TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
[\[\
TIỂU LUẬN
Đề tài: Tìm hiểu và đa ra giải pháp nhằm hoàn thiện chính
sách lãi suất tín dụng ngân hàng ở Việt Nam.
Tìm hiểu và đa ra giải pháp nhằm hoàn
thiện chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng
ở Việt Nam.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài cần nghiên cứu:
Lãi suất là giá cả sử dụng vốn, gắn liền với hoạt động tín dụng ngân hàng, đồng thời
gắn liền với mọi hoạt động kinh tế có liên quan, mà trực tiếp là ngời gửi tiền và ngời vay
vốn.
Lãi suất cũng là một công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ quốc gia do Ngân
hàng Trung ơng (NHTƯ) điều hành. Nó có tác động rất lớn đối với vịệc tăng hoặc giảm
khối lợng tiền lu thông, thu hẹp hay mở rộng tín dụng, khích lệ hay hạn chế huy động vốn,
kích thích hay cản trở đầu t, tạo thuận lợi hay khó khăn cho hoạt động ngân hàng. Một
chính sách lãi suất đúng đắn sẽ có tác dụng thúc đẩy sản xuất, lu thông hàng hoá, thúc đẩy
tăng trởng kinh tế và ngợc lại khi chính sách lãi suất thiếu chuẩn xác sẽ ảnh hởng nghiêm
trọng đến nền kinh tế. Và vai trò đó của chính sách lãi suất ngày càng trở nên quan trọng
và phức tạp hơn cùng với quá trình đổi mới hoạt động ngân hàng trong điều kiện kinh tế
- Phơng pháp phân tích tổng hợp.
- Tính chất lịch sử.
5. Kết cấu của đề tài
Chơng I. Cơ sở lý luận của chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng và kinh nghiệm
của một số nớc trong việc điều hành chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng.
Chơng II. Đánh giá quá trình sử dụng và điều hành chính sách lãi suất tín dụng ngân
hàng ở Việt Nam trong thời gian qua.
Chơng III. Giải pháp nhằm củng cố và hoàn thiện chính sách lãi suất tín dụng ngân
hàng ở Việt Nam.
En xin gửi lời cám ơn chân thành đến thầy giáo Tiến sĩ Nguyễn Hữu Tài và cô giáo
Cao Thị Ý Nhi đã giứp đỡ em hoàn thành đề án này. Trong quá trình nghiên cức vấn đề
trên, do trình độ và khả năng có hạn nên bài viết này không thể tránh khỏi những sai sót.
Em rất mong nhận đợc sự góp ý của các thầy, các cô để hoàn thành tốt đề án này.
CHƠNG I
Cơ sở lý luận của chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng và kinh
nghiệm của một số nớc trong việc điều hành chính sách lãi suất tín
dụng ngân hàng.
1. Khái niệm lãi suất.
Trong nền kinh tế thị trờng tồn tại rất nhiều phạm trù kinh tế - tài chính trong đó
tín dụng và lãi suất tín dụng là một trong số những phạm trù quan trọng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động vay mợn, quan hệ sử dụng vốn giữa ngời đi vay và
ngời cho vay theo nguyên tắc có hoàn trả. Đối với chủ thể thừa vốn, tín dụng mang đến
cho họ cơ hội không những bảo tồn đợc vốn mà còn tạo thu nhập. Đối với các chủ thể
thiếu vốn, tín dụng giúp cho họ bổ sung vốn để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh hoặc
đời sống. Nh vậy, nhờ có hoạt động tín dụng mà có một bộ phận lớn nguồn vốn trong nền
kinh tế đợc huy động, tập trung và phân phối từ nơi tạm thời d thừa sang nơi thiếu để đáp
ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong nền kinh tế.
Công cụ và là đòn bẩy quan trọng không thể thiếu đợc trong hoạt động tín dụng
chính là lãi suất. Lãi suất tín dụng ngân hàng là tỷ lệ % giữa lợi tức và tổng số tiền vay
trong một thời kỳ nhất định. Nh vậy, lãi suất chính là giá cả sử dụng tiền vốn, gắn liền với
đợc khấu trừ ngay khi ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng. Lãi suất tái chiết khấu áp
dụng khi ngân hàng tái cấp vốn cho các ngân hàng dới hình thức chiết khấu lại thơng
phiếu hoặc các giấy tờ có giá ngắn hạn cha đến hạn thanh toán của ngân hàng. Nó cũng
đợc tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá của các giấy tờ có giá và cũng đợc khấu trừ ngay khi
NHTƯ cấp tiền vay cho ngân hàng thơng mại (NHTM ). Lãi suất liên ngân hàng là lãi
suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trên thị trờng liên ngân hàng, nó đợc
hình thành bởi quan hệ cung cầu tiền của các tổ chức tín dụng và chịu sự chi phối của lãi
suất tái cấp vốn của NHTƯ. Lãi suất cơ bản là lãi suất đợc các NHTM sử dụng làm cơ sở
để ấn định mức lãi suất kinh doanh của mình.
Một vấn đề quan trọng trong việc tìm hiểu khái niệm lãi suất tín dụng ngân hàng đó
là phải phân biệt đợc lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa.
Lãi suất danh nghĩa là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào thời điểm
nghiên cứu hay nói cách khác là lãi suất cha trừ đi tỷ lệ lạm phát. Lãi suất danh nghĩa
thờng đợc công bố chính thức trong các quan hệ tín dụng, trên các phơng tiên thông tin đại
chúng.
Lãi suất thực tế là lãi suất đợc điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi dự tính
về lạm phát.
Mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế đợc khái quát thành phơng
trình sau đây:
Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực tế + Tỷ lệ lạm phát.
hay
Lãi suất thực tế = Lãi suất danh nghĩa - Tỷ lệ lạm phát.
Vì đợc điều chỉnh lại theo đúng những thay đổi về lạm phát nên lãi suất thực tế phản
ánh chính xác hơn thu nhập từ việc cho vay cũng nh chi phí thật của việc cho vay.
2. Các nhân tố ảnh hởng tới lãi suất:
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nớc đóng vai trò trung tâm trong hầu
hết tất cả các hoạt động kinh tế xã hội trong đó có thị trờng tài chính. Vì lẽ đó, lãi suất
trong các nớc đó đều do Nhà nớc qui định, thậm chí một số nớc còn quy định đến cả mức
chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay của các ngân hàng. Sự biến động của
lãi suất trong các điều kiện nh vậy phần lớn phụ thuộc vào ý chí của chính phủ và không
Bội chi ngân sách ở trung ơng và địa phơng trực tiếp làm cho cầu tiền tăng và làm
tăng lãi suất. Sau nữa, bội chi ngân sách sẽ tác động đến tâm lý công chúng về gia tăng
mức lạm phát và sẽ gây áp lực tăng lạm phát. Thông thờng, Chính phủ thờng tài trợ cho
thâm hụt ngân sách bằng cách phát hành trái phiếu. Lợng cung trái phiếu trên thị trờng
tăng lên làm cho giá trái phiếu có xu hớng giảm và lãi suất thị trờng có xu hớng tăng. Mặt
khác, do tài sản có của NHTM tăng ở khoản mục trái phiếu chính phủ, dự trữ vợt mức
giảm nên lãi suất ngân hàng cũng sẽ tăng.
Những thay đổi trong thuế:
Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp luôn có tác động đến lãi suất.
Khi các hình thức thuế này tăng sẽ điều tiết đi một phần thu nhập của các cá nhân và tổ
chức cung cấp dịch vụ tín dụng hay những ngời tham gia kinh doanh chứng khoán. Mọi
ngời đều quan tâm đến thu nhập thực tế hơn là thu nhập danh nghĩa. Do vậy, để duy trì
một mức lợi nhuận thực tế nhất định, họ phải cộng thêm vào lãi suất cho vay những thay
đổi của thuế.
Ảnh hởng của tỷ giá hối đoái kỳ vọng:
Khi đồng nội tệ yếu, bị những sức ép lớn do những dao động của các đồng ngoại tệ
mạnh thì tâm lý phổ biến của ngời dân là coi ngoại tệ mạnh nh một trong những loại tài
sản tiết kiệm an toàn. Chẳng hạn, khi hiện tợng đô la hoá xảy ra, ngời dân sẽ ồ ạt chuyển
sang tiết kiệm bằng ngoại tệ cụ thể là đô la Mỹ. Làm nh vậy ngời gửi hởng lợi kép gồm lãi
suất tiền gửi và sự lên giá của đồng đô la Mỹ. Sự chuyển dịch này tạo ra sự khan hiếm nội
tệ ở các NHTM và buộc các ngân hàng này phải tăng lãi suất tiền gửi đồng nội tệ để huy
động cho vay nền kinh tế. Nh vậy, khi xây dựng chính sách lãi suất cần phải xem xét đến
khía cạnh tỷ giá để giảm bớt mức chênh lệch giữa lợi tức lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ
hay lãi suất cho vay nội tệ và ngoại tệ. Điều này giúp giảm bớt sự dịch chuyển không
mong đợi từ tiền gửi nội tệ sang đô la khi đồng đô la lên giá.
Những thay đổi trong đời sống xã hội:
Ngoài những yếu tố trên, sự thay đổi của lãi suất còn chịu ảnh hởng của các yếu tố
thuộc về đời sống xã hội khác nh tình hình về kinh tế, chính trị cũng nh những biến động
tài chính quốc tế nh các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trên thế giới, các luồng vốn đầu
t ra vào đối với các nớc
kinh tế xã hội, hệ thống ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng bất ổn, rối loạn.
4. Chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng.
Lãi suất là công cụ có ý nghĩa khi thực hiện chính sách tiền tệ, NHTƯ sẽ căn cứ vào
thực trạng của nền kinh tế để quy định một số chỉ tiêu lãi suất áp dụng trong toàn hệ thống
ngân hàng. Thông thờng, ngời ta thờng quy định hai chỉ tiêu cơ bản là lãi suất tái chiết
khấu và lãi suất cơ bản.
a. Lãi suất cơ bản.
Lãi suất cơ bản là lãi suất có tác dụng chi phối tất cả các loại lãi suất khác hình
thành trong nền kinh tế thị trờng. Đó là loại lãi suất chiếm vị trí quan trọng trong cơ chế
thị trờng.
Lãi suất cơ bản do NHTƯ xác định và công bố trên cơ sở tình hình thực tế của thị
trờng và mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia.
Lãi suất cơ bản có một số chức năng nhất định. Nó là công cụ để điều hành chính
sách tiền tệ quốc gia. Qua lãi suất cơ bản, NHTƯ tác động vào thị trờng tiền tệ, thúc đẩy,
mở rộng hay thu hẹp tín dụng, giữ mức tơng quan cần thiết giữa tổng cung và tổng cầu
tiền tệ. Mặt khác, lãi suất cơ bản là giá cả sử dụng vốn trong hoạt động tín dụng, là cở sở
hình thành lãi suất thị trờng, tức là lãi suất kinh doanh tiền tệ. Nó là điểm dung hoà một
cách tự nhiên lợi ích của ngời gửi tiền, của ngời vay tiền và của TCTD.
Lãi suất cơ bản đợc xác định một cách trực tiếp dới nhiều góc độ. Nếu đứng trên
giác độ bảo vệ lợi ích của khách hàng ( ngời gửi tiền và ngời vay vốn) ngời ta quy định lãi
suất tiền gửi tối thiểu và lãi suất cho vay tối đa. Điều này có nghĩa là, vì lợi ích của ngời
gửi tiền, các TCTD không đợc hạ lãi suất một cách tuỳ tiện và vì yêu cầu phát triển sản
xuất, các tổ chức tín dụng không đợc tăng lãi suất cho vay quá mức. Nếu đứng trên giác độ
bảo vệ lợi ích của các TCTD, tạo khuôn khổ cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo an toàn hệ
thống các TCTD, ngời ta quy định lãi suất cơ bản theo chiều hớng ngợc lại đó là quy định
lãi suất tiền gửi tối đa và lãi suất cho vay tối thiểu. Điều này làm cho các TCTD không đợc
vì muốn tạo lợi thế trong cạnh tranh mà nâng lãi suất huy động quá cao hoặc cho vay theo
lãi suất quá thấp, gây thiệt hại chung cho toàn hệ thống các TCTD.
Khi xác định lãi suất cơ bản phải tính đến tổng thể quan hệ cung cầu vốn thông qua
một loạt các yếu tố trong hoạt động kinh doanh tiền tệ thông thờng. Đó là tỷ suất lợi nhuận
hành lãi suất một cách gián tiếp, mang nặng yếu tố kinh tế. Đó là lãi suất tái chiết khấu của
NHTƯ. Lãi suất chiết khấu có tác động và có ý nghĩa hớng dẫn lãi suất thị trờng một cách
gián tiếp, tức là tác động đến lãi suất kinh doanh của các TCTD.
Lãi suất chiết khấu chủ yếu ảnh hởng đến cung ứng tiền tệ bằng cách ảnh hởng đến
khối lợng cho vay chiết khấu và cơ số tiền tệ. Một sự tăng lên trong cho vay chiết khấu sẽ
làm tăng cơ số tiền tệ và tăng cung ứng tiền tệ. Còn một sự giảm xuống trong cho vay
chiết khấu sẽ làm giảm bớt cơ số tiền tệ và thu hẹp cung ứng tiền tệ.
Ngoài việc sử dụng làm công cụ để tác động đến cơ số tiền tệ và cung ứng tiền tệ,
lãi suất chiết khấu còn đợc sử dụng để giúp cho việc tránh khỏi những cơn sụp đổ tài chính
vì ngân hàng đóng vai trò là ngời cho vay cuối cùng. NHTƯ đóng vai trò là ngời cho vay
cuối cùng không chỉ cho các NHTM mà còn cho cả hệ thống tài chính nói chung. NHTƯ
cung cấp dự trữ cho hệ thống ngân hàng khi các ngân hàng bị đe doạ phá sản, do đó ngăn
chặn xảy ra những cơn sụp đổ ngân hàng và tài chính.
Lãi suất chiết khấu có hai tác dụng: tác dụng về lợng đối với khối lợng tiền tệ trong
lu thông và tác dụng về giá đối với cơ cấu lãi suất trong nền kinh tế.
Tác dụng về lợng: Việc phân tích quá trình tạo tiền đã cho thấy các NHTM sau khi
tạo ra tiền ghi sổ còn phải tiền trung ơng để đảm bảo. Nhu cầu này khiến họ phải đi vay ở
NHTƯ bằng cách tái chiết khấu một phần chứng từ có giá của mình. Việc tái cấp vốn của
NHTƯ cho các NHTM có tác dụng về lợng đối với khối lợng tiền tệ vì nó dẫn đến việc
phát hành tiền của NHTƯ cho các NHTM để họ có thể chi trả cho việc rút vốn khỏi các
NHTM.
Tác dụng về giá: NHTƯ tái chiết khấu các chứng từ do NHTM xuất trình với điều
kiện NHTM phải trả một tỷ suất nhất định do NHTƯ đơn phơng quy định. Lãi suất này
gọi là tỷ suất chiết khấu hay lãi suất chiết khấu. Các loại lãi suất cho vay t nhân tức là lãi
suất tín dụng cấp cho nền kinh tế và lãi suất cho vay Nhà nớc đều gắn chặt với lãi suất tái
chiết khấu.
Mỗi khi tỷ suất chiết khấu thay đổi đều có xu hớng làm tăng hay giảm chi phí cho
vay của NHTƯ đối với các NHTM và do đó khuyến khích hoặc cản trở nhu cầu xin vay.
Mặt khác, khi kho bạc muốn bán tín phiếu kho bạc cho lĩnh vực ngân hàng thì họ
phải chào một lãi suất tơng đơng với tỷ suất chiết khấu. Nói cách khác, khi ấn định tỷ suất
Về lý thuyết, ngời ta cho rằng Pháp xác định lãi suất cơ bản do cung cầu tín dụng
quy định. Trong 12 ngân hàng lớn, mỗi ngân hàng có quan hệ giữa nguồn vốn và cung cầu
vốn tín dụng riêng, từ đó xác lập nên cung cầu vốn riêng của mình. Nếu cung < cầu thì
ngân hàng đó phải đi vay ở thị trờng liên ngân hàng và phản ánh bên cầu của thị trờng liên
ngân hàng. Nếu cung > cầu, ngân hàng đó sẽ là ngời cung ứng vốn cho thị trờng liên ngân
hàng và phản ánh bên cung của thị trờng liên ngân hàng. Sự gặp gỡ cung cầu của eác ngân
hàng lớn phản ánh cung cầu tín dụng của nền kinh tế. Nếu cung > cầu, lãi suất hạ xuống,
nếu cung < cầu, lãi suất tăng lên. NHTƯ với vai trò là ngời cho vay cuối cùng trên thị
trờng liên ngân hàng có thể không muốn lãi suất tăng lên sẽ cho vay một phần hoặc toàn
bộ số cung < cầu. Có thể nói đây là một công cụ hữu hiệu để NHTƯ tác động vào lãi suất
trên thị trờng. Nhng trong thực tế, lãi suất chỉ đạo đã biến động rất mạnh chứng tỏ vai trò
quyết định hành chính của NHTƯ.
Lãi suất chiết chiết khấu của NHTƯ Pháp hoàn toàn không phụ thuộc vào lãi suất
cơ bản mà phụ thuộc vào lãi suất trên thị trờng tiền tệ.
5.3. Kinh nghiệm của Hồng Kông.
Hồng Kông có một nền kinh tế thị trờng tự do - Phơng Đông, do vậy mà lãi suất trên
thị trờng cũng là thả nổi. Hồng Kông không có các quan chức tiền tệ Trung ơng. Viên toàn
quyền và Hội đồng lập pháp chịu trách nhiệm công việc tài chính và tiền tệ.
Hồng Kông không có chính sách tiền tệ và chính sách lãi suất độc lập trong dài hạn.
Hiệp hội ngân hàng Hồng Kông đặt ra lãi suất tiền gửi tối đa để các ngân hàng căn cứ vào
đó mà tự do định lãi suất cụ thể.
5.4 Kinh nghiệm của Malaysia.
Từ những năm 70, Malaysia đã có nhiều đổi mới trong điều hành chính sách lãi suất
theo hớng tự do hoá. Tuy nhiên, không phải tự do hoá lúc nào cũng là giải pháp tối u.
NHTƯ Malaysia đã liên tục điều chỉnh lãi suất, phục vụ linh hoạt việc thực hiện mục tiêu
của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Từ năm 1981, Malaysia cho phép các NHTM tự
tính mức lãi suất cơ bản cho ngân hàng mình dựa trên cơ sở chi phí thực tế. Nhng ngay sau
đó, NHTƯ nhận thấy trong điều kiện thị trờng tiền tệ cha thực sự phát triển, việc cho phép
các NHTM tự xác định mức lãi suất cơ bản nh vậy theo nguyên tắc tự do hoá lãi suất sẽ
dẫn đến cạnh tranh quá mức về lãi suất giữa các ngân hàng và khi đó vấn đề an toàn trong
hàng tháng 10/1990, ngành ngân hàng nớc ta đã trải qua hơn 10 năm đổi mới, trong thời
gian đó cũng là hơn 10 năm không ngừng đổi mới chính sách lãi suất theo hớng từng bớc
tiến dần đến một chính sách lãi suất thị trờng khi điều kiện kinh tế và tiền tệ cho phép.
Chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng ở Việt Nam trong hơn 10 năm qua đã trải qua các
giai đoạn nh sau:
1. Giai đoạn lãi suất âm từ 1988 đến 1992
.
Đây là thời kỳ Việt Nam đang trong giai đoạn khủng hoảng, lạm phát ở mức cao, lãi
suất luôn trong tình trạng âm. NHNN quy định cụ thể lãi suất tiền gửi và cho vay. Lãi suất
âm có đặc điểm là lãi suất tiền gửi thấp hơn lạm phát và lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất
huy động vốn và thấp hơn lạm phát.
Lãi suất âm trong giai đoạn đó gây ra rất nhiều tiêu cực đối với nền kinh tế. Do lãi
suất thực của tiền gửi là số âm nên không khuyến khích dân c gửi tiền vào ngân hàng để
thực hiện việc tập trung vốn cho đầu t phát triển, gây áp lực đối với giá cả hàng hoá, do đó
làm cho mức lạm phát ngày càng tăng. Nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng lên không thực
chất, tạo lợi nhuận giả cho doanh nghiệp. Ngân hàng bao cấp qua lãi suất cho khách hàng,
tạo lỗ không đáng có cho ngân hàng và ngân hàng không thể kinh doanh tiền tệ bình thờng
theo cơ chế thị trờng.
2. Từ tháng 10/1992 chuyển từ lãi suất âm sang lãi suất dơng.
Trớc tình hình trên, NHNN đã chủ động sử dụng công cụ lãi suất, chuyển từ lãi suất
âm sang lãi suất dơng, tức là lãi suất tiền gửi cao hơn lạm phát để ngời gửi tiền có lãi thực,
vừa bảo toàn đợc giá trị tiền gửi, vừa có lãi và lãi suất tiền vay cao hơn lãi suất tiền gửi
đảm bảo cho ngân hàng bù đắp đợc chi phí và có lãi.
Trong giai đoạn này, NHNN công bố các mức lãi suất tiền gửi và cho vay bằng các
quyết định hành chính để các NHTM thực hiện.
Chính sách lãi suất dơng đánh dấu một bớc ngoặt quan trọng trong quá trình chuyển
hoạt động ngân hàng sang cơ chế thị trờng, bảo đảm lợi ích thực sự của ba bên: ngời gửi
tiền, ngời vay tiền và ngân hàng, xoá bỏ bao cấp trong hoạt động tín dụng. Chính sách lãi
suất phù hợp trên đã góp phần thu hút và tập trung đợc một khối lợng tiền lớn trong lu
thông, tăng nguồn vốn tín dụng đầu t cho phát triển, giảm áp lực đối với lạm phát.
3. Chuyển từ lãi suất thoả thuận sang trần lãi suất.
Vào đầu năm 1996, khi lạm phát đã ổn định, NHNN điều hành chính sách lãi suất
tín dụng theo trần lãi suất (lãi suất cho vay tối đa) và quy định về chênh lệch bình quân
giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động ở mức 0,35%/tháng. Điểm cơ bản của chính
sách lãi suất trong giai đoạn này xuất phát từ đặc điểm có nhiều loại hình tổ chức tín dụng
hoạt động trên các địa bàn khác nhau, quy mô khác nhau và do đó chi phí hoạt động khác
nhau, nên NHNN đã quy định nhiều trần lãi suất cho vay khác nhau phù hợp với đặc điểm
từng loại vay, từng loại hình TCTD và các vùng khác nhau, gồm 4 trần lãi suất: Trần lãi
suất cho vay ngắn hạn; trần lãi suất cho vay trung và dài hạn; trần lãi suất áp dụng cho các
TCTD cho vay trên địa bàn nông thôn; trần lãi suất cho vay của quỹ tín dụng nhân dân,
hợp tác xã tín dụng đối với các thành viên.
Trong đó, trần lãi suất cho vay ngắn hạn là thấp nhất và áp dụng cho khu vực thành
thị. Trần lãi suất cho vay trung và dài hạn cao hơn ngắn hạn một ít phù hợp với thông lệ
quốc tế và tính chất cho vay thời hạn dài rủi ro hơn thời hạn ngắn. Trần lãi suất cho vay
khu vực nông thôn cao hơn trần lãi suất cho vay ngắn hạn và trung dài hạn một ít và áp
dụng chung cho cả hai loại cho vay này và sự chênh lệch này dần dần đợc rút ngắn qua các
lần điều chỉnh trần lãi suất. Trần lãi suất cho vay của các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đối
với các thành viên là trần lãi suất cho vay cao nhất so với các trần lãi suất ở trên (quỹ tín
dụng nhân dân cơ sở là loại hình tổ chức tín dụng có quy mô rất nhỏ bé, đang trong quá
trình thí điểm và chỉ đợc huy động và cho vay vốn trong nội bộ các thành viên) nhng
khoảng cách chênh lệch so với các trần khác cũng dần dần đợc rút ngắn qua các lần điều
chỉnh trần lãi suất.
Một thực tế khách quan của cơ chế thị trờng cho thấy nơi có chi phí cao, cho vay
món nhỏ, chi phí lớn, rủi ro cao, thiếu vốn là khu vực nông thôn, một khu vực luôn có nhu
cầu vốn lớn nhng huy động tại chỗ đợc rất ít và chi phí hoạt động ngân hàng ở nông thôn
cao, nên NHNN quy định trần lãi suất cho vay nông thôn cao hơn thành thị nhằm thu hút
vốn về nông thôn, điều hoà vốn từ thành thị về nông thôn cho vay bằng công cụ lãi suất và
bảo đảm cho các NHTM ở nông thôn bù đắp đợc chi phí. Nhng có nhiều quan điểm cho
rằng lãi suất cho vay nông thôn phải thấp hơn hoặc bằng thành thị mới u đãi nông nghiệp,
mới khuyến khích đợc nông nghiệp phát triển. Cho nên với Quyết Định số
quy định chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn là 0,35%/tháng trong thời kỳ
đầu đã tạo nên sự gò bó, cứng nhắc và triệt tiêu tính cạnh tranh tự chủ trong kinh doanh
của các TCTD. Chính sách lãi suất này đã hạn chế chiến lợc khách hàng của các TCTD,
nhất là khách hàng có rủi ro lớn vẫn đợc áp dụng lãi suất nh các khách hàng có độ rủi ro ít
hơn hoặc không có rủi ro. Trong điều kiện lạm phát ra tăng, tỷ giá USD thay đổi, các
NHTM thờng xuyên phải điều chỉnh tăng lãi suất huy động để giữ nguồn vốn ổn định thì
chênh lệch giữa lãi suất đầu ra và lãi suất đầu vào ngày càng thu hẹp, ảnh hởng đến kết
quả kinh doanh của TCTD.
Một bộ phận quan trọng của chính sách lãi suất trong việc điều hành chính sách tiền
tệ của NHNN là lãi suất NHNN tái cấp vốn cho NHTM. Từ tháng 10 năm 1994 đến tháng
6 năm 1997, NHNN áp dụng lãi suất tái cấp vốn bằng 100% lãi suất trên hợp đồng tín
dụng các NHTM cho khách hàng vay. Từ tháng 6 năm 1997 đến tháng 1 năm 1998 áp
dụng lãi suất 10,8% năm và từ tháng 1 năm 1998 đến nay là 13,2% - năm. Nếu so sánh sự
biến động về lãi suất trên thị trờng thì lãi suất tái cấp vốn của NHNN khá ổn định với mục
đích kìm chế lạm phát ở mức thấp. Nhng lạm phát đợc kìm chế hay bùng nổ không chỉ phụ
thuộc vào yếu tố lãi suất mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa, trong đó thâm hụt
Ngân sách và tăng trởng GDP thấp là yếu tố không thể xem nhẹ.
Song câu hỏi đợc đặt ra là lãi suất ở Việt Nam phải chăng đã thực sự linh hoạt, mềm
dẻo và biến động phù hợp với nền kinh tế. Trên thực tế, lãi suất ở Việt Nam vẫn chỉ là lãi
suất ngân hàng do NHTƯ quy định và áp dụng cho toàn bộ hệ thống ngân hàng. Chúng ta
vẫn cha có lãi suất thị trờng, cha cho phép lãi suất đợc xác định trên cơ sở thị trờng. Về
vấn đề này, xét trên góc độ nền kinh tế Việt Nam mới đang ở giai đoạn đầu tiên bớc sang
cơ chế thị trờng, có thể khẳng định rằng cha thể cho phép tự do hoá lãi suất, tức là xác
định lãi suất theo các lực lợng thị trờng, nhng trên một giác độ khác, muốn phát triển nền
kinh tế thị trờng, hoàn thiện và phát triển thị trờng tài chính nói chung và thị trờng chứng
khoán nói riêng ở Việt Nam đòi hỏi chúng ta phái từng bớc thực hiện tự do hoá lãi suất.
5. Một số nhận thức về lãi suất theo tinh thần luật NHNN và sự điều chỉnh
cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam.
Sau nhiều năm đổi mới hoạt động và liên tục đổi mới cơ chế điều hành lãi suất, đã
đến lúc xuất hiện các điều kiện cần và đủ để NHNN và các TCTD chuyển sang giai đoạn
Khi xác định lãi suất cơ bản phải dựa vào các yếu tố nh tăng trởng kinh tế dự kiến
hàng năm, chỉ số lạm phát dự kiến trong năm, lãi suất thực dơng của ngời gửi tiền để
khuyến khích ngời gửi tiền vào ngân hàng, yêu cầu của việc điều hành chính sách tiền tệ
trong từng thời kỳ, tình hình cung cầu vốn tín dụng trên thị trờng, mối quan hệ giữa lãi
suất với tỷ giá ngoại tệ, giữa lãi suất nội tệ và lãi suất ngoại tệ, lãi suất thị trờng đấu thầu
thị trờng trái phiếu Kho bạc Nhà nớc trong những phiên đấu thầu gần nhất
Trên cơ sở đó, ngày 02/02/2000, Thống đốc NHNN đã ban hành các Quyết dịnh về
việc thay đổi cơ chế điều hành lãi suất có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/08/2000: Quyết
dịnh số 241/ 2000/QĐ - NHNN1 về việc thay đổi cơ chế điều hành lãi suất cho vay của
các TCTD đối với khách hàng; Quyết định số 242/2000/QĐ - NHNN1 công bố lãi suất cơ
bản làm cơ sở cho các TCTD ấn định lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách
hàng; Quyết định số 243/2000/QĐ - NHNN1 công bố biên độ lãi suất đôla Mỹ làm cơ sở
cho các TCTD ấn định lãi suất cho vay bằng đôla suất Mỹ đối với khách hàng; Quyết định
số 244/2000/QĐ - NHNN1 về việc cung cấp thông tin tham khảo về lãi suất của các
NHTM cho NHNN.
Cơ chế mới về điều hành lãi suất của NHNN ra đời nhằm quán triệt chủ trơng đổi
mới hoạt động ngân hàng của Đảng, Nhà nớc và Quốc hội đề ra và đợc thể hiện trong
Nghị quyết Trung ơng lần thú 4, khoá VIII, Thông báo số 144/TB-TƯ ngày 03/03/1998
của Bộ chính trị: " Xây dựng và thực hiện cơ chế mới phù hợp hơn về tỷ giá và lãi suất,
với bớc đi thích hợp, không để xảy ra biến động xấu về kinh tế, xã hội Cụ thể là thực
hiện lãi suất thực dơng, linh hoạt, phản ánh đúng cung cầu vốn trên thị trờng, từng bớc áp
dụng lãi suất cơ bản thay dần cho việc ấn định trần lãi suất." và quán triệt theo t tởng của
Luật NHNN Việt Nam.
T tởng của cơ chế điều hành lãi suất cơ bản là từng bớc tự do hoá lãi suất nhng vẫn
đảm bảo đợc sự kiểm soát của Nhà nớc đối với thị trờng, phù hợp với mục tiêu kinh tế vĩ
mô, với điều kiện thực tế của thị trờng, hạn chế tối đa rủi ro và tác động xấu của biến
động thị trờng tiền tệ thế giới, phù hợp với mức độ hội nhập thị trờng tài chính khu vực và
quốc tế, làm cho lãi suất trong nớc bám sát với lãi suất trên thị trờng quốc tế.
ã Đối với lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam:
NHNN bỏ việc quy định trần lãi suất cho vay của TCTD đối với khách hàng,
Nh vậy là trong hơn 10 năm đổi mới, chính sách lãi suất tín dụng của ngân hàng đã
đợc điều hành theo hớng tích cực, phù hợp với điều kiện của nền kinh tế nớc ta. Chính
sách lãi suất của nớc ta đã từng bớc đợc nới lỏng theo hớng tự do hoá, phù hợp với điều
kiện kinh tế - xã hội trong nớc, mức độ hội nhập kinh tế của nền kinh tế nớc ta. Cơ chế
điều hành lãi suất ngày càng trở nên linh hoạt hơn, bám sát cung - cầu vốn thị trờng, quyền
chủ động ấn định lãi suất kinh doanh của các TCTD ngày càng đợc mở rộng, nên làm tăng
khả năng cạnh tranh nhng vẫn đảm bảo đợc sự kiểm soát lãi suất trên thị trờng tiền tệ, góp
phần phát triển thị trờng tài chính trong nớc, thúc đẩy tăng trởng kinh tế, ổn định giá trị đối
nội và đối ngoại của đồng Việt Nam. Để thúc đẩy tăng trởng kinh tế và hội nhập quốc tế,
NHNN phải tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất, từng bớc thực hiện
các chủ trơng, đờng lối của Đảng và Nhà nớc.
1. Định hớng.
Để thúc đẩy phát triển nền kinh tế, từng bớc hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, chúng
ta phải xây dựng đợc một chính sách lãi suất phù hợp với điều kiện của nền kinh tế nớc ta
và chính sách lãi suất đó phải đảm bảo những mục tiêu cơ bản sau:
Chính sách lãi suất là một bộ phận cấu thành của chính sách tiền tệ quốc gia vì thế
trớc hết nó phải hớng tới mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia. Đó là ổn định tiền tệ,
kiềm chế lạm phát và kích thích tăng trởng kinh tế.
Chính sách lãi suất phải phù hợp với đặc điểm thị trờng tín dụng của nớc ta. Nớc ta
thực hiện đổi mới xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Vì vậy, thị trờng tín dụng
vẫn bao hàm cả thị trờng cho vay nặng lãi đặc biệt là ở vùng nông thôn rộng lớn. Tỷ lệ
ngời gửi tiền ngân hàng ở nớc ta chiếm một tỷ lệ thấp trong dân số. Đặc biệt, ở nông thôn
miền Nam, ngời dân chỉ có thói quen mua vàng cất trữ. Miền Bắc đã có phong trào gửi tiết
kiệm khá cao ở nông thôn hồi kháng chiến chống Mỹ với các hợp tác xã tín dụng. Nhng
phong trào này đã tan vỡ vì lãi suất âm trong thời kỳ lạm phát phi mã và cha hồi phục.
Tình hình này tạo ra đặc điểm: thị trờng tín dụng ở nớc ta không đồng nhất và tự nhiên tồn
tại những lãi suất khác biệt khá xa ở các vùng khác nhau, do cung cầu tín dụng khác nhau.
Nó đã dấn đến tình trạng có lúc lãi suất tiền gửi của một vài ngân hàng ở thành phố cao
hơn lãi suất cho vay của các ngân hàng khác gây ra tình trạng phải đồng loạt nâng lãi suất
để tránh bị hút mất tiền gửi. Nớc ta mới có từng mảnh thị trờng tài chính và tiền tệ nh thị
phải tạo điều kiện để giảm chi phí hoạt động tín dụng, đảm bảo có sự chênh lệch lãi suất
đủ để duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh của các TCTD, tức là sau khi bù đắp các
chi phí hoạt động, các TCTD phải thu đợc một lợi nhuận hợp lý.
Lãi suất tín dụng ngân hàng vừa phải kích thích đợc sản xuất trong nớc, vừa phải
khuyến khích phát triển kinh tế đối ngoại, tức là lãi suất trong nớc cần phải theo sát lãi
suất thị trờng quốc tế để phù hợp với mức độ hội nhập thị trờng tài chính khu vực và quốc
tế., làm cho mối quan hệ giữa lãi suất VND - tỷ giá - lãi suất ngoại tệ linh hoạt hơn, phản
ánh chính xác hơn quan hệ cung - cầu về vốn và ngoại tệ, điều chỉnh quan hệ tín dụng
quốc tế một cách có hiệu quả.
Chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng ở nớc ta phải đáp ứng yêu cầu từng bớc tự
do hoá nhng vẫn đảm bảo đợc sự kiểm soát của Nhà nớc đối với thị trờng.Trong những
năm qua, chúng ta đã thực hiện chính sách kiểm soát trực tiếp lãi suất. Chính sách này có
một số điểm thuận lợi nh dễ thực hiện, phù hợp với một nớc có thị trờng tài chính sơ khai
và mức độ cạnh tranh kém, cha có đầy đủ các công cụ kiểm soát lãi suất gián tiếp và hạn
chế trong năng lực quản lý điều hành nh nớc ta. Nhng bên cạnh đó, chính sách kiểm soát
lãi suất cũng đa đến những vấn đề bất cập. Kiểm soát trực tiếp lãi suất có thể dẫn đến suy
giảm chức năng trung gian tài chính của hệ thống ngân hàng, bởi vì nguồn tiền tiết kiệm sẽ
chảy vào thị trờng tài chính phi tổ chức và không bị quản lý. Kiểm soát lãi suất cũng dẫn
đến việc áp đặt cơ cấu lãi suất phức tạp nh tồn tại nhiều loại trần lãi suất cho vay, gây ra sự
kém hiệu quả của chính sách tiền tệ quốc gia. Kiểm soát lãi suất không có lợi cho cạnh
tranh ở điểm các TCTD kém hiệu quả có thể vẫn tồn tại hoạt động mà không phải chịu sức
ép của cạnh tranh, khiến cho quá trình giải quyết khó khăn của những TCTD này tồn tại
kéo dài. Những khó khăn gắn với việc kiểm soát lãi suất là vấn đề lựa chọn đối nghịch và
rủi ro đạo đức. Cả hai loại rủi ro này đều có xu hớng nâng lãi suất lên và tăng rủi ro tín
dụng. Vấn đề lựa chọn đối nghịch phản ánh thực tế là kiểm soát lãi suất sẽ hấp dẫn các
doanh nghiệp bất chấp rủi ro và khả năng có thể thanh toán đợc các khoản nợ của mình
hay không, tìm đủ mọi cách vay đợc vốn từ ngân hàng, trong khi rủi ro đạo đức phát sinh
do ngời cho vay không có khả năng kiểm soát đợc việc sử dụng vốn của ngời đi vay .
Trong trờng hợp này, vấn đề lựa chọn đối nghịch phát sinh vì tín dụng đợc đa đến cho
những ngời vay có tính rủi ro cao nhất và tới những dự án có tính rủi ro nhất. Khi vấn đề
Cần xem xét mối quan hệ giữa lãi suất và doanh lợi chứng khoán để xác định chính
sách lãi suất. Khi thị trờng chứng khoán hoạt động, việc duy trì một mức lãi suất hợp lý là
một điều kiện cần thiết, bằng không những biến động trong chính sách lãi suất của NHNN
tất yếu sẽ dẫn đến những biến động trên thị trờng tài chính.lãi suất trên thị trờng tiền tệ có
ảnh hởng lớn đến việc phát hành và mua bán chứng khoán trên thị trờng tài chính. Nếu lãi
suất ngân hàng trả cho ngời tiết kiệm cao, ngời gửi sẽ thích gửi tiền vào ngân hàng để
hởng lãi suất cao và rủi ro thấp, hơn là mua chứng khoán với lãi suất thấp nhng rủi ro cao.
Do xu hớng hội nhập vào nền kinh tế khu vực nên việc điều chỉnh lãi suất phải căn
cứ vào mức lãi suất trên thị trờng quốc tế và khu vực.
Việc điều chỉnh lãi suất phải tuỳ thuộc vào tập quán và thói quen của ngời dân cũng
nh các yếu tố tâm lý của dân chúng trong thời kỳ nhất định.
Hiện nay theo tinh thần của Hội nghị Trung ơng khoá 8 (lần1), Đảng và Nhà nớc
tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc mà trọng tâm hớng về
nông nghiệp và nông thôn, vì thế khi xác định các mức lãi suất cho vay phải theo hớng u
tiên cho lĩnh vực nông nghiệp và khu vực nông thôn. Đó cũng là một trong những điểm
quan trọng nhằm ổn định và phát triển kinh tế nông thôn, tiền đề của sự ổn định và phát
triển kinh tế đất nớc.
- Phải xây dựng một môi trờng để lãi suất cơ bản phát huy tác dụng.
Trớc hết, phải có một hệ thống ngân hàng hoạt động năng động và chủ động trong
cạnh tranh. Trong môi trờng cạnh tranh tốt, lãi suất của các TCTD sẽ dao động gần sát với
lãi suất chỉ đạo của NHNN. Hơn thế nữa, trong môi trờng cạnh tranh, hệ thống ngân hàng
sẽ cung cấp cho nền kinh tế và dân c các sản phẩm và dịch vụ ngày càng tốt hơn. Do vậy,
để nâng cao tính chủ động trong cạnh tranh, các NHTM trong nớc cần phải chủ động cải
tiến chất lợng, quy trình tín dụng và các nghiệp vụ ngân hàngquốc tế, cải tiến chất lợng
phục vụ. Đồng thời phải nghiên cứu áp dụng công nghệ mới trong hoạt động ngân hàng,
cải tiến các vấn đề nhân sự, chi phí quản lý để giảm tối đa chi phí kinh doanh. Chú trọng
công tác tiếp thị trong hoạt động ngân hàng, hiểu rõ nhu cầu của khách hàng truyền thống,
tổ chức tốt công tác t vấn về dự án đầu t, thanh toán quốc tế cho khách hàng cũng nh
thờng xuyên lắng nghe, tìm hiểu những đề nghị, phản ánh của khách hàng. Tạo lập mối
quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp và ngân hàng trên cơ sở hiểu biết và hỗ trợ lẫn