333 Câu hỏi đường lên đỉnh Olympia - Pdf 21

333 Câu hỏi đường
lên đỉnh Olympia
1
333
333333
333 Câu Hỏi Lý Thú
Đờng Lên Đỉnh OLIMPIA
1. Liên Hợp Quốc Ra Đời Khi Nào ?
Năm 1942, bốn nớc : Mỹ, Liên Xô (cũ), Trung Quốc và Anh cùng
nhau thành lập một đồng minh chống phát xít và quyết định soạn thảo một
bản tuyên ngôn , nhng nhất thời cha tìm đợc tên gọi thích hợp. Tổng
thống Mỹ Roosevelt và thủ tớng Anh Churchill tuy đã nhiều lần thảo
luận vấn đề tên gọi nhng không tìm đợc đáp án hoàn hảo. Từ đó họ còn
mất nhiều thời gian cho công việc này.
Một buổi sớm, Rooosevelt ngủ dậy, đang thay quần áo, bỗng ông thốt
lên: Tôi nghĩ ra rồi ! Ông đến ngay trớc buồng Churchill, gõ cửa.

3. Vì sao gọi là phơng đông, phơng tây
Các từ phơng Đông, phơng Tây đợc dùng hiện nay, trong nhiều
trờng hợp, đã không còn chỉ khái niệm địa lý nữa, mà chuyển thành khái
niệm chính trị. Chẳng hạn : Nhật Bản, theo vị trí địa lý, thuộc phơng
đông, nhng chế độ xã hội Nhật Bản, về cơ bản lại thuộc phạm trù phơng
Tây, do đó bắt đầu từ năm 1975, hội nghị thợng đỉnh bảy nớc phơng
Tây mỗi năm họp nhóm một lần, luôn luôn có mặt Nhật Bản.
3 Các từ phơng Đông, phơng Tây bắt đầu đợc dùng từ sau Đại
chiến thế giới lần thứ hai. Sau sự kiện này, trong hoạt động chính trị quốc
tế và trên báo chí Anh, Mỹ và một số nớc đã dùng từ phơng Đông để chỉ
các nớc xã hội chủ nghĩa, từ phơng Tây để chỉ các nớc t bản chủ
nghĩa.
4. Hội nghị bàn tròn ra đời khi nào ?
Ngày nay, các cuộc họp của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các
hội nghị quốc tế khác, hay khi tiến hành các cuộc đàm phán về chính trị
quốc tế, phần lớn mở hội nghị bàn tròn. Vậy hội nghị bàn tròn ra đời khi
nào ?
Trớc đây, tại các hội nghị trong và ngoài nớc, nhất là trong những
hội nghị chính thức hoặc yến tiệc, ngời ta rất chú ý đến thứ bậc chỗ ngồi
của chủ, khách, và nhìn chung, đều để các bậc trởng giả ngồi giữa, còn tân
khách thì tuỳ theo thân phận, địa vị, mà sắp xếp chỗ ngồi cho phù hợp.
Nhng nhiều khi cũng thật khó xếp đặt.
Vào thế kỷ V, Yawangse ( nhân vật lịch sử đại Anh trong truyền
thuyết ) đã nghĩ ra một cách, đó là khi anh ta cùng các kỵ sĩ của mình mở
hội nghị, không phân biệt chỗ ngồi trên dới, mà ngồi quanh một chiếc bàn
tròn : nh vậy sẽ tránh đợc sự rắc rối do vị trí ngồi gây ra. Thế là hình
thành hội nghị bàn tròn. Hội nghị bàn tròn không phân biệt trên, dới

phiếu này, chỉ có điều dùng hạt đậu hoặc hạt gạo nếp thay cho trái bóng.
Cùng với việc ứng dụng văn tự trên giấy, việc bỏ phiếu bằng vật biểu
thị đồng ý hoặc phản đối đã tiến triển thành cách dùng văn tự ghi đơn vị
hoặc họ tên ngời đợc bầu lên giấy, chứ không ghi tên ngời bầu. Hiện
nay, phơng pháp bỏ phiếu đã phổ biến khắp thế giới.
7. Tòa án quốc tế ra đời khi nào ?
Toà án quốc tế, tên gọi đầy đủ là Toà án Quốc tế Liên hợp quốc, tiền
thân của nó là Thờng thiết quốc tế pháp viện. Sự ra đời của nó nhằm giải
quyết các tranh chấp quốc tế bằng con đờng hoà bình. Năm 1899, lần đầu
tiên hội nghị hoà bình Hague đã thông qua Hague hoà bình giải quyết
tranh đoan hội ớc. Theo công ớc này, năm 1900 đã thiết lập Thờng
thiết trọng tài viện. Tổ chức này đã phát huy tác dụng trớc Đại chiến thế
giới lần thứ nhất. Nhng cùng với sự thay đổi và phát triển của tình hình
quốc tế, Thờng thiết trọng tài viện đã không còn thoả mãn việc giải quyết
5 các tranh chấp quốc tế bằng pháp luật, thế là ngày 15 tháng 2 năm 1922,
tại Hague, Hà Lan đã thành lập một tổ chức có tên gọi Thờng thiết quốc
tế pháp viện. Sau khi Thờng thiết pháp viện đợc thành lập, việc giải
quyết các tranh chấp quốc tế đã phát huy tác dụng to lớn. Sau Đại chiến
thế giới thứ hai, liên minh quốc tế bị giải tán, Thờng thiết quốc tế pháp
viện cũng không tồn tại đợc nữa. Năm 1945, khi Liên hợp quốc ra đời,
Toà án quốc tế liền đợc thành lập. Trên thực tế, nó là sự tiếp tục của
Thờng thiết quốc tế pháp viện.
Toà án quốc tế là một trong những tổ chức chủ yếu của Liên hợp
quốc, cũng là cơ quan t pháp chủ yếu, cho nên nó cũng đợc gọi là Cơ
quan t pháp chủ yếu.
8. Sự ra đời của chữ thập đỏ
Bệnh viện của nhiều quốc gia trên thế giới, đều lấy chữ thập đỏ làm

thập. Có những huy chơng hình tròn, hình vuông, hình lăng, hình đa
giác, ở giữa thêm chữ + ( thập ); có cái thậm chí không có chữ + cũng gọi là
thập tự chơng.
Thập tự chơng đợc sử dụng phổ biến ở Tây Âu. Tại sao các quốc
gia Tây Phơng thích dùng chữ + làm phù hiệu huân chơng, kỷ niệm
chơng ?
Có ngời cho rằng, ngời châu Âu đa phần theo Cơ Đốc giáo, mà
chữ + lại quan hệ mật thiết với giá thập tự của Jê su. Cách giải thích khác
lại cho rằng, chữ + tợng trng cho sự viên mãn, đầy đủ. Nhng đa số lại
giải thích rằng, vào thời Trung thế kỷ, giai cấp thống trị châu Âu lấy đề
án chữ + để khuếch trơng sức mạnh của mình, biểu thị trục ngang từ đông
sang tây, trục dọc thâu tóm nam bắc.
Ngày nay, thập tự chơng không mang ý nghĩa đó nữa, mà chỉ là kế
thừa truyền thống.
10. Ngày quốc tế phụ nữ 8 3 ra đời khi nào ?
Ngày Quốc tế Phụ nữ 8 3 ra đời vào năm 1910. Trớc đó, phong
trào giải phóng phụ nữ quốc tế đã ngày một nâng cao. Ngày 8 tháng 3
năm 1909, tại Chi ca gô ( Mỹ ) đã nổ ra cuộc bãi công và biểu tình của
phụ nữ có quy mô lớn phản đối sự bóc lột và chèn ép của các nhà t sản, đòi
tự do, đòi bình đẳng, yêu cầu thực hiện chế độ làm việc 8 giờ một ngày và
tăng lơng.
7 Năm 1910, tại thủ đô Cô - pen ha gen ( Đan Mạch ) đã diễn ra
Hội nghị Đại biểu phụ nữ xã hội chủ nghĩa quốc tế lần thứ hai. Trong hội
nghị này, một nhà cách mạng vô sản Đức, th ký Ban th ký phụ nữ quốc
tế đã đề xớng lấy ngày 8 3 hằng năm làm ngày đấu tranh của phụ nữ
thế giới và sáng kiến đó đã đợc đại hội nhất trí thông qua. Từ đó, Ngày 8
3 đã trở thành Ngày đấu tranh cho quyền tự do bình đẳng, giải phóng

1. Những quốc gia lấy ngày thành lập nớc làm ngày quốc khánh:
Trung Quốc ( ngày 1 10), Mỹ ( ngày 4 7 ). . . Kiểu này trên thế giới chỉ
có hai mơi năm nớc.
2. Lấy ngày sinh nhật của nguyên thủ quốc gia, có Thái Lan ( ngày
5 12 ), Hà Lan (ngày 30 4 ), Đan Mạch ( ngày 16 4 ), Nhật Bản (
ngày 29 4 ).
3. Những quốc gia lấy ngày mừng chiến thắng chống phát xít nh
Ru ma ni (ngày 30 8 ).
4. Lấy ngày biến thiên của thuộc địa hoặc di dân, có Ca na - đa (
ngày 1 7 ), úc (ngày 26 1 ).
5. Lấy ngày chiếm lĩnh thủ đô có Cu Ba (ngày 1 1 )
6. Lấy ngày cách mạng thắng lợi, có Pháp, ( Pháp lấy ngày khởi
nghĩa của nhân dân Pa ri chiếm ngục Ba xti ( ngày 14 7 ) ).
7. Có quốc gia ngày quốc khánh không xác định, chẳng hạn Anh,
hằng năm lấy ngày thứ bảy tuần thứ hai của tháng sáu, Ja mai ca lại
lấy ngày thứ hai đầu tiên của tháng tám
8. Còn có một vài quốc gia, mỗi năm có hai ngày quốc khánh nh Bỉ,
Đan Mạch
14. Ngày y tá quốc tế ra đời khi nào ?
Nữ y tá ngời Anh là Nandinger là ngời đặt nền móng cho ngành
hộ lý học cận đại. Vào những năm 1854 1856, trong cuộc chiến tranh
Crimean, bà đã đem hết sức mình để làm thay đổi điều kiện sống và chữa trị
cho các thơng binh, đợc công chúng các nớc đánh giá cao.
9 Sau này, để kỷ niệm những cống hiến lớn lao trong sự nghiệp tạo
phúc cho nhân loại của bà, Hội y tá quốc tế đã quyết định lấy ngày sinh
của bà 15 2 làm Ngày Y tá quốc tế.
15. Ngày hội bia ra đời khi nào ?

thế giới đón nhận, coi đó là dịp tốt để bày tỏ tình cảm với ngời mình yêu.
17. Ngày quyền lợi ngời tiêu dùng quốc tế ra đời
khi nào ?

Năm1983 tổ chức liên minh những ngời tiêu dùng quốc tế quyết
định lấy ngày, 15 tháng 3 là Ngày quyền lợi ngời tiêu dùng quốc tế, để
ngày càng bảo vệ tốt hơn quyền lợi của ngời tiêu dùng trên phạm vi toàn
thế giới, thúc đẩy hợp tác giao lu giữa các tổ chức tiêu dùng các nớc.
Việc xác định ngày 15 tháng 3 là Ngày quyền lợi ngời tiêu dùng
quốc tế là căn cứ vào ngày 15 tháng 3 năm 1962, tổng thống Mỹ Ken nơ -
đi đã phát biểu trong quốc hội Mỹ bản Tuyên bố đặc biệt của tổng thống
Mỹ về việc bảo vệ quyền lợi ngời tiêu dùng. Bản tuyên bố này đầu tiên đã
nêu ra bốn quyền lợi của ngời tiêu dùng nh sau : Có quyền đợc bảo
đảm an toàn, quyền đợc hởng sản phẩm tốt, quyền đợc tự do lựa chọn,
quyền đợc nêu ý kiến tiêu dùng.
Từ năm 1983 đến nay, cứ đến ngày 15 tháng 3, tổ chức ngời tiêu
dùng trên toàn thế giới đều có những hoạt động kỷ niệm.
18. Ngày khí tợng thế giới ra đời khi nào ?
Ngày nay, ngày 23 tháng 3 hằng năm đợc coi là Ngày Khí tợng
thế giới. Song ít ai biết, để đi đến quyết định trên , phải qua quãng thời
gian gần 100 năm.
Vào những năm 50 của thế kỷ 19, qua thực tiễn cuộc sống, sự nhận
thức khoa học về khí tợng của nhân loại cũng ngày càng sâu sắc hơn, kết
quả của các quan trắc khí tợng bắt đầu có ảnh hởng tới các hoạt động
thực tiễn. Lúc đó, một thiếu uý hải quân Mỹ tên là Moli đã kiến nghị tổ
chức màng lới quan trắc khí tợng trên biển để tìm hiểu mối quan hệ của
sự vận chuyển giữa các dòng khí với đại dơng. Với những nỗ lực của ông,
cuối cùng hội nghị quốc tế Brúc xen đã đợc tổ chức. Sau hội nghị, một số
11


1901, Giải Nô - ben đợc trao hằng năm vào dịp kỷ niệm ngày ông mất :
10 -12.
12 20. Sứ tiết ra đời khi nào ?
Ngày nay, sứ tiết là chỉ quan chức ngoại giao thờng trú của một
nớc tại nớc khác, hoặc đại biện lâm thời đợc phái đến trú tại nớc khác.
Nhng vào thời Cổ đại, sứ tiết lại không phải là tên gọi của con ngời, mà
chỉ là một chức quan.
Lúc đó sứ tiết có hai hàm nghĩa : Một loại là khanh đại phu đợc mời
đến một nớc ch hầu nào cả quốc quân ở nớc đó phải ban cho anh ta một
bằng chứng nhậm chức gọi là phù tín. Nó thờng đợc đúc bằng đồng,
song mỗi vùng khác nhau, hình động vật đợc đúc thành phù tín cũng khác
nhau. Nhậm chức ở vùng núi, đợc ban hổ tiết; nhậm chức ở đồng bằng,
đợc ban nhân tiết; nhậm chức ở hồ trạch, đợc ban long tiết. Một loại là
trớc lúc sứ thần xuất ngoại, quốc quân phải ban cho anh ta một bằng
chứng xuất sứ, gọi là phù tiết. Nhìn chung đều là làm bằng thanh tre, bên
trên có điểm vật trang trí nh đuôi trâu, gọi là mao tiết. Khi Trơng Tái,
Tô Vũ đi sứ Hung Nô đều mang loại bằng chứng này. Đơng nhiên, hai
loại bằng chứng này thời Cổ đại cũng gọi là sứ tiết.
21. Đại sứ ra đời khi nào ?
Đại sứ ra đời cách đây đã 4000 năm, đợc sử dụng sớm nhất ở
Vơng quốc cổ Ai Cập.
Lúc đó, Quốc vơng Ai Cập đã có quan hệ với các quốc gia châu á ,
đã có các nhân viên chuyên đi sứ các nớc châu á. Đây là đại biểu ngoại
giao sớm nhất trong lịch sử nhân loại. Nhiệm vụ của họ là chuyển th từ
của Quốc vơng, đợc gọi là tín sứ.
Thời cổ Hy Lạp, việc liên hệ giữa các thành bang tăng nhiều. Quốc
vơng đã chọn một số ngời trong những ngời đức cao tài trọng, tuổi tròn

á châu ( Asia ), nghĩa là nơi mặt trời mọc ở phơng đông.
Tơng truyền, từ này do ngời Phoenicia cổ đặt ra. Khoảng giữa
những năm 2000 ( trớc CN ), ngời Phooenicia đã lập nên vơng quốc
Phoenicin hùng mạnh ở bờ đông Địa Trung Hải ( nay thuộc vùng
14 Syrian). Họ dựa vào kĩ thuật hàng hải điêu luyện, hoạt động khắp vùng
Địa Trung Hải. Thậm chí, họ có thể đi tận eo biển Gibrular nhập vào phía
đông Địa Trung Hải là Asu, nghĩa là nơi mặt trời mọc ở phơng đông;
gọi lục địa phía tây Địa Trung Hải là Ereb, nghĩa là nơi mặt trời lặn ở
phơng tây. Asia là từ đợc phát triển từ tiếng Phoenicia là Asu, dịch âm
thành á Tế á châu, nghĩa là châu mặt trời mọc ở phơng đông. Từ Ered
sau này đợc biến thành Europa, dịch âm là Âu la ba châu, nghĩa là châu
mặt trời lặn ở phía tây.
Sau này, châu á Tế á ( Asia ) đợc dùng đến tận ngày nay.
24. Tên gọi châu Mỹ ra đời khi nào ?
Châu Mỹ là tên gọi chung cho Nam Mỹ và Bắc Mỹ, cũng là tên gọi
giản lợc của châu America, còn là Tân đại lục. America là tên của một
nhà thám hiểm.
Từ năm 1492, nhà hàng hải ngời ý Colombus đã ba lần tiến về phía
tây. Ông đã đến đợc quần đảo Bahama nay thuộc châu Mỹ; song ông lại
cho rằng mình đến ấn Độ, và gọi đảo mới phát hiện là quần đảo ấn Độ,
gọi c dân bản địa nơi đó là ngời Indian, tức ngời ấn Độ.
Sau này, một nhà thám hiểm khác tên là Yahge, trong thời gian từ
năm 1499 đến năm 1504 đã đến thám hiểm châu Mỹ và cũng đến phần
phía bắc của Nam Mỹ. Ông chứng minh rằng, vùng đất mà Colobus phát
hiện năm 1942 chính là Tân đại lục mà ngời châu Âu cha từng biết đến,
chứ không phải ấn Độ. Sau này sứ giả ngời ý, trong tác phẩm của mình
đã gọi Tân đại lục là châu Mỹ.

Tơng truyền, công chúa Europe của vơng quốc Phoericia, trong
một giấc mơ, thấy hai ngời phụ nữ do hai đại lục hoá thành, đang đánh
nhau. Một ngời từ nơi khác đến, còn ngời kia là phụ nữ Asia. Hai ngời
đều muốn mang Europe đi. Đi thôi, ta sẽ mang ngơi đến làm ngời tình
của Miaosi.
Buổi sáng ngày hôm sau, công chúa cùng đám tuỳ tùng đi chơi hái
hoa; thấy một chú trâu lùn chở hàng đến một vùng đất lạ. Tại đây nàng đã
gặp thần tình yêu Afuluodite và con trai của ông ta là Yaluosi. Họ nói với
Europe : Ngời đem đến cho ngơi giấc mơ là hai chúng ta, số ngơi đã
16 định sẵn là phải làm vợ của Yaluosi, trâu lùn vừa chở ngơi tới đây chính
là hóa thân của Miaosi. Mảnh đất đón nhận ngơi sẽ mang tên của ngơi
là châu Europe. Về sau mọi ngời gọi tắt là châu Âu.
27. Tên gọi thái bình dơng ra đời khi nào ?
Tên gọi Thái Bình Dơng do nhà hàng hải Bồ Đào Nha tên là
Magalhaes đặt trong chuyến du hành vòng quanh Trái Đất.
Ngày 20 tháng 9 năm 1519, Magalhaes dẫn đầu đoàn thám hiểm
xuất phát từ Saiweir, băng qua eo biển Gibraltar, đi về phía tây Đại Tây
Dơng, bắt đầu chuyến du hành. Hơn một năm sau, khi đoàn thuyền của
họ đến cực nam của Nam Mỹ, bỗng phát hiện bờ biển ở đó dốc đứng tách
làm hai, họ bèn băng về phía trớc. ở đó sóng lớn nguy hiểm, họ phải vật
lộn suốt 38 ngày, cuối cùng mới vào đợc eo biển an toàn. Lúc này trớc
mặt họ là đại dơng bao la, mặt nớc phẳng lặng trải rộng phía trớc.
Đoàn thuyền lại đi tiếp từ Nam Mỹ, cuối cùng đến quần đảo Philippin.
Trong cuộc hành trình sau đó, họ không gặp cơn sóng dữ nào nữa. Các
thuyền viên vui vẻ nói với nhau : Biển ở đây thật thái bình.
Nh vậy, sau này mọi ngời gọi vùng biển rộng lớn giữa châu Mỹ,
châu á, châu Đại Dơng là Thái Bình Dơng.

tên cho nó là Đại Tây Dơng. Danh từ đó ngày nay đang sử dụng.
30. Tên gọi Biển Chết ra đời khi nào ?
Biển Chết kỳ thực đó là một hồ nớc mặn nằm ở giữa Jordan và
Palestine. Mặt hồ thấp 392 m so với mặt nớc Địa Trung Hải. Chỗ sâu
nhất của hồ là 400 m, là nơi thấp nhất của lục địa thế giới. Từ đông sang
tây, hồ rộng 5 đến 16 km, từ nam sang bắc dài 75 km.
Biển Chết là hồ nớc mặn nổi tiếng thế giới. Nó đợc tạo thành bởi sự
hội tụ của nguồn nớc suối từ các dãy núi cao và nớc sông Jordan. Năm
này qua năm khác, một lợng lớn các khoáng vật theo nớc sông và nớc
suối dồn tụ về đây, tạo thành hồ nớc có lợng muối rất cao. Nếu so sánh
với nớc biển ở những nơi khác thì hàm lợng muối trong nớc Biển Chết
cao từ 23 25%. Các sinh vật không thể sống nổi trong hồ, vì vậy ngời ta
gọi nó là Biển Chết. Điều thú vị là, vì nớc trong hồ chứa lợng muối cao
18 nh vậy, trọng lợng riêng của nớc lớn hơn trọng lợng riêng của ngời,
nên dù là ngời không biết bơi cũng chẳng lo bị chìm. Nếu chẳng may rớt
xuống hồ, ngời ta có thể nằm trên mặt hồ để đọc sách và hút thuốc.
31. Tên gọi Hắc Hải ra đời khi nào ?
Hắc Hải nằm giữa phần đất phía đông nam châu Âu và Tiểu á, là
vùng biển nằm trong đất liền. Những ngời đầu tiên dùng tên gọi Hắc Hải
là ngời Hy Lạp, ngời Ba T, ngời Thổ Nhĩ Kỳ. Họ dùng những màu
sắc khác nhau để làm phơng chuẩn đông tây nam bắc: màu vàng là đông,
màu đỏ là nam, màu lam hoặc lục là tây, màu đen là bắc. Do Hắc Hải
nằm ở phía bắc của Hy Lạp, Ba T, Thổ Nhĩ Kỳ, nên mọi ngời gọi nó
là Hắc Hải không đen, chỉ khi nào trên biển có gió to cấp 6 trở lên, nớc
biển mới chuyển sang màu xám, lúc này nó đích thực là Hắc Hải, nhng
trong một năm, những lúc nh vậy chỉ có mời mấy ngay.
32. Tên gọi Hồng Hải ra đời Khi nào ?

bắc Nam Mỹ, phát nguyên từ núi Andisi nội địa Pêru, băng ra Đại Tây
Dơng. Sông dài 6480 km. Muốn biết tên gọi Amazorna ra đời khi nào,
phải quay ngợc về thế kỷ 16.
Năm 1541, quân thực dân Tây Ba Nha do Aoluliana dẫn đầu, tiến
hành khảo sát toàn diện sông Amazon. Sau khi họ lên thuyền, do hai bờ
cây cối um tùm, mãnh thú nhiều khắp nơi và cảnh hoang vu không bóng
ngời, lơng thực mang theo cạn dần mà không có nguồn bổ sung, nguy cơ
bị đói đe doạ. Đúng lúc đó, họ phát hiện một ngôi làng ngời Indians, bèn
dừng thuyền bên bờ. Lên bờ, họ sục sạo cớp bóc lơng thực trong làng, dẫn
đến cuộc chiến với dân sở tại. Ngời Indians chiến đấu dũng cảm, khiến
đám quân thực dân sợ hãi, đặc biệt là các phụ nữ Indians nhanh nhẹn đã
để lại ấn tợng sâu đậm trong họ. Viên thủ lĩnh của đội quân thực dân
bỗng nghĩ đến vơng quốc nữ nhân có tên là Amazon trong thần thoại Hy
Lạp. Phụ nữ ở vơng quốc này dũng cảm thiện chiến, giỏi cỡi ngựa và
bắn tên. Do đó ông đặt tên cho dòng sông mà đoạn thám hiểm đi qua là
sông Amazon, nó liền đợc lu truyền tận ngày nay.
34. Tên gọi của triều đại ra đời khi nào ?
Trong lịch sử Trung Quốc, tên gọi của các triều đại, về đại thể có ba
căn cứ : lấy địa danh ( tên đất), lấy phong hiệu chức quan trớc khi bậc đế
vơng khai quốc xng đế; lấy ý của một câu nói nào đó làm tên triều đại.
20 Lờy địa danh làm tên có Hạ, Thơng, Chu Thế kỷ 14 ( trớc CN),
Thơng đô đợc quốc vơng Bàn Canh thiên đến Ân, tức tây bắc An
Dơng, tỉnh Hà Nam ngày nay, mãi đến thế kỷ 11(trớc CN) mới bị nhà
Chu diệt. Triều Thơng còn đợc gọi là triều Ân, gọi nộp là Ân Thơng.
Còn Hán, Đờng, Tống là lấy phong hiệu chức quan trớc khi bậc đế
vơng khai quốc xng đế, làm tên triều đại. Chẳng hạn, triều Hán, Cao Tổ
Lu Bang đợc Tây Sở bá vơng Hạng Vũ phong làm Hán Trung

Hoàng Thái Cực mới chính thức đổi ngời Nữ Chân thành ngời Mãn
Châu. Mãn Châu từ đó trở thành tên gọi của dân tộc. Sau cách mạng Tân
Hợi, mọi ngời hay gọi Mãn Châu tộc là Mãn tộc; vì ba tỉnh vùng Đông
Bắc là nơi hng nghiệp của Mãn tộc, còn chữ châu trong Hán ngữ lại có ý
nghĩa địa danh, nên dùng nó để giả tá; gọi Đông Bắc là Mãn Châu, cuối
cùng trở thành tên đất ( địa danh ).
36.Tên gọi china ra đời khi nào ?
Tiếng Anh, Trung Quốc đợc viết là China.
Về sự ra đời của tên gọi China có cách lý giải khác nhau, song lu
hành nhất là lý giải:
China là do dịch âm của từ Xơng Nam trong tiếng Hán. Xơng
Nam là chỉ trấn Cảnh Đức, kinh đô của đồ sứ Trung Quốc. Thời Đông
Hán, ngời ta đã tiếp thu u điểm của sứ xanh Việt Dao phơng nam với
sứ trắng xanh. Sứ trắng xanh sáng lung linh, nên đợc gọi là đồ giả ngọc
đợc nhiều nơi biết tiếng, xuất khẩu nhiều sang châu Âu.
Trớc thế kỷ XVIIi, châu Âu cha tạo đợc đồ sứ nên sứ Trung
Quốc, đặc biệt là đồ sứ đẹp của trấn Xơng Nam rất đợc a thích. ở châu
Âu, đồ sứ Xơng Nam, đợc coi là vật quí, ai có nó là niềm vinh dự lớn.
Nh vậy, ngời châu Âu liền coi Xơng Nam là đồ sứ (China) và tên gọi
thay thế Trung Quốc nơi sản sinh ra đồ sứ. Lâu dần, ngời châu Âu quên
mất bản ý của Xơng Nam, chỉ nhớ nó là đồ sứ và Trung Quốc. Do đó,
đến nay ngời châu Âu vẫn quen gọi Trung Quốc là China.
37. Tên gọi Đài Loan ra đời khi nào ?
Về sự ra đời của tên gọi Đài Loan, hiện có ba cách giải thích khác
nhau.
Cách thứ nhất cho rằng, vào năm 1624, sau khi chiếm đợc, Hà Lan
đã cho xây nhiều lâu đài ở đây, Đài Loan đợc mang tên từ đó.
22
.
23 Đến giữa đời Minh, cùng với

việc mở rộng diện tích gieo trồng và năng suất tăng cao, việc tiêu thụ hoản hơng cũng ngày càng mở rộng. Lúc này bà
con

nơi đây chủ yếu sống bằng nghề trồng hơng. Do hằng ngày đều có
một tàu

biển đến đây chở một khối lợng lớn hơng liệu đi khắp nơi, nên
lâu dần,

vùng đông bắc vịnh đổi thành Hơng Cảng. Sau khi Mãn Thanh xâm nhập, chế độ phong kiến đợc tái lập, chế
độ hải quan nghiêm ngặt, việc xuất hơng liệu của Hơng Cảng gặp trở
ngại, lệnh bức các c dân sống ở ven biển, trong đó có Hơng Cảng, phải đi
vào nội địa 50 dặm, đã làm cho nghề sản xuất hơng liệu bị đình đốn,
không sao khôi phục lại đợc, từ đó việc sản xuất và xuất khẩu hơng liệu
của Hơng Cảng không bao giờ trở lại nữa. Song tên gọi đó vẫn còn mãi
tận ngày nay.
40. tên gọi tam cung lục viện ra đời khi nào?
Mọi ngời thờng dùng cụm từ

đế, hoàng hậu và hoàng tộc ở.
Ngời Trung Quốc cổ đại phân chia các vì sao thành tam viên nhị
thập bát tú, ngôi sao nằm giữa tam viên là Tử vi viên. Vị trí của nó nằm ở
đông bắc sao Bắc Đẩu, đợc coi là chỗ Ngọc hoàng đại đế ở. Hoàng đế
thờng tự khoe mình là thiên tử, nên nơi họ sống thờng đợc bắt đầu bằng
chữ tử. Lại nữa, do hoàng cung thâm nghiêm, dân thờng không đợc
đến gần, nên nó đợc gọi là tử cấm thành.
Cách gọi tử cấm đã xuất hiện từ thời Tây Tấn. Lúc đó nhà đại
danh hoạ Cố Khải Chi đã từng đề thơ trên bức bích hoạ do ông vẽ Duy ma
khiết tợng câu: Nhất lâu hơng phiên đái, tiên phàm tử cấm gian. Sau
đó đến đời Đờng, hoàng cung đã đợc gọi là Tử Cấm.
43. Tên gọi cửu long ra đời khi nào?
Trên bản đồ Trung Quốc, ngời ta có thể nhìn thấy Cửu Long là một
bán đảo nhô ra biển, nơi bờ cửa sông Chu Giang, phía đông nam thành phố
Thâm Quyến, tỉnh Quảng Đông. ở đây không sản sinh ra long (rồng), sao
lại gọi là Cửu Long? Việc này liên quan đến một truyền thuyết.
Chuyện kể rằng, vào những năm cuối đời nhà Tống, Tả thừa tớng
Lục Tú Phu đa ấu Đế trốn đến tị nạn tại núi Đại Bằng, bờ đông cửa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status