ và do đó không cần mở rộng quy mô tái
sản xuất t bản chủ nghĩa. Quỹ tích luỹ đợc dùng làm quỹ dự trữ khác với quỹ dùng làm
phơng tiện mua và phơng tiện thanh toán đã đợc nghiên cứu trong tuần hoàn Sx Sx’.
Quỹ dự trữ là một bộ phận cấu thành của t bản nằm trong giai đoạn chuẩn bị của sự tích
luỹ của nó, tức là một bộ phận cấu thành của giá trị thặng d cha chuyển hoá thành t bản
tích cực.
Quỹ tích luỹ bằng tiền vốn đã là sự tồn tại của t bản - tiền tệ tiềm năng, do đó
nó đã là sự chuyển hoá của tiền thành t bản - tiền tệ. Công thức chung của tuần hoàn của t
bản sản xuất. Slđ

chuyển hoá thành tiền. Đó là một tuần hoàn kinh doanh hoàn chỉnh mà kết quả là tiền có
thể dùng vào tất cả mọi việc và cho tất cả mọi ngời.
Trong hình thái II tức là Sx H’ - T’ - H Sx (Sx’) toàn bộ quá trình lu thông nằm
sau Sx thứ nhất và trớc Sx thứ hai, Sx là t bản sản xuất, Sx cuối không phải là quá trình
sản xuất, nó chỉ là sự trở lại của t bản công nghiệp dới hình thái t bản sản xuất.
Trong hình thái III, tức là H’ - T’ - H Sx H’ tuần hoàn bắt đầu bằng hai giai đoạn
của quá trình lu thông, tuần hoàn kết thúc với H’, kết quả của quá trình sản xuất. Chỉ trong
tuần hoàn này thì điểm xuất phát của quá trình làm tăng thêm giá trị là giá trị - t bản đã
tăng thêm giá trị. Điểm xuất phát ở đây là H’, biểu hiện mối quan hệ t bản chủ nghĩa, nó
có tác dụng quyết định đối với toàn bộ tuần hoàn. Sự phân phối tổng sản phẩm xã hội cũng
nh phân phối đặc thù về sản phẩm của một t bản - hàng hoá cá biệt, sự phân phối, một mặt
thành quỹ tiêu dùng cá nhân, và mặt khác thành quỹ tái sản xuất - đều nằm trong tuần hoàn
của t bản.
Trong T T’ có khả năng mở rộng tuần hoàn theo đại lợng của các phần t sẽ gia nhập
tuần hoàn mới. Trong Sx Sx, Sx có thể mở đầu tuần hoàn mới với một giá trị nh cũ.
Trong H’ H’, t bản dới hình thái hàng hoá là tiền đề của sản xuất, và với t cách là tiền đề,
hình thái đó lại quay trở lại cũng trong tuần hoàn ấy. Cả ba tuần hoàn đều có điểm chung: t
bản kết thúc quá trình tuần hoàn của nó dới đúng cái hình thái mà nó mở đầu quá trình
tuần hoàn đó, nhờ thế nó lại mang hình thái ban đầu trong đó nó lại mở đầu một tuần hoàn
giống nh vậy. Hình thái của điểm xuất phát T, Sx, H’ đều đợc cho trớc đối với mỗi tuần
hoàn; hình thái lặp lại ở điểm kết thúc là hình thái bị gây nên, và do đó bị quy định bởi
một loạt những sự biến hoá hình thái cảu bản thân tuần hoàn. H’ với t cách là điểm kết
thúc một tuần hoàn của t bản công nghiệp cá biệt, chỉ giả định là có hình thái Sx ở bên
ngoài lu thông của t bản công nghiệp đã sản sinh ra nó, T’ là điểm kết thúc của hình thái I,
là hình thái chuyển hoá của H’ (H’ - T’) giả định là T nằm trong tay ngời mua, tồn tại ở
ngoài tuần hoàn T T’ và chỉ do việc bán H’ mới bị cuốn vào trong tuần hoàn đó, trở thành
hình thái kết thúc của bản thân tuần hoàn ấy.
3. Quan điểm của Mác - Lênin về vấn đề chu chuyển của t bản.
Nếu nh nghiên cứu tuần hoàn của t bản, chúng ta nghiên cứu các hình thức mà t bản
trút ra và khoác vào qua ba giai đoạn vận động của nó, thì khi nghiên cứu chu chuyển của t

xét chúng riêng ra trong mối quan hệ của chúng đối với chu chuyển của t bản. Có những
nhà kinh tế học khác lại xuất phát từ những chi phí dới hình thái yếu tố sản xuất, và xem
xét sự vận động cho đến lúc quay trở về, nhng họ tuyệt nhiên không hề nói đến hình thái
quay trở về đó, không hề tự hỏi xem chúng sẽ quay trở về dới hình thái hàng hoá hay hình
thái tiền. Sau khi toàn bộ giá trị t bản mà một nhà t bản cá biệt bỏ vào một ngành sản xuấta
nào đó hoàn thành tuần hoàn trong sự vận động của nó, thì nó lại trở lại hình thái ban đầu
của nó và lại có thể diễn lại cùng một quá trình nh thế. Muốn cho giá trị đợc bảo tồn mãi
mãi và tiếp tục tăng thêm giá trị với t cách là giá trị t bản, thì nó phải lắp lại tuần hoàn ấy.
Trong đời sống của t bản, mỗi tuần hoàn cá biệt chỉ là một giai đoạn không ngừng đợc lắp
đi lắp lại, nghĩa là một giai đoạn cấu thành một định kỳ. Hình thái T T’ t bản tiền tệ sẽ đi
qua cái chuỗi những chuyển hoá bao gồm quá trình tái sản xuất ra nó, hay quá trình tăng
thêm giá trị. Khi định kỳ Sx Sx kết thúc, t bản mang hình thái những yếu tố sản xuất nó
là tiền đề của việc lặp lại tuần hoàn. “Tuần hoàn của t bản khi đợc coi là một quá trình
định kỳ, chứ không phải một hành vi cá biệt thì đợc gọi là vòng chu chuyển của t bản”.
Thời gian của vòng chu chuyển ấy đợc quyết định bởi tổng số thời gian sản xuất và thời
gian lu thông cộng lại. Tổng số thời gian ấy là thời gian chu chuyển của t bản. Do đó, thời
gian chu chuyển của t bản bao quát khoảng thời gian từ một định kỳ tuần hoàn tiếp theo;
nó nói lên tính chu kỳ trong quá trình sinh sống của t bản, hay có thể nói, nó là thớc đo
thời hạn đổi mới, thời hạn lặp lại của quá trình làm tăng thêm giá trị hay quá trình sản xuất
ra cùng một giá trị t bản.
Nếu không nói đến những sự ngẫu nhiên riêng rẽ có thể đẩy nhanh hay rút ngắn thời
hạn chu chuyển đối với cùng một t bản cá biệt, thì thời gian chu chuyển ấy nói chung sẽ
khác nhau tùy theo những sự khác nhau của các lĩnh vực đầu t cá biệt của t bản. Cũng
giống nh ngày lao động là đơn vị đo lờng tự nhiên để đo hoạt động của sức lao động, thì
năm cũng là đơn vị đo lờng tự nhiên để đo những vòng chu chuyển của t bản hoạt động.
Cơ sở tự nhiên của đơn vị đo lờng ấy là tình hình: ở vùng ôn đới, quê hơng của nền sản
xuất t bản chủ nghĩa, các nông sản quan trọng nhất đều đợc sản xuất ra mỗi năm một lần.
Nếu ta lấy CH để chỉ năm là đơn vị đo lờng của thời gian chu chuyển, lấy ch để chỉ
thời gian chu chuyển của một t bản nhất định, lấy n để chỉ số lần chu chuyển của t bản, thì
chúng ta sẽ có: n = ch(CH)

(7)
. Chu chuyển thực
tế do thời gian tồn tại của t bản cố định đầu t quyết định và nó không ăn khớp với chu
chuyển chung của nó.
Để nâng cao tỷ suất giá trị thặng d hàng năm, tức là nâng cao tỷ số giữa khối lợng giá
trị thặng d tạo ra trong một năm với t bản khả biến ứng ra trớc ngời ta phải tăng tốc độ chu
chuyển của t bản. Tỷ suất giá trị thặng d thực tế không đổi, nhng t bản chu chuyển càng
nhanh số vòng chu chuyển t bản khả biến trong năm càng nhiều thì giá trị thặng d càng lớn,
tỷ suất giá trị thặng d hàng năm càng cao. Nó che giấu mối quan hệ thực sự giữa t bản và
lao động, gây cho ngời ta có ấn tợng rằng tỷ suất giá trị thặng d không phải chỉ phụ thuộc
vào khối lợng và trình độ bóc lột sức lao động do nhà t bản khả biến làm cho hoạt động mà
còn phụ thuộc vào những ảnh hởng không thể giải thích đợc do quá trình lu thông đẻ ra.
Do đó nhà t bản ra sức rút ngắn thời gian sản xuất và thời gian lu thông để tăng tốc độ chu
chuyển của t bản. Sự tiến bộ của kỹ thuật và sự phát triển của lực lợng sản xuất giúp cho
nhà t bản làm việc đó.
II. SỰ VẬN DỤNG LÝ THUYẾT TUẦN HOÀN VÀ CHU CHUYỂN CỦA T BẢN TRONGN
VIỆC QUẢN LÝ CÁC DOANH NGHIỆP CỦA NỚC TA KHI CHUYỂN SANG NỀN KINH TẾ
THỊ TRỜNG ĐỊNH HỚNG XHCN.
1. Sự vận dụng ở Việt Nam từ trớc đại hội VI ban chấp hành trung ơng Đảng -
1986.
Cả nớc cùng tiền lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế phổ biến vẫn còn là sản xuất
nhỏ: cơ sở vật chất kỹ thuật còn nhỏ yếu, đại bộ phận lao động kỹ thuật vẫn còn thủ công,
phân công lao động xã hội còn kém phát triển,năng suất lao động xã hội rất thấp, tình trạng
tổ chức và quản lý kinh tế còn thiếu chặt chẽ, việc kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân còn
yếu, nền kinh tế bị mất cân đối nghiêm trọng. Công cuộc xây dựng nền kinh tế đòi hỏi đất
nớc ta phải có chính sách phát triển và khôi phục nền kinh tế, đa đất nớc đi lên thoát khỏi
sự lạc hậu của nền kinh tế sau những năm chiến tranh xâm lợc. Doanh nghiệp Việt Nam
lúc này còn quá nhỏ bé chủ yếu là các xí nghiệp dới sự che chở của nhà nớc, nhà nớc bao
cấp và chịu gần nh toàn bộ hậu quả mà doanh nghiệp nhà nớc và xí nghiệp gặp phải. Hàng
Việt Nam đợc sản xuất ra có khi không đúng thời vụ, hàng cha về đến nông thôn thì đã hết.

nghiệp t bản t doanh”. Đối với tiểu thơng, Đảng chủ trơng “Tổ chức lại thơng nghiệp nhỏ,
chuyển phần lớn tiểu thơng sang sản xuất. Đối với số còn lại đợc phép kinh doanh, phải
tăng cờng quản lý bằng những chính sách và biện pháp thích hợp”. Nền kinh tế bên cạnh
những thành tựu đạt đợc vẫn còn những hạn chế về mặt quản lý còn thiếu hiêủ biết, ít kinh
nghiệm quản lý, cha tổng kết kinh nghiệm thực tiễn tạo điều kiện cho một số xí nghiệp lợi
dụng sự sơ hở để mu lợi ích cục bộ.
Nhìn chung trong giai đoạn này các xí nghiệp rất còn yếu kém trong việc tuần hoàn
sản xuất và chu chuyển vốn, có nhiều xí nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào nhà nớc đến khi
bị thua lỗ thì nhà nớc phải chịu hoàn toàn cho nên các xí nghiệp cha có đợc tinh thần trách
nhiệm đối với hoạt động sản xuất của mình.
2. Sự vận dụng ở Việt Nam từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 -
1986) đến nay.
Đại hội VI của Đảng là một mốc lịch sử quan trọng trên con đờng đổi mới toàn diện
và sâu sắc ở nớc ta; trong đó có sự đổi mới về các quan điểm kinh tế. Đảng chỉ ra mục tiêu
quan trọng là phát triển kinh tế trong đó khẳng định vai trò của các doanh nghiệp trong nền
kinh tế mới với cơ chế quản lý mới đó là cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc. Cơ
chế mới gắn sản xuất với thị trờng thông qua tín hiệu giá cả đợc hình thành theo quan hệ
cung cầu, đi đôi với thực hiện chế độ tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp và mọi đơn
vị kinh tế trong môi trờng hợp tác và cạnh tranh bình đẳng. Nhà nớc quản lý nền kinh tế
thông qua hệ thống, thể chế rõ ràng, nghiêm chỉnh kết hợp đúng đắn tính kế hoạch với việc
sử dụng quan hệ hàng hoá tiền tệ, sử dụng hợp lý các đòn bẩy kinh tế nh giá cả, chính sách
tài chính, tín dụng công tác kế hoạch hoá đợc đổi mới theo hớng chuyển từ tính pháp lệnh
sang tính hớng dẫn là chính, từng bớc phân biệt quản lý Nhà nớc với quản lý sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp. Có thể nói cơ chế mới nhằm chuyển hoá nền kinh tế
Việt Nam còn mang nặng tính bao cấp, hiện vật, tự cấp tự túc, sang nền kinh tế thị trờng,
theo định hớng XHCN. Đây cũng là con đờng chủ yếu để nâng cao hiệu quả của mỗi đơn
vị sản xuất - kinh doanh, cũng nh của toàn bộ nền kinh tế.
Việc chuyển sang kinh tế thị trờng đòi hỏi phải có sự đổi mới một cách căn bản chức
năng quản lý kinh tế của Nhà nớc. Từ chỗ trực tiếp “làm kinh tế” can thiệp rất sâu vào quá
trình sản xuất kinh doanh, Nhà nớc chuyển sang điều tiết vĩ mô nền kinh tế chủ yếu bằng

do nớc ta không trải qua giai đoạn chủ nghĩa t bản đi thẳng lên chủ nghĩa xã hội cha có
một cơ sở vật chất kỹ thuật ổn định cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp. Mặt khác, tỏo chức lại nền kinh tế đa các thành phần kinh tế vào hoạt động có hệ
thống để mục đích đạt đợc hiệu quả sản xuất cao hơn, tăng thu nhập và đời sống dân c.
Song nền kinh tế thị trờng không phải là một hệ thống đợc tổ chức một cách hoàn hảo,
không có những khuyết tật. Vì vậy, để cho nền kinh tế này hoạt động có hiệu quả ở nớc ta
và để khắc phục, hạn chế những tiêu cực của cơ chế thị trờng cần có sự can thiệp của nhà
nớc vào nền kinh tế thị trờng.
Trên cơ sở bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh, nhà nớc định hớng ngày càng rõ ràng
những chức năng quản lý nhà nớc, quản lý hành chính đối với doanh nghiệp và đòi hỏi các
doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ, chính xác quyền lực của nhà nớc. Đó là con đờng để
xoá bỏ những quy định không rõ ràng, chồng chéo trong trách nhiệm, quyền hạn giữa các
cơ quan nhà nớc với các tổ chức, đoàn thể quần chúng, và sự lãnh đạo tổ chức của Đảng,
nhằm hạn chế tối đa sự sơ hở, dẫn đến tham nhũng lãng phí, vi phạm lợi ích chính đáng
của nhà nớc và bản thân doanh nghiệp. Sự vận động của nền kinh tế thị trờng có sự quản
lý của nhà nớc là tuân theo sự điều khiển song hành, tức là sự tác động cùng một lúc của
hai yếu tố, hai bàn tay: “vô hình” và “hữu hình” “cơ chế thị trờng” và nhà nớc. Trong đó
nhà nớc thực hiện chức năng quản lý của các doanh nghiệp trên hai mặt tổ chức sản xuất
và tổ chức bộ máy quản lý.
Tổ chức sản xuất
Một là: tổ chức sản xuất, lấy các hoạt động sản xuất kinh doanh làm đối tợng, dựa
trên cơ sở phân tích kinh tế - kỹ thuật và lấy hiệu quả kinh doanh phù hợp với chính sách
và pháp luật nhà nớc làm tiêu chuẩn cơ bản. Nhà nớc hớng các doanh nghiệp nên sản xuất
một loại sản phẩm có chất lợng cao đáp ứng nhu cầu trong nớc và có thể đợc đem ra thị
trờng nớc ngoài. Trong quá trình sản xuất không đợc ngừng trệ, các dây chuyền sản xuất
phải nối tiếp nhau, tuần hoàn và liên tục dựa trên cơ sở trang thiết bị vốn có và đầu t mới.
Hai là: tổ chức sản xuất là cơ sở để sử dụng hợp lý mọi tài nguyên, xây dựng và thực
hiện kế hoạch sản xuất- kinh doanh theo phơng hớng, mục tiêu kế hoạch nhà nớc, theo
nhiệm vụ thiết kế của xí nghiệp, kết hợp chuyên môn hoá với kinh doanh tổng hợp, có
hiệu quả và để tổ chức bộ máy quản lý có hiệu lực.

Nh vậy, trong việc sản xuất kinh doanh phải đợc xác định rất rõ ràng, Nhà nớc đóng
vai trò quan trọng trong việc duy trì sản xuất của các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp đợc sản xuất liên tục trong nền kinh tế thị trờng. Đồng thời lao động, cơ sở
vật chất kỹ thuật không bị nhàn rỗi, vốn đợc chu chuyển thờng xuyên.
Tổ chức bộ máy quản lý, tuỳ thuộc vào cơ cấu và tổ chức sản xuất và cơ chế kinh tế
kinh doanh nhằm quản lý có hiệu lực, phục vụ đắc lực cho sản xuất - kinh doanh:
- Phát triển hợp tác hoá, tập trung hoá sản xuất và liên hiệp sản xuất nh khoa học - kỹ
thuật - thiết kế - đầu t sản xuất - tiêu thụ - dịch vụ.
- Phát triển chuyên môn hoá sản xuất và dịch vụ.
- Các cơ quan Nhà nớc gọi đối tợng quản lý và chức năng quản lý vào các vấn đề
chiến lợc và chính sách cơ bản; chuyển từ chỗ trực tiếp điều hành sang tạo môi trờng kinh
tế cho các đơn vị kinh tế hoạt động một cách độc lập, chuyển từ chỗ nặng về áp dụng các
biện pháp hành chính sang việc kết hợp các biện pháp kinh tế với các biện pháp hành
chính, trong đó các biện pháp kinh tế.
- Mở rộng quyền tự chủ và chủ động kinh tế, thực hiện hạch toán kinh tế của các đơn
vị kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trờng trách nhiệm lịch sử của doanh nghiệip hiện hay là nâng
cao hiệu quả kinh doanh và trên cơ sở đó, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
trên thị trờng trong nớc và quốc tế. Nhà nớc khuyến khích thành lập doanh nghiệp và hình
thành tập đoàn kinh doanh “tập đoàn kinh doanh là một tập hợp nhiều doanh nghiệp thành
một tổ chức, có t cách pháp nhân, trong đó có một doanh nghiệp là “công ty mẹ” kiểm soát
một cách trực tiếp hoặc gián tiếp các doanh nghiệip khác”. Nếu nh Nhà nớc khuyến khích t
nhân thành lập doanh nghiệp, còn đối với doanh nghiệp Nhà nớc thì Nhà nớc khuyến
khích: cổ phần hoá doanh nghiệp. Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc là một chủ trơng
lớn của Nhà nớc vì nó là một bộ phận của cơ chế quản lý. Đến năm 1998 trên toàn quốc
chỉ có 18 doanh nghiệp chuyển sang công ty cổ phần. Cổ phần hoá là hình thức tích tụ vốn
một cách nhanh nhất C.Mác đã viết “Nếu nh cứ phải chờ cho đến tích luỹ làmcho một số
nhà t bản riêng lẻ lớn lên tới mức có thể đảm đơng đợc việc xây dựng đờng sắt, thì có lẽ
đến ngày nay (thế kỷ 19) thế giới vẫn cha có đờng sắt. Ngợc lại qua các công ty cổ phần
sự tập trung đã thực hiện đợc việc đó trong nháy mắt”. Trong điều kiện hiện nay với chủ

xuyên xảy ra đối với trang bị kỹ thuật. Bên cạnh một số doanh nghiệp có vị trí quan trọng
trong nền kinh tế nớc nhà và xuất khẩu ra nớc ngoài thì cũng có một số doanh nghiệp do
không đủ vốn và đủ sức cạnh tranh phải ngừng sản xuất hay phải giảm tốc độ sản xuất. Vì
vậy đòi hỏi nhà nớc phải có sự giúp đỡ tạo mọi điều kiện cho các doanh nghiệp có khả
năng phát triển nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nh điều chỉnh giá cả
ổn định ở trên thị trờng đảm bảo lợi ích của ngời kinh doanh, nhất là trong cơ chế thị trờng
nhà nớc phải đổi mới trong cơ chế quản lý bao gồm hai nhiệm vụ.
Song song với quá trình thành các chủ thể sản xuất kinh doanh tự chủ, phải từng bớc
phát triển hệ thống thị trờng về tất cả các yếu tố sản xuất, hình thành thị trờng thông suốt
trong cả nớc và từng bớc gắn với thị trờng thế giới.
Đổi mới quản lý vĩ mô của Nhà nớc, tạo lập khuôn khổ pháp lý cho kinh tế thị trờng,
và quan trọng hơn nữa là Nhà nớc tạo ra và sử dụng có hiệu quả các công cụ phù hợp với
kinh tế thị trờng, đặc biệt là kế hoạch hoá và công cụ tài chính tiền tệ, để bảo đảm cân đối
và điều tiết kinh tế vĩ mô.
Tuy nhiên để hình thành cơ chế thị trờng có sự quản lý Nhà nớc, phải từng bớc tháo
gỡ giải toả cơ chế cũ.
Nhà nớc đã thực hiện những bớc đi có tính quyết định chuyển mạnh sang cơ chế thị
trờng: áp dụng phổ biến cơ chế giá thị trờng, thơng mại hoá t liệu sản xuất, xoá bỏ cơ chế
phân phối theo kế hoạch với giá thấp phần lớn vật t sản xuất đi đôi với bán vật t, hàng hoá
cho nông dân theo giá thoả thuận đã xoá bỏ bức tờng giả tạo về hai thị trờng, thúc đẩy tự
do hoá lu thông, hình thành quan hệ mua bán bình thờng, tự do kinh doanh theo giá cả thị
trờng. Xoá bỏ phần lớn bao cấp qua bù giá, bù lỗ cho các doanh nghiệp nhà nớc, buộc các
doanh nghiệp nhà nớc phải chuyển sang cơ chế tự chủ về tài chính phải đối mặt với thị
trờng, xoá bỏ cơ chế giao nộp sản phẩm, chỉ còn một nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nớc.
Qua đó cho thấy cơ chế thị trờng bớc đầu đã đợc hình thành: giá cả thị trờng hình thành
theo quan hệ cung - cầu với quy luật cạnh tranh, quy luật lu thông tiền tệ đã trực tiếp tác
động và góp phần điều tiết quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, điều tiết các nguồn
lực và điều tiết tiêu dùng. Cơ chế thị trờng đã góp phần quan trọng vào việc huy động mọi
nguồn lực của đất nớc và phát huy tính chủ động sáng tạo của các chru thể kinh doanh
thuộc các thành phần kinh tế, tạo nên sự phát triển năng động nền kinh tế đất nớc.

khuyến khích sản xuất hớng về xuất khẩu, cả đối với đầu t trong nớc và đầu t nớc ngoài,
đồng thời có chính sách bảo hộ sản xuất trong một cách hợp lý.
Nhà nớc khuyến khích các doanh nghiệp ngày càng rút ngắn thời gian chu chuyển sản
xuất, quá trình tuần hoàn sản xuất ngày càng lặp lại nhiều với chu kỳ sản xuất sau có số
lợng lớn hơn và chất lợng lớn hơn lần tuần hoàn đầu tiên, nhất là phải thu về tỷ suất giá trị
thặng d cao mới có thể duy trì sản xuất và đó cũng là tiền đề để cho trang bị kỹ thuật
không bị hao mòn, tiền lơng đợc cải thiện, tạo việc làm ổn định cho công nhân. Sự phát
triển lớn mạnh của các doanh nghiệp góp phần khắc phục tình trạng trì trệ, suy thoái nền
kinh tế.
Thế kỷ 21 đang đến gần nền kinh tế đất nớc đang chuyển mình đi lên con đờng phát
triển ổn định và hiện đại. Sự phát triển của các doanh nghiệp hiện nay là tiền đề để phát
triển mạnh trong tơng lai, hội nhập cùng sự phát triển chung của thế giới khẳng định vị trí
của mình trên thị trờng quốc tế. Muốn đạt đợc những mục tiêu đề ra đòi hỏi phải có sự
định hớng trong quản lý của nhà nớc đối với các doanh nghiệp trên con đờng lên chủ nghĩa
xã hội.
C. PHẦN KẾT LUẬN
Đất nớc ta đang trên con đờng phát triển đi lên và hội nhập với thế giới. Để hoà nhập
cùng sự phát triển chung của thế giới không chỉ phát triển trên lĩnh vực chính trị mà quan
trọng là phát triển nền kinh tế. Với đa số dân số Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp, cho nên vai trò của các doanh nghiệp rất quan trọng trong nền kinh tế nớc ta hiện
nay. Nhng trong thực tế hiện nay quy mô còn rất nhỏ bé, hoạt động sản xuất kinh doanh
cha có hiệu quả cao, đặc biệt là vốn đầu t còn nhỏ bé, vốn và trang bị kỹ thuật nhiều khi bị
nhàn rỗi không đợc đa vào dây chuyền sản xuất, lu thông hàng hoá chậm chạp, cha nắm
bắt đợc thị trờng, hàng sản xuất ra nhiều khi bị ứ đọng không bán đợc hoặc phải bán ra với
giá cả bằng hoặc nhỏ hơn chi phí sản xuất dẫn đến việc tuần hoàn sản xuất không đợc liên
tục. Nhiều doanh nghiệp phải tuyên bố giải thể hoặc tạm ngừng sản xuất, hoặc sáp nhập
vào doanh nghiệp lớn, nền kinh tế đất nớc ngày càng có nguy cơ bị giảm sút. Đứng trớc
tình hình ấy Đảng và Nhà nớc đã đề ra chính sách đổi mới nền kinh tế, chuyển nền kinh tế
bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN. Đây
là bớc ngoặt căn bản đối với nền kinh tế đất nớc nói chung và đối với các doanh nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status