Khí tượng hải dương học - Chương 2 - Pdf 21


42
Chương 2
CÁC HIỆN TƯỢNG VÀ HỆ THỐNG
THỜI TIẾT BIỂN VIỆT NAM
Vùng biển nước ta nằm trong vùng nội chí tuyến, là nơi giao lưu của các
loại hình thời tiết, trong đó có thời kỳ do một hệ thống thời tiết khống chế, có
thời kỳ xen kẽ hoạt động của một số hệ thống. Để hiểu rõ thêm sự hoạt động của
các hệ thống thời tiết, chúng ta cần nắm một số khái niệm mang tính chất về
đặc
điểm cơ cấu, cấu trúc của chúng.
2.1. Khối khí và hoàn lưu khí quyển
2.1.1. Khối khí
a, Khái niệm về khối khí
Khối không khí hay còn gọi là khí đoàn và những bộ phận không khí cỡ
lớn chiếm cứ trên một phạm vi rộng của lục địa hay đại dương. Đặc trưng nổi
bật của khối khí là có sự phân bố các yếu tố khí tượng, điển hình là nhiệt độ và
độ ẩm tương đối đồng nhất theo phương ngang. Từ đó, hai yếu tố này được coi
nh
ư chỉ tiêu để xác định đặc tính thời tiết của các khối khí.
Nguồn gốc hình thành các khối khí có hai nguyên nhân chính là tính chất
“mặt đệm” và bức xạ mặt trời. Nơi phát sinh các khối khí gọi là “ổ phát sinh”.
b, Phân loại khối khí
Người ta thường phân loại các khối khí theo các cơ sở như sau:
- Phân loại theo khu vực địa lý hình thành các khối khí. Theo cách phân
loại này bao gồm các khối khí như: khối khí cực đới, khối khí ôn đới, khối khí
nhiệt đới, khối khí xích đạo.
Ngoài ra, có thể kết hợp với tính chất mặt đệm mà điển hình là bề mặt lục
địa và biển để phân loại khối khí. Ví du: khối khí nhiệt đới biển, khối khí ôn đới
lục địa.v.v.
- Phân loại theo tính chất các yếu tố khí tượng mà điển hình là nhiệt độ và

Đây là mô hình đơn giản hóa về hoàn lưu khí quy
ển. Giả thiết rằng, bề
mặt trái đất có tính chất mặt đệm đồng nhất, không có sự tác động của lực làm
lệch hướng. Từ đó, dưới tác dụng của bức xạ mặt trời sẽ hình thành sự phân bố
các trung tâm nhiệt – áp đơn giản: tại vùng xích đạo nhiệt độ cao, tồn tại dải áp
thấp còn ở vùng cực, nhiệt độ thấp và tồn tại áp cao.
Không khí trên b
ề mặt sẽ chuyển động từ hai cực về xích đạo nóng lên và
bốc lên cao rồi tuần hoàn trở lại đi xuống vùng cực hình thành hoàn lưu khép
kín dạng “kinh hướng”. Hình 2.1 dưới đây mô tả dạng hoàn lưu giả thiết.
Hình 2.1. Mô hình hoàn lưu giả thiết

44
b, Mô hình hoàn lưu khí quyển thực tế
Trong thực tế, bề mặt trái đất có cấu trúc mặt đệm rất đa dạng mà điển

N đến 60
0
N có hướng Tây Nam (SW), từ vĩ độ 35
0
N đến xích đạo có hướng
Đông Bắc (NE).

45
Trên cao, ở từng khu vực, hoàn lưu có hướng ngược lại, theo quy tắc vùng
áp cao dòng khí đi xuống, vùng áp thấp không khí chuyển động lên cao. Tóm
lại, mô hình hoàn lưu khí quyển thực (áp dụng điển hình cho Bắc bán cầu) sẽ có
dạng như sau:
- Trên bề mặt từ cực đến vĩ độ 60
0
N hoàn lưu có hướng Đông Bắc (NE),
trên cao có hướng ngược lại (SW).
- Từ vĩ độ 30
0
– 35
0
N trên bề mặt hoàn lưu có hướng Tây Nam (lệch Tây),
trên cao có hướng ngược lại (đáng chú ý là ranh giới giữa vùng này và vùng chí
tuyến xuất hiện vùng gió Tây với vận tốc hàng trăm km/h “vĩ độ ngựa” ở độ cao
≈ 20km).
- Từ vĩ độ 30
0
– 35
0
N đến xích đạo trên bề mặt hoàn lưu có hướng NE,
trên cao có hướng SW (thiên về Tây như đã nói ở trên).

trăm km và đôi khi chỉ trong phạm vi vài km. Giao tuyến của vùng front trên bề
mặt tại thành đường front.

46
Do mật độ không khí khác nhau và được hình thành trong quá trình động
nên front tồn tại khí quyển sao cho không khí lạnh ở dưới, không khí nóng ở
trên mặt front.
Sự tan front gắn liền với sự biến tính của khối khí, vì do biến tính, các yếu
tố khí tượng dần dần được cân bằng làm mất tính đối kháng.
b, Phân loại và ký hiệu front
Việc phân loại front có thể dựa trên các cơ sở:
* Theo khu vực địa lý tồn tại của front, người ta chia thành các loại:
- F c
ực là F ngăn cách giữa khối khí cực đới và khối khí ôn đới;
- F ôn đới là F ngăn cách giữa khối khí ôn đới và khối khí nhiệt đới;
- F nhiệt đới là F ngăn cách giữa khối khí nhiệt đới và khối khí xích đạo.
* Phân loại dựa theo sự di chuyển của các khối khí đồng thời front cũng di
chuyển, theo cơ sở này front được phân loại thành hai loại cơ bản:
- Front nóng là front được hình thành khi khối không khí nóng di chuyển
gần lại khố
i không khí lạnh.
- Front lạnh là front được tạo thành khi có khối không khí lạnh di chuyển
đến vùng không khí nóng. Trong front lạnh, nếu không khí lạnh di chuyển chậm
gọi là front lạnh loại 1, nếu không khí lạnh di chuyển nhanh gọi là front lạnh loại 2.
Ký hiệu front trên bản đồ thời tiết thường được vẽ bằng đường chì đen
đậm nét với các răng cưa nhọn nếu là front lạnh và các răng cưa hình bán nguyệt
với front nóng. Ký hiệu hai loại front được mô tả
ở hình 2.3.
mặt front ở đây dốc hơn. Vì vậy, ngay tại đây có một bộ phận không khí nóng bị
đẩy lên cao theo chiều thẳng đứng hình thành mây Vũ tích (Cb), tiếp theo không
khí nóng tiế
p tục trượt trên mặt front lạnh đi lên hình thành các loại mây Vũ
tầng (Ns), mây Trung tầng (As), Ti tầng (Cs) song thứ tự xuất hiện sẽ ngược lại
so với front nóng. Hệ mây front lạnh loại 1 được mô tả ở hình 2.5.
Front lạnh đi qua cũng gây ra gió giật mạnh, vùng có mây vũ tích gây
mưa rào, giông và có thể có lốc xoáy, nhiệt độ hạ đột ngột, áp tăng lên, sau đó
thời tiết hoàn toàn do khối không khí lạnh chiếm cứ khống chế
.

Hình 2.4. Hệ mây trong front nóng
c, Thời tiết trong front lạnh loại 2
Khi sự chênh lệch lớn về nhiệt độ và khí áp giữa khối không khí lạnh đi
tới và khối không khí nóng địa phương, không khí lạnh di chuyển nhanh tới đẩy
không khí nóng trước front chuyển động hầu như thẳng đứng lên cao đột ngột,
không khí nóng phía sau trườn xuống thay thế. Vì vậy, trước front lạnh khoảng
50 – 100 km xuất hiện vùng hạ áp và mây Vũ tích (Cb) gây giông, mưa rào. Khi
front lạnh đi qua có mây Tầng tích (Sc), mây Tích (Cu), Trung tích (Ac) và có

48
thể có mây Vũ tích nếu xuất hiện các front lạnh phụ, sau đó mây cao dần và trời
trong sáng (hình 2.6).
Như vậy, thời tiết trong front tuy phạm vi hẹp và thời gian xảy ra ngắn,
song là sự thay thế giữa hai hệ thống khác biệt nhau nên thường xảy ra đột ngột
và xấu nên cần phải theo dõi đề phòng. Hình 2.5. Hệ mây front lạnh loại 1

Hình 2.7. Cấu trúc theo phương ngang và thẳng đứng của dải HTNĐ
2.3.2. Đặc điểm hoạt động của dải hội tụ ở vùng biển Việt Nam

Vào đầu mùa hè, khi đới gió Tây Nam vượt qua xích đạo lên Bắc bán cầu,
đồng thời áp cao phó nhiệt đới cũng phát triển mạnh bành trướng xuống phía Nam
sẽ hình thành vùng hội tụ gió. Sự di chuyển của dải hội tụ cơ bản phụ thuộc vào vị
trí của áp cao phó nhiệt đới và sự tăng cường của gió Tây Nam.
Vị trí trung bình của dải hội tụ đi qua vịnh Thái Lan vào tháng 5, sang
tháng 6 đi qua vùng vĩ độ 10
0
N – 12
0
N (Nam Trung Bộ). Sang tháng 7, vị trí dải
hội tụ trải dài từ đồng bằng Bắc Bộ vắt qua đảo Hải Nam. Tới tháng 8, 9, vị trí
cao nhất của dải hội tụ đi qua Bắc vĩ tuyến 20
0
N. Từ cuối tháng 9 dải lùi xuống
phía Nam và tới tháng 10, 11 hoạt động ở vùng vĩ độ 9
0
÷ 10
0
N sau đó dải lùi

mạnh, gió Đông Bắc có thể kéo dài 5 đến 7 ngày.
Điều đáng chú ý là trước gió mùa Đông Bắc thường có front l
ạnh hoạt
động, gây ra thời tiết xấu, đặc biệt là các đợt gió hoạt động đầu và cuối mùa
(tháng 9, 10 và tháng 4) phải đề phòng thời tiết nguy hiểm có thể xảy ra do front
lạnh mang tính chất loại 2 gây ra.
2.4.2. Chế độ gió mùa Tây Nam
Ngược với cơ chế gió mùa Đông Bắc là cơ chế gió Tây Nam. Vào đầu
mùa hè, ở Bắc bán cầu có sự chênh lệch khí áp với Nam bán cầu, từ đó không
khí từ phía Nam vượt qua xích đạo lên Bắc bán cầu lệch hướng sang phải tạo
thành gió Tây Nam. Do ảnh hưởng của địa hình nên từng khu vực gió Tây Nam
lệch sang Tây hoặc Nam. Từ tháng 5, tháng 6 gió Tây Nam hoạt động từ Nam
biển Đông lan dần lên Bắc biển Đông và đến đầu tháng 8 bao trùm hầ
u hết các
vùng biển Đông.
Cường độ gió Tây Nam có yếu hơn gió Đông Bắc. Ngoài khơi có thể có
gió cấp 6, cấp 7. Do nguồn gốc gió Tây Nam từ vùng biển phía Nam xích đạo
thổi lên nên có nhiệt độ cao, giàu độ ẩm. Vì vậy, mùa gió Tây Nam thường kèm
theo mùa mưa và sự tăng nhiệt độ không khí. Cũng do ảnh hưởng của địa hình

51
núi cao phía biên giới Việt Nam – Lào – CamPuChia khi gió mùa Tây Nam hoạt
động thường gây ra hiện tượng “Phơn” - gió khô, nóng ở Tây Nguyên, Nam
Trung bộ -Trung bộ và Thanh - Nghệ – Tĩnh (gió Lào).
Khác với gió mùa Đông Bắc, gió mùa Tây Nam thường bị gián đoạn bởi
các hiện tượng thời tiết như gió Đông, Đông Nam từ áp cao phó nhiệt đới (Thái
Bình Dương) hoạt động xen kẽ trong tháng 4, tháng 5 hoặc thời tiết trong áp
thấp nhiệt đới, bão lấn át sự thịnh hành của gió Tây Nam.
2.5. Các hiện tượng thời tiết quy mô nhỏ
2.5.1. Gió đất - Gió biển

a,Giông
Về bản chất, giông là hiện tượng phóng điện trong khí quyển. Sự phóng
điện này liên quan đến sự hình thành các điện trường trong các đám mây giông
(Cb), điện trường cảm ứng giữa các đám mây và giữa mây với bề mặt trái đất. Tia
lửa điện được phóng ra trong các đám mây hoặc giữa các đám mây gần nhau ta gọi
là Chớp, giữa mây với các vật thể trên bề mặt trái đấ
t gọi là Sét. Trong quá trình tia
lửa điện với điện áp hàng ngàn vôn phóng ra trong không khí làm cho không khí
nóng lên đột ngột gây ra sự giãn nở và phát ra tiếng nổ, ta gọi là Sấm, Sét.
Vì giông được sinh ra do sự phát triển mạnh của các đám mây Vũ tích (Cb)
nên kèm theo hiện tượng phóng tia lửa điện là gió xoáy giật mạnh có thể tới cấp 6,7,
mưa rào và có thể có mưa đá. Cơn giông hình thành và di chuyển gắn với sự di
chuyển của đám mây giông vớ
i tốc độ trung bình khoảng 40 km/h. Vì vậy, trên biển
khi phát hiện đám mây giông cần khẩn trương chuẩn bị cho tàu cơ động tránh giông.
Mây giông (mây Vũ tích – Cb) được hình thành do đối lưu của không khí phát
triển mạnh. Như trong phần (1.3) đã nói, mây Cb có thể được hình thành do đối lưu
nhiệt hoặc đối lưu động lực. Vì vậy, vào những ngày hè oi bức, cần đề phòng giông
nhiệt và trong thời gian hoạt động của dải hội tụ nhiệ
t đới hay trước gió mùa Đông
Bắc là lúc có đối lưu phát triển mạnh, hình thành mây Vũ tích (Cb).
b, Tố (đường tố)
Tố là hiện tượng gió mạnh đột ngột với sức gió trên dưới 100 m/s hình
thành ở dưới các đám mây Vũ tích phát triển khi có đối lưu và loạn lưu ở phần
dưới các đám mây Cb bay thấp.
Trong trường hợp không khí lạnh tràn vào vùng không khí nóng ẩm và
đẩy không khí nóng ẩm lên cao một cách đột ngột tạo thành các đám mây vũ
tích đen đặc, chân mây tối sẫm, tơi tả, hình dạng thay đổi nhanh báo hiệu một
vùng xoáy có trục nằm ngang đang hình thành một cơn tố. Phạm vi tác động của
tố thường gây ra một vệt hẹp chừng vài trăm mét song có thể kéo dài hàng chục,

trung bình 1010mb). Sự chênh lệch
khí áp đó tạo nên một s
ức hút rất
mạnh, có thể nâng các vật nặng hàng
chục tấn rời đi xa, hút các vật thể nhẹ
lên mây và di chuyển đi các vùng
khác làm rơi xuống trong các trận
“mưa cá”, “mưa tiền”.
Sức gió xoáy giật cực mạnh
cùng với sức nâng hút lớn của vòi rồng
đã gây ra tác hại rất nghiêm trọng dù kích thước vòi rồng chỉ cỡ mấy chục đến
vài trăm mét và thời gian hoạt động trong vài chục phút.
Vòi r
ồng thường xuất hiện ở phía Tây Nam của các đám mây giông khi
mây phát triển mạnh, chân mây tơi tả, luôn thò xuống các vệt như dạng móng
vuốt (mống của vòi rồng), các mống này dần lan xuống thấp tạo nên các vòi
hình phiễu hút nước lên mây (hình 2.10).
Giông, tố, lốc, vòi rồng là những hiện tượng thời tiết nguy hiểm qui mô
nhỏ, hình thành bất chợt và khó dự báo trước. Tuy vậy, các hiện tượng trên đều
liên quan đến sự hình thành và phát triển c
ủa mây giông (mây Vũ tích – Cb). Vì
Hình 2.10. Mô tả đám mây mang vòi
rồng trên biển 54
vậy, để phòng tránh thiệt hại cần tổ chức quan sát sự phát triển và di chuyển của
các đám mây giông bảo đảm an toàn cho người và phương tiện khi hoạt động
trên biển.
2.6. Bão nhiệt đới

2. Áp thấp nhiệt đới: đặc trưng bởi vùng áp thấp có hai đường đẳng áp
đóng kín với sức gió m
ạnh nhất dưới 17 m/s (không vượt quá cấp 7).
3. Bão nhiệt đới: đặc trưng bởi vùng áp thấp có từ ba đường đẳng áp đóng
kín trở lên, với sức gió mạnh nhất từ 17 m/s đến 32 m/s (từ cấp 8 đến cấp 11).
4. Cuồng phong nhiệt đới: đặc trưng bởi các áp thấp có nhiều đường đẳng
áp khép kín, với sức gió mạnh nhất từ 33 m/s trở lên (từ cấp 12 trở lên).

55
Tổ chức khí tượng thế giới (WMO) chia xoáy thuận nhiệt đới thành 4 loại sau:
1. Áp thấp nhiệt đới (Tropical Depression – TD): là các xoáy thấp có gió
mạnh từ 14 m/s đến 17 m/s.
2. Bão (Tropical Storm – TS ) có gió mạnh từ 17 m/s đến 24 m/s.
3. Bão vừa (Severe Tropical Storm - STS): có gió mạnh từ 25 m/s-32 m/s.
4. Bão mạnh (Typhoon ; Hurricane): có gió mạnh trên 32 m/s.
Cách đặt tên cho từng cơn bão, theo tổ chức khí tượng thế giới (WMO) thì
từ năm 1960 một bảng danh sách gồm 84 cơn bão định sẵn cho 4 năm (mỗi năm
21 tên) theo vần chữ cái
đầu tên của phụ nữ khá đẹp và thông dụng ở phương
Tây (Bảng chữ cái tiếng Anh- trừ mấy vần Q,U,X,Y,Z). Đến năm 1979, theo
yêu cầu của Liên đoàn phụ nữ Thế giới, bảng danh sách trên được lập lại cũng
gồm 84 tên song không phải hoàn toàn tên của phụ nữ mà xen kẽ tên của một
phụ nữ, một tên nam giới.
Từ năm 2000, được sự đồng ý của Tổ chức Khí t
ượng thế giới, các quốc
gia và vùng lãnh thổ ở Tây Thái Bình Dương gồm 14 quốc gia và vùng lãnh thổ
được lập một bảng tên bão riêng gồm 140 tên bão (mỗi quốc gia được chọn 10
tên bão). Các tên bão có thể là các danh lam, thắng cảnh, di tích lịch sử , các địa
danh tiêu biểu, các anh hùng dân tộc, các vị thần thánh, các động thực vật quý
hiếm.v.v. (bảng 2.1).

Macao
Chan chu Wutip Vongfong Parma Muita
Malayxia
Jelawat Sepat Rusa Melor Merbok
Micronexia
Ewinlar Fitow Sinlaku Nepartak Nanmaldol
Philippines
Bilis Danas Hagupit Lupit Talas
Hàn Quốc
Gaemi Nari Changmi Sudal Noru
Thái Lan
Prapiron Vipa Magkhla Nida Klarb
Mỹ (USA)
Maria Francisco Higos Omais Roke
Việt Nam Sao Mai Lêkima Ba Vì Côn Sơn Sơn Ca
CamPuChia
Bopha Krosa Maysak Chanthu Nesat
Trung Quốc
Wukong Haiyan Haishen Dianmu Haitang
CHDCND
Triều Tiên
Sonamu Podun Pongsona Mindule Nalgae
Hồng Kông
Shanshan Lingling Yanyan Tingting Banban
Nhật Bản
Yagi Kaziki Kuzira Kompasu Washi
Lào
Xangsane Fasai Chanhom Namthen Matsa
Macao
Benbica Vamei Limfa Malou Sanvu

57
một số điều kiện hình thành bão như sau:
- Ở vùng biển nóng (xích đạo và cận xích đạo) do không khí và bề mặt
biển có nhiệt độ cao, hơi nước bốc hơi nhiều, lại ở vào vùng gió yếu tạo điều
kiện cho không khí nóng ẩm bốc lên cao.
Với lượng hơi nước dồi dào, quá trình đi lên của không khí liên tục phát
triển nhờ lượng nhiệt tỏa ra do sự ngưng kết. Từ
đó tạo thành một vùng thấp áp,
không khí từ các khu vực xung quanh sẽ tràn tới bù vào chỗ trống do không khí
bay lên tạo thành các dòng khí.
- Có sự hội tụ (giao nhau) của hai khối không khí nóng lạnh từ hai phía
tạo nên một hoàn lưu xoáy thuận.
- Để duy trì hoàn lưu xoáy, cần phải có sự tác động của lực làm lệch
hướng Koriolis (như trong chương 1 đã phân tích lực Koriolis phụ thuộc vào vĩ
độ), vì vậy vùng xoáy phải được hình thành ở khu vực vĩ độ
địa lý ϕ đủ lớn để
lực Koriolis có tác dụng làm lệch hướng gió để duy trì xoáy.
Tóm lại, từ các điều kiện trên, ta có thể nói rằng, bão thường hình thành
trên vùng biển nóng với nhiệt độ nước biển tầng mặt phải cao, trung bình từ 26
0

÷ 27
0
C trở lên và trong khoảng vĩ độ từ 5
0
N,S đến 20
0
N,S cùng với sự tác động
của một nhiễu động hội tụ của hai đới gió.
Như đã phân tích ở trên, với các điều kiện đó, một cơn bão có thể hình

(khu vực 3), gần đảo Madagatska ở bờ biển đông Nam châu Phi (khu vực 4). Tại
đây bão thường hoạt động từ tháng 6 đến tháng 11.
- B
ắc Đại Tây Dương tại vùng biển Caribe, quần đảo Ăngti và vịnh
Mecxich, bão thường hình thành từ tháng 6 đến tháng 11 (khu vực 5). 58
2.6.2. Cấu trúc của bão
a, Cấu trúc nằm ngang
Bão nhiệt đới có cấu trúc đối xứng trên mặt phẳng ngang và mặt phẳng
thẳng đứng. Vùng bão trên bản đồ thời tiết (bản đồ Sy nốp) được thể hiện bởi
các đường đẳng áp khép kín dưới dạng những vòng tròn (hay gần tròn) đồng
tâm. Đường đẳng áp ngoài cùng được tính là giới hạn của bão. Khoảng cách từ
tâm bão đến vùng mà ở đó tốc độ gió đạt cấp 6 (14 m/s) được gọ
i là bán kính gió
xoáy của bão. Bão ở Đại Tây Dương có bán kính trung bình 100 ÷ 400km, bão ở
Thái Bình Dương có bán kính xoáy trung bình 200 ÷ 900 km.
Với một cơn bão phát triển mạnh nhất thì khoảng không gian trên bề mặt
nằm ngang của bão có thể phân chia thành 4 vùng tính từ tâm bão trở ra (hình 2.12)
Vùng yên tĩnh (1) được gọi là “mắt bão” là khu vực tâm bão. Kích thước
trung bình trong khoảng 18 ÷ 55 km, ở vùng này, gió rất yếu hay lặng gió, trời ít
hoặc quang mây. Bề rộng trung bình của mắt bão khoảng 30 km. Theo hình
dáng thì ta tưởng tượng quanh mắt bão hình thành một “bức t
ường thành” bằng
những đám mây ngăn cách vùng gió bão và vùng yên tĩnh. Về hình dáng của
mắt bão, nếu trục bão thẳng đứng thì mặt cắt ngang của mắt bão hình tròn, còn
nếu trục nghiêng thì mắt bão có dạng Ô van.
Theo sự nghiên cứu của các nhà khí tượng, vùng mắt bão thường xuất
hiện rõ nét theo sự mạnh lên của cường độ hoàn lưu xoáy trong bão. Người ta có

90
60
30
0
30
60
90
150120906030 0306090120 150
90
150 120 90 60 30 0 30 90 120 15060
Hình 2.11. Các ổ bão và đường đi của bão trên thế giới 60
4
3
2
1 Hình 2.12. Sơ đồ mặt cắt ngang
của một cơn bão
1. Mắt bão (vùng yên tĩnh)
2. Vùng gió bão và mưa cực đại
3. Vùng gió xoáy cấp 6, 7
4. Vùng ngoài cùng của bão.
Về đặc điểm cần chú ý trong mắt

ường nói “bao giờ gió xong đủ bốn hướng thì hết bão”. Trên bản đồ thời tiết,
mắt bão thường biểu thị bởi dấu hiệu (
) tại vị trí trung tâm của bão.

Hình 2.13. Mô hình mắt bão
Vùng gió bão và mưa cực đại (2) đối với một cơn bão phát triển mạnh cỡ
trên cấp 11 thì vùng gió bão và mưa cực đại (bán kính gió xoáy đạt cấp 10) có
bề rộng tính từ rìa mắt bão trong khoảng từ 50 đến 150 km. Trong đó gió giật dữ
dội và mưa rất to ở sát mắt bão trong phạm vi rộng từ 30 đến 40 km, sau đó
cường độ vẫn m
ạnh và giảm dần khi cách tâm khoảng 150 km. Sức gió cực đại
ở vùng gần tâm có thể vượt quá 50 m/s, lượng mưa trên 500 mm. Có cơn bão
như ở Đài Loan đạt tới 1300 mm trong một ngày đêm và ở Philippin đạt 2200
mm trong hai ngày đêm. Lượng mưa thường tập trung ở nửa phía sau của cơn
bão nên khi tâm bão đi qua thường có mưa dữ dội và kéo dài.
Vùng gió xoáy cấp 6, cấp 7 (vùng 3), vùng này thường cách trung tâm bão
150 đến 200 km, gió suy giảm dần xuống cấp 7, cấp 8, ít giật hơn và t
ốc độ

hoàn lưu xoáy có bán kính tới 900 km thì ở độ cao 5,5 km chỉ còn 400 ÷ 600 km; ở
độ cao 9 km còn 200 ÷ 400 km và ở độ cao 13,5 km còn khoảng 100 ÷ 200 km.
2.6.3. Một số đặc điểm của bão ở tây Thái Bình Dương
a, Khu vực hình thành bão
Xét về không gian rộng lớn, bão Tây Thái Bình Dương được hình thành
chủ yế
u trong khu vực từ 5
0
- 25
0
vĩ độ Bắc và từ 111
0
– 170
0
kinh độ Đông.
Tuy nhiên, qua khảo sát 497 cơn bão và 93 ATNĐ trong 18 năm (từ 1980 đến
1997), các nhà khí tượng đã chỉ ra một cách cụ thể hơn các khu vực tập trung
hình thành bão căn cứ vào vĩ độ, được thể hiện vào bảng 2.2.
b, Thời gian hình thành
Nếu xét sự hình thành của bão Tây Thái Bình Dương thì hầu như quanh
năm có bão và ATNĐ, tuy nhiên thời gian tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến
tháng 11, trong đó nhiều nhất là tháng 8 và tháng 9.
Kết quả nghiên cứu 18 n
ăm về 590 cơn bão và ATNĐ ở khu vực này cho
ta biết thời gian và khu vực hình thành cụ thể theo bảng 2.3 dưới đây. Qua bảng
2.3, ta nhận thấy rằng vào đầu và cuối năm, bão thường hình thành ở vùng vĩ độ

63
thấp, giữa mùa hình thành ở vùng vĩ độ cao hơn.
Bảng 2.2. Khu vực hình thành bão ở Tây Thái Bình Dương theo vĩ độ

thấp nhiệt đới
Khu vực hình thành
Vĩ độ (N) Kinh độ (E)
1 – 4
5
6
7
8
9
10
11
12
35
24
52
89
120
100
83
58
29
3
0
– 11
0

7
0
– 15
0


5
0
– 12
0

131
0
– 176
0

114
0
– 157
0

111
0
– 142
0

125
0
– 159
0

117
0
– 178
0

14
15
16
17
>17
134
89
44
67
39
45
49
21
9
26,9
17,9
8,9
13,5
7,9
9,1
9,8
4,2
1,8
497 100%

64
Qua số liệu thống kê trên, ta thấy số cơn bão từ cấp 12 trở lên chiếm tới
trên 55% tổng số cơn bão và đặc biệt có 30 cơn bão cực mạnh và có sức gió từ
cấp 17 trở lên (tức trên 202 km/h). Vì vậy, có thể nói bão Tây Thái Bình Dương
có cường độ mạnh hơn cả so với các khu vực khác.

ển hình cho dạng này là cơn bão Wayne mang
số hiệu khu vực 8614 (cơn bão số 5 năm 1986 của Việt Nam) hình thành trên
biển Đông vào giữa tháng 8 năm 1986 và sau 22 ngày đêm trên biển đã đổ bộ
vào vùng biển Nam Định, Thái Bình đêm 5 rạng sáng 6 tháng 9 năm 1986.

Hình 2.16. Các kiểu di chuyển của bão Tây Thái Bình Dương
e, Thời gian “sống” của bão
Thời gian “sống“ của bão là khoảng thời gian từ lúc bão hình thành đến
khi bão tan hoặc di chuyển lên vùng vĩ độ cao trở thành xoáy thuận ngo
ại nhiệt
đới. Thời gian “sống” của bão được chia thành 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: bão hình thành, xuất hiện trong vùng hạ áp, sau đó hình
thành hoàn lưu xoáy thuận với khí áp ở tâm giảm xuống 1000 mb và trở thành
áp thấp nhiệt đới. Sức gió mạnh nhất đạt đến cấp 6, cấp 7 và chiều cao vùng gió
xoáy tới 1,5 đến 3 km (giai đoạn TD).
Giai đoạn 2: bão phát triển và trưởng thành (TS).
Giai đoạn này gọi là “Bão non”, là giai đoạn khí áp giảm nhanh, tố
c độ
gió tăng nhanh, phạm vi gió mạnh phát triển đến vùng có bán kính 40 đến 50
km, hình thành đĩa mây dày đặc và hoàn lưu gió xoáy có thể đạt 5 ÷ 9 km.
b c d
i
h

g

l m
n
a
e

6
7
8
9
10
11
12
13
14
16
18
22
7
22
44
50
48
76
50
65
36
27
28
13
12
12
5
1
1
1,4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status