51BÀI 18
MIỀN NAM CHỐNG CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH CỤC BỘ
CỦA MĨ (1965 – 1968)
1. Chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mĩ ở miền Nam Việt Nam
Đầu năm 1965, đứng trước nguy cơ bị thất bại hoàn toàn của chiến lược
chiến tranh đặc biệt, Giônxơn đã chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”: ồ ạt
đưa quân viễn chinh, quân chư hầu cùng vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện
đại vào miền Nam Việt Nam để tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược và mở rộng
chiến tranh phá hoại ra miền Bắc Việt Nam.
Chiến lược “chiến tranh cục bộ” chính thức bắt đầu từ giữa năm 1965. Đây là
hình thức xâm lược thực dân mới được tiến hành bằng lực lượng quân viễn chinh
Mĩ, quân chư hầu và ngụy quân. Trong đó quân Mĩ giữ vai trò quan trọng và không
ngừng tăng lên về số lượng lẫn trang bị.
Tính đến cuối năm 1964, lực lượng quân Mĩ có mặt ở miền Nam khoảng
26.000, đến cuối năm 1965 là 200.000, đến cuối năm 1967 là 537.000. Chưa kể
70.000 lính Mĩ ở Hạm đội 7 và 20.000 lính chư hầu sẳn sàng tham chiến.
Mĩ đã mở hàng loạt cuộc hành quân lớn với mục tiêu “tìm diệt và bình định”
nhằm vào các căn cứ cách mạng:
Mở đầu là cuộc hành quân “tìm diệt” mang tên “ánh sáng sao”, đánh vào căn
cứ của ta ở Vạn Tường – Quảng Ngãi.
Tiếp đó Mĩ mở liên tiếp hai cuộc phản công lớn trong hai mùa khô 1965 -
1966 và 1966 - 1967 với hàng loạt cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” vào
những vùng “đất thánh Việt Cộng”, hòng tiêu diệt cơ quan đầu não và lực lượng
kháng chiến của ta.
2. Miền Nam đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mĩ
2.1. Chiến thắng Vạn Tường (Quảng Ngãi)
tiêu diệt quân chủ lực và cơ quan đầu não của ta, tạo bược ngoặt trong chiến
tranh.
Chúng đã tiến hành 895 cuộc hành quân lớn nhỏ, trong đó có 3 cuộc hành
quân “tìm diệt” then chốt:
+ At-tơn-bo-rơ đánh vào chiến khu Dương Minh Châu (tháng 11/1966)
+ Xê-da-phôn đánh vào Trảng Bàng, Bến Súc, Củ Chi (tháng 1/1967)
+ Gian-xơn-city đánh vào chiến khu Dương Minh Châu (tháng 4/1967)
Quân và dân Nam bộ đã phối hợp với các chiến trường khác đã mở hàng loạt
cuộc phản công, từng bước đánh bại các cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định”
của địch; loại khỏi vòng chiến 175.000 tên, trong đó có 76.000 lính Mĩ và chư hầu,
phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch.
2.3. Đấu tranh chính trị phát triển
Các vùng nông thôn ở miền Nam, quần chúng nổi dậy đấu tranh chống kìm
kẹp, trừng trị bọn ác ôn, phá vỡ từng mảng “ấp chiến lược” do chúng lập ra.
Ở các thành thị, công nhân, học sinh, sinh viên, phật tử… đã nổi lên đấu
tranh đòi Mĩ cút về nước, đòi tự do, dân chủ, dân sinh…
Vùng giải phóng được mở rộng, uy tín của Mặt trận dân tộc giải phóng
miền Nam được nâng cao trên trường quốc tế.
3. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968
Sau 2 cuộc phản công mùa khô, so sánh tương quang lực lượng giữa ta và
địch đã thay đổi theo chiều hướng có lợi cho ta. Hơn nữa trong năm 1968, cuộc
bầu cử Tổng thống Mĩ sẽ nảy sinh những mâu thuẫn mà ta có thể lợi dụng được.
Đảng đã chủ trương mở cuộc “Tổng tiến công và nổi dậy” trên khắp chiến
trường miền Nam, chủ yếu là ở các đô thị, nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng
quân Mĩ - ngụy, buộc Mĩ phải rút quân về nước.
Đêm 30 rạng ngày 31 tháng 01 năm 1968, quân chủ lực của ta đã đồng loạt
tấn công và nổi dậy ở 37/44 thị xã, 5/6 thành phố trên toàn miền Nam.
Ở Sài Gòn, quân ta đã tấn công vào các vị trí cơ quan đầu não của địch như
Tòa Đại sứ, Dinh Độc lập, đài phát thanh, sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham