Đánh giá qúa trình sử dụng và điều hành chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng ở Việt nam trong thời Gian qua - Pdf 32

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài cần nghiên cứu:
Lãi suất là giá cả sử dụng vốn, gắn liền với hoạt động tín dụng ngân hàng,
đồng thời gắn liền với mọi hoạt động kinh tế có liên quan, mà trực tiếp là ngời gửi
tiền và ngời vay vốn.
Lãi suất cũng là một công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ quốc gia do
Ngân hàng Trung ơng (NHTƯ) điều hành. Nó có tác động rất lớn đối với vịệc tăng
hoặc giảm khối lợng tiền lu thông, thu hẹp hay mở rộng tín dụng, khích lệ hay hạn
chế huy động vốn, kích thích hay cản trở đầu t, tạo thuận lợi hay khó khăn cho
hoạt động ngân hàng. Một chính sách lãi suất đúng đắn sẽ có tác dụng thúc đẩy
sản xuất, lu thông hàng hoá, thúc đẩy tăng trởng kinh tế và ngợc lại khi chính sách
lãi suất thiếu chuẩn xác sẽ ảnh hởng nghiêm trọng đến nền kinh tế. Và vai trò đó
của chính sách lãi suất ngày càng trở nên quan trọng và phức tạp hơn cùng với quá
trình đổi mới hoạt động ngân hàng trong điều kiện kinh tế thị trờng ngày càng phát
triển sâu sắc.
ở Việt Nam, sau hơn 10 năm đổi mới, ngành ngân hàng đã đạt đợc những
thành tựu nhất định, góp phần không nhỏ vào những thành quả chung của nền kinh
tế. Trong nhiệm vụ xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nớc
(NHNN) đã rất chú trọng đến việc đổi mới các công cụ điều tiết nh hạn mức tín
dụng, dự trữ bắt buộc, tỷ giá...nhng quan trọng nhất vẫn là công cụ lãi suất. Nhìn
chung trong hơn 10 năm đổi mới, chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng đã góp
phần bình ổn giá cả, đẩy lùi và kiểm soát lạm phát, kích cầu, tăng trởng kinh tế. Cơ
chế điều hành lãi suất đợc thay đổi theo từng thời kỳ phát triển kinh tế và ngày
càng trở nên linh hoạt hơn. Đặc biệt, trong giai đoạn thúc đẩy phát triển kinh tế và
xu hớng hội nhập vào thị trờng tài chính khu vực cũng nh Quốc tế hiện nay đòi hỏi
NHNN phải xây dựng và thực thi một chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng phù
hợp, tiến tới tự do hoá trên cơ sở đảm bảo sự kiểm soát của Nhà nớc với thị trờng,
phù hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô.
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368

cô giáo Cao Thị ý Nhi đã giứp đỡ em hoàn thành đề án này. Trong quá trình
nghiên cức vấn đề trên, do trình độ và khả năng có hạn nên bài viết này không thể
tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận đợc sự góp ý của các thầy, các cô để
hoàn thành tốt đề án này.
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chơng I
Cơ sở lý luận của chính sách lãi suất tín dụng ngân
hàng và kinh nghiệm của một số nớc trong việc điều
hành chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng.
1. Khái niệm lãi suất.
Trong nền kinh tế thị trờng tồn tại rất nhiều phạm trù kinh tế - tài chính
trong đó tín dụng và lãi suất tín dụng là một trong số những phạm trù quan trọng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động vay mợn, quan hệ sử dụng vốn giữa ngời đi
vay và ngời cho vay theo nguyên tắc có hoàn trả. Đối với chủ thể thừa vốn, tín
dụng mang đến cho họ cơ hội không những bảo tồn đợc vốn mà còn tạo thu nhập.
Đối với các chủ thể thiếu vốn, tín dụng giúp cho họ bổ sung vốn để đáp ứng nhu
cầu sản xuất, kinh doanh hoặc đời sống. Nh vậy, nhờ có hoạt động tín dụng mà có
một bộ phận lớn nguồn vốn trong nền kinh tế đợc huy động, tập trung và phân phối
từ nơi tạm thời d thừa sang nơi thiếu để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các
chủ thể trong nền kinh tế.
Công cụ và là đòn bẩy quan trọng không thể thiếu đợc trong hoạt động tín
dụng chính là lãi suất. Lãi suất tín dụng ngân hàng là tỷ lệ % giữa lợi tức và tổng
số tiền vay trong một thời kỳ nhất định. Nh vậy, lãi suất chính là giá cả sử dụng
tiền vốn, gắn liền với hoạt động tín dụng ngân hàng, đồng thời gắn liền với mọi
hoạt động kinh tế có liên quan đến gửi tiền và vay tiền.
Mặt khác, ở tầm vĩ mô, lãi suất còn là một công cụ điều tiết kinh tế rất nhạy
bén và hiệu quả của chính sách tiền tệ quốc gia. Thông qua việc thay đổi mức và
cơ cấu lãi suất trong từng thời kỳ nhất định, Chính phủ có thể tác động đến quy mô
và tỷ trọng các loại vốn đầu t, do vậy mà có thể tác động đến quá trình điều chỉnh

hạn cha đến hạn thanh toán của ngân hàng. Nó cũng đợc tính bằng tỷ lệ % trên
mệnh giá của các giấy tờ có giá và cũng đợc khấu trừ ngay khi NHTƯ cấp tiền vay
cho ngân hàng thơng mại (NHTM ). Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất mà các
ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trên thị trờng liên ngân hàng, nó đợc hình
thành bởi quan hệ cung cầu tiền của các tổ chức tín dụng và chịu sự chi phối của
lãi suất tái cấp vốn của NHTƯ. Lãi suất cơ bản là lãi suất đợc các NHTM sử dụng
làm cơ sở để ấn định mức lãi suất kinh doanh của mình.
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Một vấn đề quan trọng trong việc tìm hiểu khái niệm lãi suất tín dụng ngân
hàng đó là phải phân biệt đợc lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa.
Lãi suất danh nghĩa là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào
thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là lãi suất cha trừ đi tỷ lệ lạm phát. Lãi
suất danh nghĩa thờng đợc công bố chính thức trong các quan hệ tín dụng, trên các
phơng tiên thông tin đại chúng.
Lãi suất thực tế là lãi suất đợc điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi
dự tính về lạm phát.
Mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế đợc khái quát thành
phơng trình sau đây:
Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực tế + Tỷ lệ lạm phát.
hay
Lãi suất thực tế = Lãi suất danh nghĩa - Tỷ lệ lạm phát.
Vì đợc điều chỉnh lại theo đúng những thay đổi về lạm phát nên lãi suất thực
tế phản ánh chính xác hơn thu nhập từ việc cho vay cũng nh chi phí thật của việc
cho vay.
2. Các nhân tố ảnh h ởng tới lãi suất :
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nớc đóng vai trò trung tâm
trong hầu hết tất cả các hoạt động kinh tế xã hội trong đó có thị trờng tài chính. Vì
lẽ đó, lãi suất trong các nớc đó đều do Nhà nớc qui định, thậm chí một số nớc còn
quy định đến cả mức chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay của các

khoản vay tài trợ cho dự án. Có nh vậy các nhà đầu t mới có lợi nhuận từ các dự án
đầu t và phấn khởi mở rộng đầu t. Do đó, cách đánh giá, lựa chọn chính sách lãi
suất phù hợp sẽ dựa trên cơ sở ớc lợng tỷ suất lợi tức trung bình của nền kinh tế.
ảnh hởng của bội chi ngân sách:
Bội chi ngân sách ở trung ơng và địa phơng trực tiếp làm cho cầu tiền tăng
và làm tăng lãi suất. Sau nữa, bội chi ngân sách sẽ tác động đến tâm lý công chúng
về gia tăng mức lạm phát và sẽ gây áp lực tăng lạm phát. Thông thờng, Chính phủ
thờng tài trợ cho thâm hụt ngân sách bằng cách phát hành trái phiếu. Lợng cung
trái phiếu trên thị trờng tăng lên làm cho giá trái phiếu có xu hớng giảm và lãi suất
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thị trờng có xu hớng tăng. Mặt khác, do tài sản có của NHTM tăng ở khoản mục
trái phiếu chính phủ, dự trữ vợt mức giảm nên lãi suất ngân hàng cũng sẽ tăng.
Những thay đổi trong thuế:
Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp luôn có tác động đến
lãi suất. Khi các hình thức thuế này tăng sẽ điều tiết đi một phần thu nhập của các
cá nhân và tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng hay những ngời tham gia kinh doanh
chứng khoán. Mọi ngời đều quan tâm đến thu nhập thực tế hơn là thu nhập danh
nghĩa. Do vậy, để duy trì một mức lợi nhuận thực tế nhất định, họ phải cộng thêm
vào lãi suất cho vay những thay đổi của thuế.
ảnh hởng của tỷ giá hối đoái kỳ vọng:
Khi đồng nội tệ yếu, bị những sức ép lớn do những dao động của các đồng
ngoại tệ mạnh thì tâm lý phổ biến của ngời dân là coi ngoại tệ mạnh nh một trong
những loại tài sản tiết kiệm an toàn. Chẳng hạn, khi hiện tợng đô la hoá xảy ra, ng-
ời dân sẽ ồ ạt chuyển sang tiết kiệm bằng ngoại tệ cụ thể là đô la Mỹ. Làm nh vậy
ngời gửi hởng lợi kép gồm lãi suất tiền gửi và sự lên giá của đồng đô la Mỹ. Sự
chuyển dịch này tạo ra sự khan hiếm nội tệ ở các NHTM và buộc các ngân hàng
này phải tăng lãi suất tiền gửi đồng nội tệ để huy động cho vay nền kinh tế. Nh
vậy, khi xây dựng chính sách lãi suất cần phải xem xét đến khía cạnh tỷ giá để
giảm bớt mức chênh lệch giữa lợi tức lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ hay lãi suất

Đồng thời, lãi suất cho vay của ngân hàng phải đảm bảo phát triển nền kinh
tế tức là phải đảm bảo cho những ngời vay vốn ngân hàng có thu nhập hợp lý,
nghĩa là:
Lãi suất cho vay < Tỷ lệ lợi nhuận bình quân của nền kinh tế.
Do vậy, có thể khẳng định rằng giới hạn tối đa của lãi suất tín dụng ngân
hàng nói chung là tỷ suất lợi nhuận bình quân, còn giới han thấp nhất của lãi suất
là chỉ số lạm phát vì nó sẽ làm cho ngời gửi tiền bảo toàn đợc vốn.
Tóm lại, để lãi suất tín dụng trở thành đòn bẩy kích thích và mở rộng các
quan hệ tín dụng trong nền kinh tế thì phải đảm bảo lãi suất tín dụng đợc kiểm soát
trong khung giới hạn sau đây:
Tỷ lệ lạm phát <= lãi suất tín dụng <= tỷ suất lợi nhuận bình quân.
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nếu vợt quá giới hạn trên, lãi suất tín dụng sẽ gây ra tác động tiêu cực đối
với nền kinh tế xã hội, hệ thống ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng bất ổn, rối loạn.
4. Chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng .
Lãi suất là công cụ có ý nghĩa khi thực hiện chính sách tiền tệ, NHTƯ sẽ
căn cứ vào thực trạng của nền kinh tế để quy định một số chỉ tiêu lãi suất áp dụng
trong toàn hệ thống ngân hàng. Thông thờng, ngời ta thờng quy định hai chỉ tiêu cơ
bản là lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cơ bản.
a. Lãi suất cơ bản.
Lãi suất cơ bản là lãi suất có tác dụng chi phối tất cả các loại lãi suất khác
hình thành trong nền kinh tế thị trờng. Đó là loại lãi suất chiếm vị trí quan trọng
trong cơ chế thị trờng.
Lãi suất cơ bản do NHTƯ xác định và công bố trên cơ sở tình hình thực tế
của thị trờng và mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia.
Lãi suất cơ bản có một số chức năng nhất định. Nó là công cụ để điều hành
chính sách tiền tệ quốc gia. Qua lãi suất cơ bản, NHTƯ tác động vào thị trờng tiền
tệ, thúc đẩy, mở rộng hay thu hẹp tín dụng, giữ mức tơng quan cần thiết giữa tổng
cung và tổng cầu tiền tệ. Mặt khác, lãi suất cơ bản là giá cả sử dụng vốn trong hoạt

ợc chủ động công bố và đợc xem xét, tính toán tơng đối thờng xuyên nên thực sự
đóng vai trò quyết định đối với các mức lãi suất kinh doanh cũng nh cung cầu vốn
của các TCTD. Nhng lãi suất chiết khấu lại mang nặng tính chất để điều hành
chính sách tiền tệ.
a2. Lãi suất cơ bản là lãi suất tiền gửi tối đa.
Thực chất của lãi suất cơ bản loại này là NHTƯ công bố và kiểm soát lãi
suất tiền gửi tối đa và tự do hoá lãi suất cho vay. Các TCTD sẽ ấn định các mức lãi
suất tiền gửi trong phạm vi khống chế lãi suất tiền gửi tối đa và ấn định các mức lãi
suất cho vay cụ thể phù hợp với cung cầu về vốn.
a3. Lãi suất cơ bản là lãi suất cho vay tối đa.
NHTƯ công bố một mức lãi suất trần nhng có thể quy định một số mức biên
độ phù hợp với từng loại hình TCTD, thời hạn khác nhau.
a4. Lãi suất cơ bản là lãi suất trên thị trờng liên ngân hàng.
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất cho vay giữa các NHTM. Lãi suất liên
ngân hàng hình thành trên cơ sở thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia và quan hệ
cung cầu vốn trong nền kinh tế. Do vậy, lãi suất liên ngân hàng gắn với thị trờng
nhiều hơn và dễ biến động hơn. Thông thờng lãi suất cơ bản bằng lãi suất liên ngân
hàng cộng thêm một biên độ gồm phí quản lý món vay, phí rủi ro...
b. Lãi suất tái chiết khấu.
Khi nền kinh tế phát triển cả chiều sâu lẫn chiều rộng, NHTƯ chuyển sang
điều hành lãi suất một cách gián tiếp, mang nặng yếu tố kinh tế. Đó là lãi suất tái
chiết khấu của NHTƯ. Lãi suất chiết khấu có tác động và có ý nghĩa hớng dẫn lãi
suất thị trờng một cách gián tiếp, tức là tác động đến lãi suất kinh doanh của các
TCTD.
Lãi suất chiết khấu chủ yếu ảnh hởng đến cung ứng tiền tệ bằng cách ảnh h-
ởng đến khối lợng cho vay chiết khấu và cơ số tiền tệ. Một sự tăng lên trong cho
vay chiết khấu sẽ làm tăng cơ số tiền tệ và tăng cung ứng tiền tệ. Còn một sự giảm
xuống trong cho vay chiết khấu sẽ làm giảm bớt cơ số tiền tệ và thu hẹp cung ứng

Nh vậy, lãi suất chiết khấu chính là một công cụ để NHTƯ điều hành chính
sách lãi suất tín dụng ngân hàng sao cho phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền
tệ quốc gia.
5. Kinh nghiệm của một số n ớc trong việc sử dụng chính sách lãi
suất tín dụng ngân hàng.
Lãi suất là một trong những công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ quốc
gia. Tuỳ theo nhịp độ phát triển kinh tế, mức độ ổn định tiền tệ của mỗi nớc mà
mỗi nớc có nội dung, phơng pháp điều hành, quản lý chính sách lãi suất tín dụng ở
mức độ khác nhau.
5.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản.
Thị trờng tiền tệ của Nhật Bản chỉ dành cho các ngân hàng và một số định
chế tài chính đợc chính thức công nhận trong giai đoạn Nhật Bản phát triển với tốc
độ cao. Sau này, Nhật Bản mở rộng thị trờng tiền tệ cho các thành phần tham gia
và thị trờng liên ngân hàng gồm có thị trờng mua tiền tệ (call money market) dành
cho những giao dịch cực ngắn, phục vụ cho giao dịch thơng mại và thị trờng thơng
phiếu (bills market) dành cho các giao dịch dài hạn.
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Hai thị trờng này gồm có ngời cho vay, ngời đi vay và các nhà trung gian
chuyên nghiệp, ngời buôn tiền ở thị trờng tiền tệ. Vì giao dịch không ký quỹ nên
ngời buôn tiền chỉ hoạt động nh ngời môi giới. Ngân hàng Nhật cũng tham gia vào
thị trờng thơng phiếu.
Để điều hành lãi suất, bên cạnh lãi suất có tính chất định hớng là lãi suất
chiết khấu, Nhật Bản còn áp dụng một số loai lãi suất có điều tiết đợc xây dựng
dựa trên lãi suất chiết khấu và xác định dợc lãi suất cơ bản là sàn lãi suất cho vay
nhằm đảm bảo an toàn hệ thống. Lãi suất trên thị trờng tiền tệ liên ngân hàng đợc
tự do xác định trên cơ sở cung cầu về vốn và làm lãi suất tham chiếu cho mọi định
chế tài chính.
5.2 Kinh nghiệm của Pháp.
Pháp dùng lãi suất của thị trờng liên ngân hàng làm lãi suất chỉ đạo (lãi suất

5.4 Kinh nghiệm của Malaysia.
Từ những năm 70, Malaysia đã có nhiều đổi mới trong điều hành chính sách
lãi suất theo hớng tự do hoá. Tuy nhiên, không phải tự do hoá lúc nào cũng là giải
pháp tối u. NHTƯ Malaysia đã liên tục điều chỉnh lãi suất, phục vụ linh hoạt việc
thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Từ năm 1981,
Malaysia cho phép các NHTM tự tính mức lãi suất cơ bản cho ngân hàng mình dựa
trên cơ sở chi phí thực tế. Nhng ngay sau đó, NHTƯ nhận thấy trong điều kiện thị
trờng tiền tệ cha thực sự phát triển, việc cho phép các NHTM tự xác định mức lãi
suất cơ bản nh vậy theo nguyên tắc tự do hoá lãi suất sẽ dẫn đến cạnh tranh quá
mức về lãi suất giữa các ngân hàng và khi đó vấn đề an toàn trong hoạt động kinh
doanh của các NHTM sẽ bị đe doạ. Chính vì vậy, để giải quyết kịp thời vấn đề nêu
trên nhất là sau thời kỳ suy thoái kinh tế (1985 - 1986), vào năm 1987, Malaysia
đã chuyển sang điều hành lãi suất theo hớng vừa đảm bảo sự phối hợp chỉ đạo của
NHTƯ, vừa duy trì ở một mức độ nào đó quyền tự chủ của các NHTM. Với tinh
thần đó, NHTƯ yêu cầu các NHTM tính lãi suất cơ bản của ngân hàng mình dựa
trên mức lãi suất cơ bản của hai ngân hàng lớn "leader banks ". Các NHTM sẽ
điều chỉnh lãi suất cơ bản của mình theo nguyên tắc áp dụng biên độ giao động
xung quanh lãi suất cơ bản.
Hiện nay, các ngân hàng đợc phép tính lãi suất cơ bản cho ngân hàng mình,
nhng để đảm bảo tính khách quan và tơng đồng giữa các ngân hàng trong khi tính
lãi suất cơ bản, NHTƯ đa ra công thức chuẩn chung nhất để tính lãi suất cơ bản.
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lãi suất cơ bản đợc xây dựng trên cơ sở các yếu tố: chi phí huy động (sau khi đã
tính đến cả chi phí đáp ứng yêu cầu về dự trữ bắt buộc); các chi phí cho vay (gồm
chi lơng cho cán bộ, chi phí hành chính, các chi phí khác liên quan đến việc cho
vay, nhng không bao gồm chi phí liên quan đến các khoản nợ khó đòi); tỷ lệ lợi
nhuận "profit margin" cho phép.
Trên cơ sở lãi suất cơ bản đợc công bố, các NHTM sẽ niêm yết mức lãi suất
cơ bản của mình. Mức lãi suất cho vay thực tế của ngân hàng sẽ là lãi suất cơ bản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status