Câu 1: Ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng Cộng Sản VN? Vì sao nói Đảng ra đời gắn liền với công lao to lớn
của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc?
1. Ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng
− Là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp ở VN, là sự sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử.
− Là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lenin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.
− Là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử CMVN:
Từ đây, CMVN được đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản VN, một đảng có đường lối
CM khoa học và sáng tạo - chấm dứt thời kỳ khủng hoảng sâu sắc về giai cấp lãnh đạo và đường lối
đấu tranh của CMVN.
Chứng tỏ rằng, giai cấp công nhân VN đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo CM. Và CMVN trở thành
một bộ phận của CM thế giới.
Là nhân tố quyết định sự phát triển nhảy vọt về sau của CMVN
2. Đảng ra đời gắn với công lao to lớn của lãnh tụ NAQ
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng Sản VN ra đời đánh dấu mốc quan trọng trong tiến trình lịch sử CMVN đồng thời
cũng là kết quả quá trình hoạt động tích cực từ 20 năm trước của một con người ưu tú: NAQ - Hồ Chí Minh.
1. Trong 10 năm đầu của quá trình tìm tòi, đấu tranh (1911 - 1921): NAQ đã tìm ra con đường đúng đắn cho
CMVN: con đường CM vô sản
− 5/6/1911, Người ra đi tìm đường cứu nước.
− 6/1919, Người thay mặt cho những người VN sống tại Pháp đưa tới hội nghị Versailles bản yêu sách 8
điểm đòi chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do, dân chủ, quyền bình đẳng và quyền tự quyết của
dân tộc VN.
− 7/1920, Người đọc luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lenin, Người tin Lenin và Quốc tế
Công sản.
− Tháng 12/1920, tại ĐH của Đảng Xã hội Pháp, Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và
tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, từ đó Người trở thành người cộng sản đầu tiên của VN => đánh
dấu bước ngoặt trong tư tưởng chính trị của NAQ: từ người yêu nước trở thành người cộng sản và tìm
thấy con đường cứu nước đúng đắn - con đường CM vô sản.
2. Giai đoạn 1921 - 1930, NAQ chuẩn bị các điều kiện thành lập Đảng
− Chuẩn bị về chính trị - tư tưởng:
Truyền bá chủ nghĩa Marx - Lenin về nước thông qua sách báo. Người viết bài cho các báo Nhân đạo,
Đời sống công nhân, Sự thật…
2. Nội dung chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược
* Nội dung được thể hiện trong 3 nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành TW Đảng: Hội nghị lần 6 (11/1939),
HN lần 7 (11/1940), HN lần 8 (5/1941). Nội dung chủ trương như sau:
– Đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu bởi: Mâu thuẫn chủ yếu của dân tộc ta lúc này là mâu
thuẫn giữa dân tộc với phát xít Pháp - Nhật. Ban Chấp hành TW quyết định tạm gác khẩu hiệu “Đánh đổ
địa chủ, chia ruộng đất cho cho dân cày” thay bằng khẩu hiệu “Tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt
gian cho dân cày nghèo”. (thực chất là trở về với quan điểm của Cương lĩnh)
– Xây dựng lực lượng CM: thành lập mặt trận Việt Minh thay cho Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế
Đông Dương, nhằm đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng tham gia giải phóng dân tộc. Trực thuộc Mặt trận
Việt Minh là Hội cứu quốc: công nhân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc…
Mặt trận Việt Minh được hình thành với một số đặc điểm: Chỉ hoạt động trong phạm vi dân tộc
VN , có cương lĩnh hành động rõ ràng, có cờ đỏ sao vàng, tổ chức hoạt động một cách chặt chẽ.
– Xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn hiên
tại, bao gồm cả chính trị và quân sự, thành lập các khu căn cứ, chú trọng công tác xây dựng Đảng, đào tạo
cán bộ và đẩy mạnh công tác vận động quần chúng.
– Phương châm hình thái khởi nghĩa ở nước ta: Nắm vững và dự báo được thời cơ CM. chuẩn bị sẵn sàng
lực lượng nhằm lợi dụng cơ hội thuận tiện hơn cả đánh lại quân thù
• Hai dự báo của Bác tại Hội nghị TW 8 (5/1941):
– Đức chắc chắn sẽ tấn công Liên Xô, nhưng Liên Xô nhất định thắng lợi, mang lại cơ hội giải phóng dân
tộc cho các nước trên thế giới.
– CMVN sẽ thắng lợi vào tháng 8 năm 1945.
Hai dự báo này cũng là dự báo của Đảng, nên lồng vào trong nội dung, không để riêng như thế nay
3. Ý nghĩa của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược
– Đường lối giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
– Tập hợp rộng rãi mọi người VN yêu nước vào mặt trận Việt Minh.
– Xây dựng lực lượng quân đội thông qua việc thành lập VN giải phóng quân.
– Đường lối là ngọn cờ dẫn đường cho nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi
Nhật, giành độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân.
Quyết định tháng lợi CMT8
Câu 3: Hoàn cảnh lịch sử và nội dung đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của Đảng
II - Quá trình hình thành và nội dung đường lối
Đường lối kháng chiến của Đảng được hình thành, bổ sung, hoàn chỉnh qua thực tiễn.
1. Giai đoạn 1946 – 1950
– 19/10/1946, Ban Thường vụ TW Đảng mở hội nghị, đưa ra những biện pháp cụ thể về tư tưởng và tổ chức
để quân dân ta sẵn sàng chiến đấu
– 5/11/1946, chỉ thị Công việc khẩn cấp bây giờ của HCM đã nêu lên những vấn đề mang tính chiến lược,
toàn cục của CMVN
– Đêm 19-12-1946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của HCM được truyền đi khắp cả nước
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp
càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!
Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
* Nội dung đường lối thể hiện qua các văn kiện:
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946) của HCM
Chỉ thị Toàn dân kháng chiến (20/12/1946) của TW Đảng
Tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi (9/1947) của Trường Chinh
Nêu rõ mục đích, tính chất, nội dung và phương châm của cuộc kháng chiến:
– Mục đích: đánh bọn phản động Pháp, giành thống nhất và độc lập cho dân tộc
– Tính chất: dân tộc giải phóng và dân chủ mới
– Nội dung: đoàn kết toàn dân, liên hiệp với các nước láng giềng, với nhân dân Pháp và các dân tộc yêu
chuộng hòa bình để đánh Pháp, giành thống nhất và độc lập cho dân tộc
– Phương châm: kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh - dựa vào sức mình là chính
Phần phân tích (tự phân tích theo suy nghĩ và kiến thức của mình):
+ Kháng chiến toàn dân (quan trọng nhất): bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già người trẻ, hễ là
người VN thì phải đứng lên đánh Pháp thực hiện mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi xóm làng là một
pháo đài
+ Kháng chiến toàn diện: đánh địch về mọi mặt: chính trị (xây dựng Đảng, đoàn kết - đại đoàn
kết ), quân sự (vũ trang toàn dân, giải phóng đất đai và nhân dân, vừa đánh vừa đào tạo thêm cán
bộ ), kinh tế (tiêu thổ kháng chiến, xây dựng kinh tế tự cung tự túc ), văn hóa (xóa bỏ văn hóa thực
dân, xây dựng nền văn hóa dân chủ mới ) , ngoại giao (thêm bạn bớt thù, sẵn sàng đàm phán nếu
Pháp công nhận VN độc lập )
Nửa phong kiến
Mâu thuẫn chủ yếu lúc này là mâu thuẫn giữa tính chất dân chủ nhân dân và tính chất thuộc địa
− Đối tượng CM: 2 đối tượng
Đối tượng chính: đế quốc xâm lược (cụ thể là thực dân Pháp + bọn can thiệp Mỹ)
Đối tượng phụ : phong kiến (cụ thể là phong kiến phản động)
− Nhiệm vụ CM:
Thứ 1: giải phóng dân tộc (nhiệm vụ trước mắt)
Thứ 2: xóa bỏ tàn dư phong kiến
Thứ 3: xây dựng tiềm lực cơ sở vật chất để tiến lên CNXH
− Động lực CM: công nhân, nông dân (nền tảng), tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc, địa chủ yêu nước
− Đặc điểm CM: CM dân tộc dân chủ nhân dân
− Triển vọng CM: CMVN nhất định thắng lợi, sẽ đưa VN tiến tới CNXH
− Con đường tiến lên CNXH: 3 giai đoạn, ứng với 3 nhiệm vụ của CM
− Giai cấp lãnh đạo: công nhân; mục tiêu: phát triển chế độ dân chủ nhân dân để tiến lên CNXH
− Chính sách của Đảng: 15 chính sách nhằm phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây mầm mống cho
CNXH và đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi.
− Quan hệ quốc tế: VN đứng về phe hòa bình và dân chủ, thực hiện đoàn kết Việt - Trung - Xô, Việt - Miên
– Lào
Rút gọn lại nội dung của đại hội 2 chứ khoog dàn trải như trên
Kết luận, ýnghia của việc đề ra đường lối
III - Kết quả và ý nghĩa của việc thực hiện đường lối
* Kết quả:
− Chính trị: qua diễn tiến của cuộc kháng chiến chống Pháp, uy tín và ảnh hưởng của Đảng được mở rộng
và không ngừng nâng cao, niềm tin trong nhân dân đối với Đảng được củng cố vững chắc
− Quân sự: từ sau chiến dịch Biên giới, ta đã chủ động mở nhiều chiến dịch lớn như Hòa Bình, Tây Bắc, đặc
biệt là thời kì 1953 - 1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc
kháng chiến chống Pháp
− Ngoại giao: 8/5/1954, Hội đàm Geneva khai mạc; 21/7/1954, Hiệp định Geneva được kí, công nhận độc
lập của VN.
* Ý nghĩa:
− Về lực lượng tham gia CM: quần chúng nhân dân
− Đối tượng của CMVN: đế quốc Mỹ và bọn tay sai
− Nhiệm vụ cơ bản của CMMN: giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
− Nhiệm vụ trước mắt của CMMN: khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân
− Con đường phát triển cơ bản của CMMN: bạo lực CM
− Chủ trương thành lập mặt trận dân tộc thống nhất: mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam VN(20/12/1960)
− Về vai trò lãnh đạo của Đảng: trong điều kiện cụ thể của CNMN, ta vẫn kiên định lập trường, duy trì một
đảng lãnh đạo duy nhất
@ Nội dung nghị quyết ĐH III
* Xây dựng đường lối chung của CM cả nước
− Đẩy mạnh CM XHCN miền Bắc
− Đẩy mạnh CM dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam
− Thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sơ độc lập dân chủ
− Xây dựng một nước VN hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ
* Nhiệm vụ CM ở miền Bắc:
− Thực hiện CM ở miền Bắc là nhằm đưa nước ta tiến lên theo con đường XHCN
− Miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc cho CNMN
* Nhiệm vụ CM ở miền Nam: giải quyết hai mâu thuẫn:
Nhân dân VN (nông dân miền Nam) >< Đế quốc và tay sai
Nông dân >< Địa chủ phong kiến
* Mối liên hệ:
− CM miền Nam: xóa bỏ chế độ cũ
− CM miền Bắc: xây dựng chế độ mới
* Vai trò CM từng miền:
− CM XHCN ở miền Bắc: có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ CMVN, đối với sự
nghiệp thống nhất nước nhà
− CM dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam: có vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng
miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành CM DTDCND
* Triển vọng của CMVN: là cuộc đấu tranh tuy lâu dài, gian khổ, khó khăn nhưng nhất định thắng lợi
Cần phân tích kỹ nghị quyết ĐH 3 (thể hiện tính độc lập, tự chủ của Đảng trong bối cảnh tình hình thế giới và
sống vật chất văn hoá, tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao.
Tác dụng to lớn về kinh tế, xã hội của CNH - HĐH:
• Tạo điều kiện thay đổi về chất nền sản xuất xã hội, tăng năng suất lao động, tăng sức chế ngự của con
người đối với thiên nhiên, tăng trưởng và phát triển kinh tế; ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội,
nâng cao đời sống nhân dân, góp phần quyết định sự thắng lợi của CNXH.
• Tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố, tăng cường vai trò kinh tế của nhà nước, nâng cao năng lực quản
lý, khả năng tích lũy và phát triển sản xuất, tạo ra nhiều việc làm, nâng cao thu nhập, giúp cho sự phát
triển tự do toàn diện của con người trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội.
• Tạo điều kiện thuận lợi cho khoa học công nghệ phát triển nhanh đạt trình độ tiên tiến hiện đại. Tăng
cường lực lượng vật chất - kĩ thuật cho quốc phòng, an ninh, đảm bảo đời sống kinh tế, chính trị, xã hội
của đất nước ngày càng được cải thiện. Tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự
chủ, đủ sức thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế.
Liên hệ thực tế:
Sự nghiệp CNH - HĐH đất nước đã và đang đặt ra cho cả nước nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng rất nhiều
vấn đề cần quan tâm, tìm hiểu và giải quyết. Hiện nay, nguồn nhân lực và cán bộ khoa học toàn tỉnh
(30/9/2008) như sau: số lượng công nhân trên 22.000 người (chiếm 27,73%) tổng số lao động, trên 17.600 người
có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên, tăng 258% so với năm 1997, chiếm 4,09% lực lượng lao động toàn tỉnh;
trong đó, có 418 người có trình độ sau đại học, chiếm tỷ lệ 2,37% tổng số cán bộ có trình độ cao đẳng trở lên. Trên
địa bàn tỉnh có 2 trường đại học, 5 trường cao đẳng, 3 trường trung học chuyên nghiệp và 40 cơ sở dạy nghề đang
hoạt động góp phần tích cực trong công tác đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại địa phương
Mặc dù, có những hạn chế và bất cập, nhưng thời gian vừa qua nguồn lực trí tuệ của tỉnh đã có ý thức vươn lên để
tự khẳng định mình trên công việc được giao, có tinh thần vượt khó và đã có những đóng góp nhất định làm cho
KT - XH phát triển: Ở một số doanh nghiệp, công nhân Quảng Nam đã dần dần đảm nhận các khâu công việc mà
trước đây doanh nghiệp phải thuê công nhân ngoài tỉnh. Những kết quả trên đã góp phần từng bước để Quảng
Nam phát triển và từng bước rút ngắn khoảng cách so với các tỉnh bạn và nhất là hai đầu đất nước. Nhưng để lấp
dần khoảng cách này, trên thực tế không thể không quan tâm tìm kiếm những giải pháp tích cực và hữu hiệu hơn
nữa.
Tốc độ tăng GDP bình quân năm phân theo khu vực kinh tế - % (theo Tổng cục thống kê)
Riêng
KV I KN II KV III
Câu 6: Khái quát quá trình hình thành tư duy kinh tế thị trường của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới (từ ĐH
VI – X)
− Kinh tế thị trường (KTTT) là nền kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động với nhau theo quy
luật cung cầu, quy luật giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường.
− Trước đổi mới, do chưa thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường, chúng ta xem kế hoạch hóa là
đặc trưng quan trọng nhất của kinh tế xã hội chủ nghĩa, phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu;
coi thị trường chỉ là một công cụ thứ yếu bổ sung cho kế hoạch. Không thừa nhận trên thực tế sự tồn tại
của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, lấy kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ yếu, muốn
nhanh chóng xóa sở hữu tư nhân và kinh tế cá thể, tư nhân. Do đó, không cần thiết sử dụng kinh tế thị
trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội; nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng.
− Tuy nhiên, từ ĐH VI – X đã có sự thay đổi căn bản và sâu sắc về KTTT trong nhận thức, tư duy của
Đảng.
KTTT không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu phát triển chung của nhân loại.
KTTT có lịch sử phát triển lâu dài, có mầm mống từ trong xã hội nô lệ, hình thành trong xã hội
phong kiến và phát triển cao trong xã hội tư bản chủ nghĩa, chi phối toàn bộ cuộc sống của con
người trong xã hội đó.
KTTT là kinh tế hàng hóa phát triển cao, đạt tới trình độ là thị trường trở thành yếu tố quyết định
sự tồn tại hay không tồn tại của người sản xuất hàng hóa, mà chủ nghĩa tư bản không sản sinh ra
kinh tế hàng hóa.
KTTT lấy khoa học, công nghệ hiện đại làm cơ sở và nền sản xuất xã hội hóa cao.
KTTT còn tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
KTTT xét dưới góc độ “một kiểu tổ chức kinh tế” là phương thức tổ chức, vận hành nền kinh tế, là
phương tiện điều tiết kinh tế lấy cơ chế thị trường làm cơ sở để phân bổ các nguồn lực kinh tế và
điều tiết mối quan hệ giữa người với người.
KTTT vừa có thể liên hệ với chế độ tư hữu vừa có thể liên hệ với chế độ công hữu và phục vụ cho
chúng.
Có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Đặc điểm của nền KTTT:
Các chủ thể kinh tế có tính độc lập, nghĩa là có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh.
Giá cả cơ bản do cung cầu điều tiết, hệ thống thị trường phát triển đồng bộ và hoàn hảo.
kinh tế. Phát huy tối đa nội lực.
Về định hướng xã hội và phân phối: Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước,
từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế gắn kết chặt chẽ với các lĩnh vực khác của xã hội.
Trong lĩnh vực phân phối, chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, phúc lợi xã hội, theo mức
đóng góp vốn và các nguồn lực khác.
Về quản lý: Phát huy vai trò làm chủ xã hội của nhân dân, đảm bảo vai trò quản lý, điều tiết nền kinh
tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Phần trên các em làm khá đầy đủ
Những thành tựu đạt được: nêu những thành tựu nổi bật chứ không liệt kê các đhội
ĐH VI:
Công cuộc đổi mới được triển khai mạnh mẽ mặc dù tình hình diễn biến phức tạp, có lúc khó khăn tưởng chừng
khó vượt qua:
− Việc thực hiện phát triển sản xuất, thực hiện chính sách khoán trong nông nghiệp, xóa bỏ chế độ bao cấp,
tự do lưu thông và điều hòa cung - cầu lương thực - thực phẩm đã đạt được những thành tựu đáng kể: Tình
hình lương thực - thực phẩm có chuyển biến tốt. Từ chỗ thiếu ăn triền miên, nay chúng ta đã vươn lên đáp
ứng được nhu cầu trong nước, có dự trữ và xuất khẩu. Năm 1988, nạn đói lớn ở nhiều vùng và lạm phát
còn ở mức 393,8%, từ năm 1989 trở đi xuất khẩu mỗi năm 1 - 1,5 triệu tấn gạo, lạm phát giảm dần đến
năm 1990 còn 67,4%.
− Hàng hóa trên thị trường, nhất là hàng tiêu dùng dồi dào, đa dạng và lưu thông tương đối thuận lợi trong
đó nguồn hàng sản xuất trong nước tăng hơn trước; các cơ sở sản xuất gắn chặt với nhu cầu thị trường. Đó
là kết quả của chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và đổi mới nhiều chính sách về sản
xuất và lưu thông hàng hóa.
ĐH VII:
− Quan hệ sản xuất được điều chỉnh phù hợp với nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất.
− Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo
định hướng XHCN tiếp tục được xây dựng.
ĐH VIII:
Kinh tế tăng trưởng khá: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân hằng năm là 7%. Các ngành dịch vụ,
xuất khẩu và nhập khẩu tăng.
ĐH IX:
Sáu là : Văn hóa là 1 mặt trận ; xây dựng và phát triển văn hóa là 1 sự nghiệp cách mạng lâu
dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì,thận trọng.
III. Phân tích quan điểm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội:
1.Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội:
Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống diễn ra
trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại; qua hàng thế kỉ, nó đã cấu thành nên 1 hệ thống
các giá trị,truyền thống và lối sống mà trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình.
Các giá trị nói trên tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội-vì nó được thấm nhuần trong mỗi
con người và trong cả cộng đồng dân tộc; được truyền lại,tiếp nối và phát huy qua các thế hệ người Việt
Nam.
Vì vậy,chúng ta chủ trương là cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để các
giá trị văn hóa trở thành nền tảng tinh thần bền vững của xã hội,trở thành động lực phát triển kinh tế-xã
hội.
Ví dụ: Những nền văn hóa ăn sâu vào tiềm thức con người Việt Nam như truyền thống “tôn sư
trọng đạo”, “uống nước nhớ nguồn”…
2.Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển:
Nguồn lực nội sinh của sự phát triển của 1 dân tộc thấm sâu trong văn hóa.Sự phát triển của
1 dân tộc phải vươn tới cái mới,tiếp nhận cái mới,tạo ra cái mới,nhưng lại không thể tách khỏi cội
nguồn.Phát triển phải dựa trên cội nguồn bằng cách phát huy cội nguồn.cội nguồn đó của mỗi quốc
gia ,dân tộc là văn hóa.
Trong nền kinh tế thị trường,một mặt văn hóa dựa vào tiêu chuẩn của cái đúng,cái tốt,cái đẹp
để hướng dẫn và thúc đẩy người lao động không ngừng phát huy sáng kiến,cải tiến kĩ thuật nâng cao tay
nghề,sản xuất ra hàng hóa với số lượng và chất lượng ngày càng cao đáp ứng nhu cầu của xã hội.Mặt
khác văn hóa sử dụng sức mạnh của các giá trị truyền thống,của đạo lí dân tộc để hạn chế xu hướng
sùng bái lợi ích vật chất,tiền tệ,nghĩa là hạn chế xu hướng hàng hóa và đồng tiền “xuất hiện với tính cách
là lực lượng có khả năng xuyên tạc bản chất con người cũng như những mối lien hệ khác” dẫn tới suy
thoái xã hội.
Trong vấn đề bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững,văn hóa giúp hạn chế lối sống chạy
theo ham muốn quá mức của “xã hội tiêu thụ” ,dẫn tới chỗ làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường
− Về thách thức: Những vấn đề toàn cầu như phân hóa giàu nghèo, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia…
gây tác động bất lợi đối với nước ta. Nền kinh tế phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt trên cả ba cấp độ: sản
phẩm doanh nghiệp và quốc gia; những biến động trên thị trường quốc tế tác động mạnh mẽ đến thị
trường trong nước.
Những cơ hội và thách thức trên có mối quan hệ, tác động qua lại, có thể chuyển hóa lẫn nhau. Tận dụng tốt cơ hội
sẽ tạo thế và lực mới để vượt qua thách thức, tạo ra cơ hội lớn hơn. Ngược lại, nếu không tận dụng tốt cơ hội,
thách thức sẽ tăng lên, lấn át cơ hội, cản trở sự phát triển.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ đối ngoại
− Lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định: thuận lợi cho công cuộc đổi mới, tạo các điều kiện quốc
tế, để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất của Tổ quốc.
− Kết hợp nội lực với các nguồn lực từ bên ngoài tạo thành nguồn lực tổng hợp để đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; phát huy vai trò
và nâng cao vị thế của VN trong quan hệ quốc tế; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân
dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
3. Tư tưởng chỉ đạo: Trong quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế phải quán triệt đầy đủ, sâu sắc các quan
điểm:
− Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính.
− Giữ vững độc lập tự chủ, tự cường đi đôi với đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại.
− Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế.
− Mở rộng quan hệ với mọi quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị xã hội.
− Kết hợp đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân.
− Giữ vững ổn định chính trị, kinh tế - xã hội; giữ vững bản sắc dân tộc; bảo vệ môi trường sinh thái.
− Phát huy tối đa nội lực đi đôi với thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài.
− Trên cơ sở thực hiện các cam kết gia nhập WTO, đẩy nhanh nhịp độ cải cách thể chế, cơ chế, chính sách
kinh tế phù hợp với chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước.
− Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ
quốc và các đoàn thể nhân dân.
II - Các văn kiện của Đảng liên quan đến đối ngoại, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị TW 4 khóa X (tháng 2/2007),
đã đề ra một số chủ trương chính sách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế như:
− Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định, bển vững.
VN đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 nước trong tổng số hơn 200 nước trên thế giới.
Tháng 10/2007, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu VN làm ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo
an nhiệm kỳ 2008 - 2009
− Bốn là, tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế.
Năm 1993, VN khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như: Quỹ Tiền tệ quốc tế
(IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)…
Ngày 11/1/2007, VN được kết nạp làm thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
− Năm là, thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường, tiếp thu khoa học công nghệ và kĩ năng quản lý.
Về mở rộng thị trường: Nước ta đã tạo dựng được quan hệ kinh tế thương mại với trên 180 quốc gia và
vùng lãnh thổ… Năm 1986 kim ngạch xuất khẩu của VN chỉ đạt 789 USD, đến năm 2007 đạt 48 tỷ
USD, năm 2008 đạt khoảng 62,9 tỷ USD.
Năm 2007, thu hút đầu tư nước ngoài của VN đạt 20,3 tỷ USD; năm 2008 đạt khoảng 65 tỷ USD.
Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo cơ hội để nước ta tiếp cận với những thành tựu của cuộc CM khoa học
và công nghệ trên thế giới.
− Sáu là, từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và của cả nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh.
Nhiều doanh nghiệp đã đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao năng suất và chất lượng, không
ngừng vươn lên trong cạnh tranh để tồn tại và phát triển, đội ngũ các nhà doanh nghiệp mới năng động và
sáng tạo.
* Bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn tồn tại nhiều mặt hạn chế:
− Trong quan hệ với các nước, nhất là các nước lớn, chúng ta còn lúng túng, bị động.
− Một số cơ chế chính sách còn chậm đổi mới so với yêu cầu mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế
quốc tế.
− Hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh, không đồng bộ, gây khó khăn trong việc thực hiện các cam kết của
các tổ chức kinh tế quốc tế.
− Chưa hình thành được một kế hoạch tổng thể và dài hạn về hội nhập kinh tế quốc tế.
− Doanh nghiệp nước ta hầu hết là quy mô nhỏ, yếu kém cả về quản lý và công nghệ, trang thiết bị lạc hậu.
− Đội ngũ cán bộ lĩnh vực đối ngoại nhìn chung chưa đáp ứng nhu cầu cả về số lượng và chất lượng.
− Cán bộ doanh nghiệp ít hiểu biết về luật pháp quốc tế, kĩ thuật kinh doanh.
Quá trình thực hiện đường lối đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 1986 đến 2008 mặc dù còn những hạn
chế, nhưng thành tựu là cơ bản, có ý nghĩa rất quan trọng: góp phần đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã