Phân tích đoạn Trao duyên, Hình ảnh Ngoc trai, giếng nước, Bình Ngô
đại cáo,…
Phân tích đoạn trích Trao duyên (Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Cuộc đời của con người tài sắc Thuý Kiều từ khi gia đình có tai biến đã trải
qua nhiều giai đoạn. Mỗi giai đoạn được ghi dấu bằng một niềm đau. Trong
Truyện Kiều, có thể nói "trao duyên" là niềm đau lớn nhất. Bởi với Thuý
Kiều, trao duyên – dù cho chính em gái mình - cũng nghĩa là hết. Phải chọn
tình hay hiếu, Thuý Kiều có băn khoăn nhưng không oán hờn bởi nàng biết
và nàng hiểu "làm con trước phải đền ơn sinh thành". Nhưng khi phải từ bỏ
lời thề vàng đá, Thuý Kiều đã day dứt và day dứt suốt đời.
Trong Truyện Kiều, đoạn Trao duyên có vai trò như một cái bản lề khép mở
hai phần đời đối lập của Kiều : hạnh phúc và đau khổ. Không những thương,
Vân còn rất hiểu lòng Kiều. Có lẽ vì vậy mà sau đó, chuyện tình duyên khó
trao, khó nhận nhưng Vân đã bằng lòng với nỗi niềm cảm thông mà chẳng
nói thêm gì (có ý kiến cho rằng : Thuý Vân chỉ biết bằng lòng vì lời nói rất
đỗi thuyết phục của Thuý Kiều).
Chỉ chờ có vậy, Thuý Kiều đã mở đầu câu chuyện mà đáng lí ra chẳng ai nói
đến bao giờ :
Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Nghe xong Thuý Vân chắc sẽ rất bất ngờ. Lời chị khẩn khoản, thiết tha chắc
không thể chỉ là chuyện bình thường. Trong nhóm các từ biểu đạt sự nhờ vả,
Nguyễn Du đã chọn được hai từ đắt nhất và cũng hợp với hoàn cảnh nhất :
cậy và chịu. Cậy không chỉ là nhờ. Cậy còn là trông đợi và tin tưởng. Cũng
vậy, chịu không chỉ là nhận lời, chịu còn là nài ép. Chuyện chưa nói ra
nhưng Kiều biết người nhận không dễ dàng chịu nhận nên nàng đã chủ động
1
Phân tích đoạn Trao duyên, Hình ảnh Ngoc trai, giếng nước, Bình Ngô
đại cáo,…
đưa Vân vào thế khó xử, tiến thoái lưỡng nan. Lời xưng hô nghiêm cẩn và
trang trọng của Thuý Kiều lại càng có tác dụng gây áp lực đối với Thuý
sao cũng mang danh là đã có chồng. Lí do thứ hai lại càng thuyết phục hơn.
Kiều đang nhờ Vân một điều mà chẳng ai nhờ vả bao giờ. Đã khó nhờ, khó
nhận thì vả chăng chỉ có là tình chị em máu mủ mới dễ đồng cảm, để rồi
"chấp nhận" cho nhau. Lí do thứ ba nghe sao như một lời khẩn cầu đầy chua
xót :
Chị dù thịt nát xuơng mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Không hẳn là lí do nhưng lại hoàn toàn hợp lí. Câu thơ khẩn cầu như một lời
trăng trối. Và có ai lại đang tâm từ chối ước nguyện của người thân sắp phải
thuộc về hoàn cảnh bấp bênh, khôn lường bất trắc ? Người ta nói Nguyễn Du
là người sâu sắc nước đời là ở những chỗ như vậy.
Duyên đã được trao, người "nhận" cũng không có lí do gì để từ chối. Thuý
Kiều trao kỉ vật cho em :
Chiếc vành với bức tờ mây,
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
3
Phân tích đoạn Trao duyên, Hình ảnh Ngoc trai, giếng nước, Bình Ngô
đại cáo,…
Thuý Kiều mất bao công sức để thuyết phục Thuý Vân nhưng chính lúc
Thuý Vân chấp nhận thì cũng là lúc Thuý Kiều bắt đầu chới với để cố níu
mình lại với tình yêu. Duyên đã khó trao, tình làm sao trao được ? Tìm về
với những kỉ vật thiêng liêng (chiếc vành, bức tờ mây, mảnh hương nguyền)
cũng là để được về với tình yêu của nàng. Những kỉ vật đẹp đẽ đó gắn liền
với những ngày đẹp nhất đời Kiều. Nó thiêng liêng khi nó chỉ là của riêng
nàng và Kim Trọng. Tình yêu không có người thứ ba, khi có người thứ ba,
sự thiêng liêng bắt đầu đổ vỡ. Câu thơ "Duyên này thì giữ vật này của
chung" thể hiện tâm trạng của Kiều xiết bao đau đớn. Tình yêu và niềm tin
đối với Thuý Kiều giờ đây đã hoàn toàn trượt mất.
Cố níu kéo tình yêu bằng kỉ vật (dù chỉ trong tâm tưởng), Thuý Kiều đành
ngậm ngùi đau xót nghĩ về tương lai :
cần phải đợi đến mười lăm năm. Ngay trong ngày phải đau đớn "trao
duyên", người đọc có thể thấy tình yêu trong lòng người con gái ấy không gì
có thể chia cắt nổi.
Đoạn trích bộc lộ nỗi đau, tình yêu và số phận bi kịch của Kiều. Qua nghệ
5
Phân tích đoạn Trao duyên, Hình ảnh Ngoc trai, giếng nước, Bình Ngô
đại cáo,…
thuật miêu tả nội tâm tài tình của Nguyễn Du, nỗi đau và vẻ đẹp tâm hồn của
nàng Kiều - người con gái tài sắc, tình nghĩa vẹn toàn - đã được thể hiện một
cách tinh tế và toả sáng lấp lánh.
PHÂN TÍCH Ý NGHĨA CỦA HÌNH ẢNH NGỌC TRAI - GIẾNG NƯỚC TRONG
TRUYỀN THUYẾT "AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU - TRỌNG THỦY"
Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thuỷ kết thúc với sự thất bại
của Âu Lạc, An Dương Vương đi vào lòng biển, Mị Châu, Trọng Thuỷ phải
chết. Tuy kết thúc có phần đau đớn song câu chuyện không vì thế mà quá bi
thương bởi trong sâu thẳm vẫn sáng lên niềm tin, chất nhân văn sâu sắc qua
hình ảnh “ngọc trai - giếng nước”.
Chúng ta có thể thấy rằng “ngọc trai - giếng nước” vừa là hình ảnh có giá trị
thẩm mĩ cao, vừa là một tình tiết đắt xét về phương diện tổ chức cốt truyện.
Nó là sự kết thúc duy nhất hợp lí cho số phận của đôi trai gái Mị Châu,
Trọng Thủy, cùng với sự thể hiện tư tưởng, tình cảm, cách đánh giá của
nhân dân đối với bi kịch tình yêu này nói chung, nhân vật Mị Châu nói
riêng.
Nàng Mị Châu bởi nhẹ dạ, cả tin làm nên nổi “cơ đồ đắm biển sâu”. Nàng đã
phải nhận lấy cái chết cho danh nghĩa một kẻ bất hiếu, phản nghịch Nhưng
sâu xa, tác giả dân gian đã thấu hiểu nỗi lòng một người con gái ngây thơ,
trong trắng vì tình yêu đã vô tình gây nên tội mà đã cho nàng được hoá
thành những viên ngọc trai. Những viên ngọc trai lấp lánh như đáp lại lời
cầu nguyện của nàng trước khi vua cha chém đầu. Nàng không phải là người
có lòng phản nghịch muốn hại cha, nàng là người có lòng trung hiếu nhưng
của công chúa Mị Châu. Hư cấu chi tiết này, người xưa còn muốn giảm nhẹ
bớt tội lỗi của nàng trong việc mất cảnh giác làm nước mất, nhà tan.
Để Mị Châu biến thành ngọc trai, Trọng Thuỷ tự vẫn nơi giếng nước và để
hình ảnh “ngọc trai - giếng nước” sáng là tạo nghệ thuật đẹp tới mức hoàn
mĩ. Đó chính là tấm lòng nhân đạo bao dung, nhân hậu của nhân dân. Nó thể
hiện truyền thống nhân văn sâu sắc.
Chúng ta không thể không nhắc tới Trọng Thuỷ. Một nhân vật với vị trí và
bản chất khá phức tạp trong cốt truyện.
Trọng Thuỷ là con Nam Việt vương Triệu Đà - luôn có âm mưu thôn tính
Âu Lạc. Trọng Thuỷ sang Âu Lạc với mục đích giảng hoà để đánh cắp nỏ
thần. Trước lúc cầu hôn Mị Châu, Trọng Thuỷ chưa hề có cảm tình mà chỉ là
toan tính. Đến khi trở thành vợ chồng với Mị Châu, tình yêu của Trọng Thuỷ
mới nảy nở. Nhưng ý thức làm con, làm tôi trung thành trong hắn vẫn lớn
hơn. Hắn dối lừa người vợ cả tin, ngây thơ của mình để đánh cắp nỏ thần,
thôn tính nước Âu Lạc, dồn An Dương Vương và Mị Châu đến bước đường
cùng. Hắn đúng là tên gián điệp nguy hiểm trong cái nhìn của cha ông chúng
ta. Hắn xứng đáng phải chịu nỗi ân hận vò xé tâm can khi dẫn đến cái chết
của người vợ yêu quí. Không có nổi khổ nào bằng sự day dứt lương tâm.
Bản án đích đáng của Trọng Thuỷ là cái chết trong nổi ám ảnh. Nhân dân đã
bày tỏ thái độ căm phẫn không tha thứ và không đội trời chung với kẻ cướp
nước. Kẻ cướp nước sẽ bị toà án lương tâm và lịch sử phán xét, sớm muộn
chúng sẽ thất bại thảm hại trong cuộc chién tranh chính nghĩa bảo vệ độc lập
dân tộc, chủ quyền quốc gia. Đấy là niềm tin mạnh mẽ của nhân dân trước
những thử thách của lịch sử.
8
Phân tích đoạn Trao duyên, Hình ảnh Ngoc trai, giếng nước, Bình Ngô
đại cáo,…
Song không vì lòng căm phẫn mà khiến dân gian đánh mất đi truyền thống
nhân văn sâu sắc của dân tộc. Hình ảnh “ngọc trai - giếng nước” chính là sự
khoan hồng, ân xá cho kẻ đã biết ân hận, khát khao được hoá giải tội lỗi như
bốn phần với những ý nghĩa sâu sắc khác nhau.
Chúng ta hãy cùng đến với đoạn mở của” Bình Ngô đại cáo”. Ở đoạn
này, tác giả đã khẳng định luận đề chính nghĩa ngay ở những câu đầu tiên:
“ Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Tác giả khẳng định nghĩa quân Lam Sơn chiến đấu chống giặc Minh là để
cuộc sống yên bình, là diệt trừ những thế lực tham tàn, bạo ngược, đó chính
là việc làm danh nghĩa. Sau đó, Nguyễn Trãi còn khẳng định nước ta là một
nước độc lập có chủ quyền, có lãnh thổ, phong tục, triều đại riêng…. Ở đây,
giọng thơ nghe sao tự hào quá đỗi. Phải chăng, đây chính là những dòng thơ
viết từ chính tiếng lòng hạnh phúc của Nguyễn Trãi, từ chính tấm lòng yêu
quê hương, đất nước cao đẹp:
“ Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”
Bằng những lí lẽ xác đáng, lập luận chặt chẽ, Nguyễn Trãi đã khẳng định
nghĩa quân Lam Sơn chống lại giặc Minh là việc làm nhân nghĩa, hợp với
10
Phân tích đoạn Trao duyên, Hình ảnh Ngoc trai, giếng nước, Bình Ngô
đại cáo,…
lòng dân, hợp với quy luật là chính nghĩa. Và lẽ dĩ nhiên, những việc làm
cao quý đó chỉ có thể xuất phát từ một lòng yêu nước, thương dân cao cả.
Vạch rõ, tố cáo những tội ác của giặc Minh chính là nội dung chính của
đoạn tiếp theo. Ở đây, Nguyễn Trãi đã liệt kê ra một loạt tội ác của giặc
Minh. Chúng không chỉ có âm mưu xâm lược nước ta mà còn thực hiện
nhiều chính sách thuế má, phuaphen nặng nề, vơ vét sản vật quý hiếm, diệt
xản xuất, sự sống, tàn sát dã man dân ta, làm cho dân ta lâm vào cảnh” khốn
cùng”.
“ Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”
Cuối cùng, sau khi liệt kê một loạt tội ác của giặc Minh, tác giả đã bộc lộ
Trong một loạt những cặp câu biền ngẫu, lối viết thậm xưng, nhạc điệu dồn
dập mạnh mẽ mang đậm chất anh hùng ca, tác giả đã nhấn mạnh được sự
thất bại thảm hại của giặc Minh và khí thế hào hùng của quân ta.
12
Phân tích đoạn Trao duyên, Hình ảnh Ngoc trai, giếng nước, Bình Ngô
đại cáo,…
Đoạn cuối, tác giả đã tuyên bố chiến thắng, khẳng định sự nghiệp chiến
đấu chính nghĩa đã thắng lợi hoàn toàn:
“ Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới “
Bằng giọng văn nhẹ nhàng khoan thai, tác giả đã tuyên bố nền hòa bình
của dân tộc ta đã được lặp lại. Đồng thời, tác giả cũng rút ra bài học lịch sử
và thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước.
Với nghệ thuật chính luận tài tình, cảm hứng trữ tình sâu sắc, “ Đại cáo
bình Ngô “ đã có sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính luận và yếu tố văn
chương, được xem là áng “thiên cổ hùng văn” của dân tộc ta. Ca ngợi sức
mạnh của truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, tinh thần tự lập tự cường nêu
bật sức mạnh của nhân dân ta, mở ra kỷ nguyên mới-kỉ nguyên hòa bình,
độc lập tự do cho lịch sử dân tộc chính là những ý nghĩa sâu sắc mà “Bình
Ngô đại cáo” mang lại.
“Đại cáo bình Ngô” tiêu biểu cho thể loại cáo, tiêu biểu cho thể loại văn
chính luận của Nguyễn Trãi. Bài cáo được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ
hai của dân tộc ta, thể hiện được khát vọng tự chủ độc lập, yêu chuộng hòa
bình.
Nguồn: Tiến Dũng
13
Phân tích đoạn Trao duyên, Hình ảnh Ngoc trai, giếng nước, Bình Ngô
đại cáo,…
Em hiểu thế nào câu thơ trong bài"Một khúc ca xuân":
"Nếu là con chim, chiếc lá
Tố Hữu, nhà thơ của lí tưởng cộng sản, một hồn thơ trữ tình, chính trị tiêu
biểu nhất trong phong trào thơ mới. Trong từng thi phẩm của mình, nhà thơ
luôn thể hiện cái chất men say hứng khởi với cách mạng, với cộng sản và lúc
nào ta cũng thấy pha vào đó là tính triết lí sâu xa. Tiêu biểu là đoạn thơ trích
trong "một khúc ca xuân"
"Nếu là con chim, chiếc lá
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không trả
Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình".
Bằng cách nói giả định "nếu thì" nhà thơ đưa ra hình ảnh rất gần gũi trog
cuộc sống: chim và lá. Tạo hoá sinh ra vạn vật và cũng đồng thời gán cho
chúng những trách nhiệm với cuộc sống. Bởi thế mà, đã là chim thì nhất
định "phải hót", còn lá thì "phải xanh". Mỗi buổi sớm khi ta thức dậy, tiếng
chim hót líu lo trên cành đưa ta hoà vào nhịp sống mới thật hào hứng và đầy
nao nức, con chim làm đẹp cho cuộc đời, tô đẹp cho cuộc sống bằng chính
tiếng hót lảnh lót du dương của mình. Còn chiếc lá vốn mang màu xanh căng
tràn sức sống, chiếc lá góp chút hương sắc cho đời bằng những bóng râm,
bằng những chấm xanh li ti trên nền trời bao la, thế giới sẽ thêm xinh tươi
hơn. Dù chỉ là những sinh vật nhỏ bé, nhưng đến con chim chiếc lá còn biết
cống hiến, làm đẹp cho cuộc sống. Bản thân chúng ta là con người, chả lẽ
"vay mà không trả"? Câu thơ nhắc nhở trách nhiệm của mỗi người. Từ khi
sinh ra ta đã nhận không biết bao nhiêu là thứ của cuộc sống, đến cả khi lớn
lên ta cũng không ngừng được nhận, cuộc sống đã hào phóng mà cho ta tất
15
Phân tích đoạn Trao duyên, Hình ảnh Ngoc trai, giếng nước, Bình Ngô
đại cáo,…
cả để từ đó ta tự xây dựng con đường đi riêng cho mình. Điều đó cũng có
nghĩa ta đã vay mượn quá nhiều. Quy luật của tự nhiên, đã vay thì phải trả,
và con người cũng không ngoại lệ. Chúng ta đã vay vậy thì phải trả, trả bằng
cách nào? Ấy là chính thái độ sống của mỗi người:
sống cho con người và muôn loài vật trên trái đất này. Ngay cả những sinh
vật hết sức nhỏ bé như thế, mà chúng còn biết hiến dâng những gì tốt đẹp
nhất, có ý nghĩa nhất giúp ích cho đời. Vậy, chúng ta là những con người
“Chúa tể của trần gian, kiểu mẫu của muôn loài” (Sêch-xpia), là “Hoa của
đất” (tục ngữ), là động vật duy nhất có trí tuệ và tâm hồn, chúng ta phải làm
gì và sống ra sao đây để cùng muôn loài tô điểm cho quê hương, đất nước,
cho “Trái đất này là ngôi nhà của chúng mình” ngày một tươi đẹp hơn”.
2) Con người chúng ta phải có lẽ sống đẹp. Mà sống đẹp là có “vay” có
“trả” và cao hơn nữa sống là cống hiến, hy sinh cho đời.
Muốn sống cho xứng đáng tên gọi thiêng liêng cao quý của mình “Con
người! Ôi hai tiếng ấy vang lên mới tự hào và kiêu hãnh làm sao!” (Gooc –
ki), mỗi chúng ta phải có lẽ sống đẹp. Nghĩa là phải biết ứng xử một cách
đẹp đẽ giữa người với người, giữa cá nhân với cộng đồng, với quê hương đất
nước. Nói như Tố Hữu, lẽ sống đẹp là lẽ sống có “vay” thì có “trả”, có
“nhận”, thì phải có “cho”, phải cống hiến hy sinh sức lực, tâm trí, thậm chí
là cả sự sống của mình cho đời, để đời ngày một “đàng hoàng”, “tươi đẹp
hơn”.
Mỗi chúng ta giờ đây được sống trên đời, hít thở khí trời, đứng thẳng hai
chân kiêu hãnh làm người, chúng ta đã được nhận quá nhiều từ công sinh
thành, nuôi dưỡng của cha mẹ, ông bà tổ tiên, từ tình yêu thương đùm bọc
của bà con, đồng bào, từ sự hy sinh của biết bao anh hùng liệt sĩ đã đổ máu
17
Phân tích đoạn Trao duyên, Hình ảnh Ngoc trai, giếng nước, Bình Ngô
đại cáo,…
xương để xây dựng quê hương và giữ gìn đất nước thanh bình tươi đẹp như
hôm nay… Điều đó cũng có nghĩa là chúng ta đã được thừa hưởng biết bao
thành quả của người đi trước để lại và người khác đem cho. Như thế là
chúng ta đã “vay”, đã “mắc nợ” người thân, nhân dân, đất nước nhiều rồi!
Là con người vốn giàu nhân cách và lòng tự trọng, lẽ nào chúng ta nhắm mắt
ắt quỵt được sao? Không! Chúng ta phải “trả”, hơn nữa phải “cho” nhiều
nghèo, cơ nhỡ có những điều kiện vật chất tối thiểu để hướng cuộc đời về
phía tương lai.
4) Phê phán lối sống chưa đẹp của một số bộ phận thanh niên.
Bên cạnh biết bao con người ngày đêm miệt mài học tập, lao động, cống
hiến tài năng sức lực cho xã hội, đất nước, thì có một bộ phận không nhỏ của
thanh niên lại chỉ biết “vay” và “nhận”, thậm chí còn “nhận” quá nhiều mà
không chịu “trả”. Họ đua đòi theo con đường ăn chơi hưởng lạc: đến với vũ
trường, tìm đến “nàng tiên nâu”,“cái chết trắng”, để tiêu vèo hết cuộc đời
trong chốc lát, vì những thú vui vô nghĩa mà không hề biết hổ thẹn. Những
người có lối sống ích kỷ và bất nhân, vô ơn bạc nghĩa ấy thật đáng phê phán,
lên án, phỉ nhổ.
III/ Kết luận
Như vậy, mấy câu thơ giản dị của Tố Hữu đã thể hiện một lẽ sống biết
“vay”-“trả”; “cho”-“nhận” đúng lương tâm và đạo lí rất đẹp của người Việt
Nam xưa nay. Hiểu được lẽ sống đó, mỗi chúng ta, ở từng cương vị cuộc
sống khác nhau, hãy cống hiến hết sức mình, hãy “cho” thật nhiều và gắng
làm “Một mùa xuân nho nhỏ, lặng lẽ dâng cho đời” như nhà thơ Thanh Hải
đã viết.
Anh (chị) hãy phân tích bài ca dao sau:
19
Phân tích đoạn Trao duyên, Hình ảnh Ngoc trai, giếng nước, Bình Ngô
đại cáo,…
“Ngày nào em bé cỏn con
Bây giờ em đã lớn khôn thế này
Cơm cha áo mẹ, chữ thầy
Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao”
Hai câu đầu nói lên một quá trình trưởng thành của “em”, đứa con trong gia
đình, người học trò dưới mái trường. Câu ca như một lời tâm tình. “Em”
đang thổ lộ tâm sự cùng chúng ta:
“Ngày nào em bé cỏ con,
linh, công ơn của mẹ cha, của thầy như đinh nhinh, như khắc cốt ghi tâm, có
bao giờ có thể quên được? Biện pháp liệt kê được vận dụng sáng tạo, mỗi vế
câu là một sự ân tình nặng nghĩa đối với cuộc đời của “em”, một đứa con
trong gia đình, một người học trò ngoài xã hội. Đọc câu ca lên, lúc nào ta
cũng thấy nhiều rung động, thấm thía:
'Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy'
“Cơm, áo, chữ” là 3 hình ảnh cụ thể mang tính chất điển hình ca ngợi
công ơn trời biển của mẹ cha và thầy cô giáo, một lối nói ít mà gợi nhiều.
Công ơn cha mẹ đâu chỉ là “cơm” và “áo”? “Cơm” và “áo” mang tính chất
tượng trưng cho công cha nghĩa mẹ. Mẹ mang nặng đẻ đau, bú mớm nâng
niu, nuôi con khôn lớn với tất cả tình yêu thương, lòng mẹ bao la như biển
cả. Cha thức khuya dậy sớm, làm lụng vất vả để nuôi con, dạy bảo con nên
người. Con là hạnh phúc và hy vọng của mẹ cha. Công cha nghĩa mẹ không
thể nào kể xiết. Bởi vậy mới có những câu ca:
“Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.
Hay: “Lên non mới biết non cao,
Nuôi con mới biết công lao mẹ thầy”.
21
Phân tích đoạn Trao duyên, Hình ảnh Ngoc trai, giếng nước, Bình Ngô
đại cáo,…
Hay: "Có cha có mẹ còn hơn
Không cha không mẹ như đờn đứt dây"
Hay: "Còn cha gót đỏ như son
Đến khi cha mất gót con đen xì"
Trên đời này, cổ kim, đông tây có người nào khôn lớn, trưởng thành
mà không có sự giáo dục của ông thầy? Người thầy là nhân vật trung tâm
của nền giáo dục. Thầy dạy chữ, dạy văn hóa, khoa học kỹ thuật, dạy đạo
đức… Nhờ có sự dạy dỗ của thầy mà học sinh, thế hệ trẻ của đất nước mới
trở nên tài giỏi, có nhân cách văn hóa biết đem tài năng góp phần xây dựng
Muốn con hay chữ thì yêu kính thầy”.
Gia đình là tế bào của xã hội. Trường học là cái nôi đào tạo nhân tài
cho đất nước. Cha, mẹ và thầy là ba hình ảnh gần gũi, thân thiết nhất đối với
mỗi con người, nhất là thế hệ trẻ. Ơn sinh thành của cha mẹ,. ơn giáo hóa
của thầy cô giáo đối với chúng ta vô cùng sâu nặng.
Đây là bài ca dao hay nhất trong những bài ca dao nói về chủ đề tình
nghĩa và lòng biết ơn. Tình cảm gia đình gắn liền với tình cảm xã hội. Ngôn
từ giản dị, dễ hiểu, tình cảm chân thành sâu sắc. Âm điệu của vần thơ lục bát
ngọt ngào, êm ái như lời ru, điệu hát tâm tình. Nhà thơ dân gian đã đề cao
chữ hiếu và sự tôn sư trọng đạo để giáo dục chúng ta. Lòng hiếu thảo là cái
gốc của đạo lý làm người. Tôn sư trọng đạo là truyền thống cao đẹp của dân
tộc ta. Điều đó cho thấy vẻ đẹp nhân văn tỏa sáng trong bài ca dao này bởi
lẽ, tính giáo dục của nó rất sâu sắc. Nó bồi đắp tâm hồn ta về đạo hiếu, đạo
học. Lời tâm sự của “em” cũng là của mỗi chúng ta vì đó là nỗi lòng, điều
tâm sự. Nó mãi mãi như một thông điệp màu xanh gửi đến mọi đứa con, gửi
đến mỗi người học trò… Nó như một kỷ vật đẹp trong hành trang của tuổi
thơ trên lộ trình đi tới mọi chân trời xa xôi và hy vọng.
23
Phân tích đoạn Trao duyên, Hình ảnh Ngoc trai, giếng nước, Bình Ngô
đại cáo,…
Đề bài: Hóa thân vào nhân vật Tấm, kể lại cuộc đời Tấm khi ở
với bà lão hàng nước.
Bài làm
Tôi đã bị mẹ kế của tôi hãm hại. Tôi đã phải chịu nhiều bất hạnh, phải trải
qua những kiếp không phải là người: Chim Vàng Anh, Cây Xoan đào,
Khung cửi. Tôi cũng chỉ mong muốn được tồn tại bên người chồng luôn yêu
thương và dành cho tôi tất cả. Kể từ ngày cha mẹ tôi không còn nữa thì
chàng là người thân thương duy nhất mà tôi có được. Vậy mà mẹ con cái
Cám đâu có để tôi được sống. Họ đã truy sát, đã tận diệt tôi dù tôi đâu có
còn hình hài của con người. Tôi phải nương nhờ vào ai đây để còn mong có
Thấm thoắt tôi đã ở nhà bà lão gần một tuần trăng. Hàng ngày tôi đều
giúp bà việc nhà nhưng không để bà biết. Bà vẫn luôn nâng niu và thì thầm
trò chuyện cùng tôi mỗi tối.
Trưa hôm ấy, mọi việc đã xong. Tôi ngồi xõa tóc, chải đầu và khe khẽ hát.
Bỗng tôi giật mình vì ai đó nắm tay. Tôi ngước nhìn lên. Bà lão đã về từ lúc
nào, đang nắm tay tôi và cười thật phúc hậu. Bà nói:
- Sao con cứ giấu bà mãi thế! Hôm nay bà nhỡ chuyến hàng nên đã về sớm
hơn mọi khi. Có thế bà mới gặp được con. Con xinh đẹp và chăm chỉ khéo
tay lắm! Hãy ở đây với bà. Đừng biến đi nữa nhé!
Tôi thưa:
- Bà ơi, con cũng không muốn trốn bà mãi thế! Nhưng con sợ mẹ con nhà
Cám mà biết con còn sống, họ sẽ tìm đến để giết con bằng được mới thôi.
Họ ác lắm bà ạ! Như vậy lại còn liên lụy đến bà nữa!
Bà lão hiền từ bảo:
- Con cứ ở lại đây với bà! Làm con gái của bà. Con đừng sợ gì cả. Mình ở
25