TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
[\[\
TIỂU LUẬN
Kiểm soát vốn của
Việt Nam
Đề tài: Kiểm soát vốn của Việt Nam Thực hiện: Nhóm 2
[
GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÓAT VỐN
1.1. Kiểm soát vốn
1.1.1. Khái niệm: là thực hiện các biện pháp can thiệp của chính phủ dưới nhiều hình thức
khác nhau để tác động (hạn chế) lên dòng vốn nước ngoài chảy vào và ra khỏi một quốc gia
để nhằm đạt “mục tiêu nhất định” của chính phủ.
1.1.2. Mục tiêu kiểm sóat vốn:
Mục tiêu của kiểm soát vốn kìm chế dòng vốn nước ngòai
chảy hoặc chảy ra một các ào ạt gây thiệt hại cho hệ thống tài chính tiền tệ của một quốc gia
và là nguyên nhân gây nên những cuộc khủng hoảng tài chính tòan cầu. Mục tiêu kiểm sóat
vốn cần phải hướng đến một “chiến lược tổng thể” nhằm mục đích hướng đến một hệ thống
tài chính - tiền tệ phát tri
ển lành mạnh và ổn định.
1.1.3 Lý thuyết bộ ba bất khả thi
* Khái niệm: Lý thuyết bộ ba bất khả thi (The Impossible Trinity (hay Inconsistent
Trinity hay Triangle of Impossibility)) là một chính sách kinh tế quốc tế. Lý thuyết phát
biểu rằng: một quốc gia không thể đồng thời thực hiện cùng một lúc 3 mục tiêu chính sách
Việc kiểm soát như thế có thể xảy ra dưới các hình thức khác nhau mà điển hình nhất
là đánh thuế cao trên các dòng vốn ngắn hạn, đi liền với việc miễn thuế đối với các dòng
vốn mang tính dài hạn.
Trong hai biện pháp trên, cần phải hạn chế đến mức thấp nhất biện pháp kiểm soát
mang tính hành chính. Ngoại trừ một số ngành nghề và lĩnh v
ực nhạy cảm, việc dừng lại
chủ trương mở room (kiểm soát trực tiếp) đồng loạt cho các lĩnh vực như trong thời gian
qua là điều mà Chính phủ cần phải xem xét lại bởi nó ảnh hưởng rất lớn đến chủ trương thu
hút vốn hiện nay.
1.1.5. Giá phải trả của kiểm soát vốn!
Có nhiều quan điểm lầm tưởng rằng nếu như áp dụng các bi
ện pháp kiểm soát vốn
gián tiếp thì sẽ không phải trả giá. Trên thực tế, đã gọi là kiểm soát vốn thì cho dù là áp
dụng các biện pháp kiểm soát vốn như thế nào cũng phải trả một giá nhất định. Cái giá
chung nhất chính là sẽ làm chậm lại các cơ hội thu hút vốn đầu tư khi mà các quốc gia ngày
càng cạnh tranh quyết liệt để thu hút dòng vốn toàn cầu.
Các dòng vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam bao gồm các nguồn chủ y
ếu sau: vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn đầu tư gián
tiếp (FII), kiều hối của người Việt Nam sinh sống và làm việc ở nước ngoài, và các
nguồn vốn khác.
1.2. Các nguồn vốn nước ngoài
1.2.1. Đầu tư trực tiếp nước ngòai (FDI - Foreign direct investment)
* Khái niệm:
- Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI được định nghĩa là “một khoản đầu tư với những
quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được
lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư
trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế
khác đó.
- Quản lí đối tượng đầu tư.
* Các hình thức phổ biến FDI bao gồm: Doanh nghiệp liên doanh, Doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài, hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh
doanh, đầu tư theo hợp đồng BOT, Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và Công ty con
(Holding company), hình thức công ty cổ phần, hình thức chi nhánh công ty nước ngoài,
hình thức công ty hợp danh, Hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập (M&A)
1.2.2. Hỗ trợ phát triển chính thức ODA (Vốn ODA)
Hỗ trợ phát triển chính thức 'Official Development Assistance' viết tắt là ODA bắt
đầu xuất hiện tại Việt Nam từ tháng 10/2003 sau khi Việt Nam chính thức bình thường hóa
quan hệ với hợp chủng quốc Hoa kỳ và các tổ chức tiền tệ Quốc tế như: Quỹ tiền tệ Quốc tế
(IMF), Ngân hàng Thế gi
ới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)… Việc bình
thường hóa quan hệ nói trên đã ngay lập tức giúp cho Việt nam khơi thông nguồn vốn huy
Đề tài: Kiểm soát vốn của Việt Nam Thực hiện: Nhóm 2
[
GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 4
động nước ngoài thông qua hình thức ODA với cộng đồng các nhà tài trợ đa phương và
song phương nhằm phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm
nghèo, tăng cường năng lực thể chế….
Khái niệm ODA đã được chính phủ Việt Nam sử dụng trong quy chế quản lý và sử
dụng nguồn vốn ODA ban hành theo nghị định số 17/2001/NĐ-CP ngày 4/5/2001 của
Chính Phủ là : “Hỗ tr
ợ phát triển chính thức (ODA) là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà
nước và Chính Phủ Việt Nam với nhà tài trợ bao gồm:Chính phủ nước ngoài, các tổ chức
liên Chính phủ hoặc liên quốc gia. Hình thức cung cấp ODA bao gồm: ODA không hoàn
lại, ODA vay ưu đãi có yếu tố không hoàn lại ít nhất 25% ”
Như vậy, ODA chính là khoản vay kết hợp giữa “một phần cho vay ưu đãi” cộng với
“một phần cho không” ít nhất phải là 25% trong tổng v
ốn vay.
1.2.3. Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII)
tiếp thị Việt Nam với các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức nước ngoài để thu hút đầu tư.
Đề tài: Kiểm soát vốn của Việt Nam Thực hiện: Nhóm 2
[
GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 5
Những vốn đầu tư thông qua các tổ chức sau đây có thể được xem là vốn FII: các quỹ
đầu tư đại chúng (Mutual Funds), quỹ hưu trí (Pension Funds), quỹ đầu tư ủy thác
(Investment Trusts), công ty quản lý tài sản (Asset management company), quỹ đầu tư mạo
hiểm (Venture Fund hoặc Hedge Fund), các quỹ từ thiện, các quỹ tài trợ ở trường đại học…
Tại Việt Nam hiện nay mới có sự xuất hiện của các quỹ đầu tư đạ
i chúng, quỹ đầu tư mạo
hiểm Venture Fund và quỹ từ thiện.
CHƯƠNG II: KIỂM SOÁT VỐN TẠI VIỆT NAM
2.1. Quan điểm kiểm soát vốn:
Kiểm soát vốn đầu tư đang là vấn đề gây nhiều tranh cải. Một số quan điểm cho rằng
kiểm soát vốn là đi ngược với tiến trình việc tự do hóa tài chính, một số lại ủng hộ quan
điểm cho rằng nên thực hiện kiểm soát vốn để hạn chế những tổn thất cho nền kinh tế. Tuy
nhiên, khi khủng hoảng tài chính vào nă
m 1997 tại Thái Lan xảy ra, nguyên nhân bắt nguồn
là việc rút vốn ồ ạt từ các nhà đầu tư nước ngoài và kết quả là Chính phủ Thái Lan phải thả
nổi tỷ giá, gây phản ứng dây chuyền khắp khu vực. Trước tình hình, vấn đề kiểm soát vốn
được đặt ra cho nhiều quốc gia, đặc biệt ở những thị trường nhỏ và đang phát triển. Vì vậy,
nhận thấy tầm quan trọng của vấ
n đề nên Việt Nam đã đưa ra những chính sách về kiểm
soát vốn, cụ thể là kiểm soát đầu vào, ra của các nguồn đầu tư trực tiếp (FDI), đầu tư gián
tiếp (FII) và nguồn vốn ODA, để từ đó có thể giảm thiểu những tổn thất xảy ra cho nền kinh
tế, đặc biệt khi thị trường chứng khoán phát triển quá nóng.
Chính sách kiểm soát vốn được thể hiện rõ nét thông qua Nghị định 160/2006/N
Đ-
CP ngày 28/12/2006 (Nghị định về quản lý ngoại hối).
tiếp bằng ngoại tệ
- Đồng thời các tổ chức tín dụng có trách nhiệm hướng dẫn thủ tục mở, đóng tài
khoản vốn đầu tư gián tiếp bằng đồng Việt Nam, kiểm soát các chứng từ áp dụng cho các
giao dịch thu chi trên tài khoản đó, bán ngoại tệ cho nhà đầu tư nước ngoài thu đồng Việt
Nam và giám sát việc mua và chuyển tiền củ
a họ. Trường hợp cần thiết, Ngân hàng nhà
nước sẽ yêu cầu nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
thực hiện báo cáo tình hình cụ thể.
- Đối với nguồn vốn ODA, Việt Nam xác định thu hút vốn ODA là mục tiêu quan
trọng để đảm bảo cho tăng trưởng và phát triển bềnh vững. Vì vậy, đã thiết lập các cơ chế
phối hợp giữ
a tổ công tác ODA của Chính phủ và các nhà tài trợ để đẩy mạnh tiến trình hài
hòa hóa thủ tục, cải cách hành chính, mạnh tay hơn trong công tác chống tham nhũng và
hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý vốn ODA.
Từ những quan điểm trên cho ta thấy chính sách kiểm soát vốn của Việt Nam hiện
nay khá thông thoáng, dòng vốn FDI, FII được khuyến khích tối đa, luồng vốn huy động của
Chính phủ theo hình thức ODA không hạn chế. Quan điểm này được thể hiệ
n dưới các hình
thức kiểm soát cụ thể sau đây:
2. 2 Quá trình kiểm soát các dòng vốn FDI, FII, ODA:
2.2.1 Kiểm soát vốn đầu tư trực tiếp (FDI):
Thu hút FDI của Việt Nam đứng thứ 6 trên thế giới; riêng ở châu Á, Việt Nam chỉ
đứng sau Trung Quốc, Ấn Độ. Dòng chảy của nguồn vốn này vào Việt Nam không ổn định,
năm nhiều năm ít, lúc trồi lúc sụt do nhiều yếu tố, trong đó lệ thuộc vào sự quyết tâm đổ
i
mới và hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam là quyết định. Suốt thời gian dài từ đó đến
nay đã có khoảng 11.000 dự án được cấp giấy phép, tổng mức vốn đăng ký trên 163 tỷ USD
nhưng tổng vốn thực hiện đạt chỉ khoảng 35%, chưa kể số dự án bị rút giấy phép hoặc đề
nghị rút giấy phép.
Tỷ trọng vốn FDI trong tổng vốn ĐTXH qua các năm
0
0
3
2004
200
5
2
006
2007
2
0
0
8
Năm
Tỷ lệ
Vốn ngoài NN
Vốn NN
Vốn FDI
Nguồn: Tổng cục thống kê
Đề tài: Kiểm soát vốn của Việt Nam Thực hiện: Nhóm 2
[
GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 7
Trong thập niên 80 và đầu thập niên 90:
Trước khi nước ta tiến hành đổi mới, nguồn vốn FDI không chảy vào Việt Nam. Chỉ
sau khi có Luật đầu tư nước ngoài ban hành ngày 09/01/1988, thì nguồn vốn FDI mới bắt
đầu tìm đến.
Giai đoạn này dòng FDI vào Việt Nam còn nhỏ và không giải ngân được.
Trong khoảng thời gian 1991-1996:
mức 22,6%, nhưng vẫn chưa được hai phần ba so với năm 1996.
Năm 2002, FDI đăng ký lại giảm xuống còn khoảng 1,4 tỷ
đô-la Mỹ, đạt khoảng
54,5% của mức năm 2001. Có rất nhiều nguyên nhân làm FDI giảm xuống. Trong đó chủ
yếu là do sự xuống dốc của nền kinh tế toàn cầu theo sau sự tan vỡ của bong bóng công
nghệ cao tại Mỹ cùng với khủng hoảng kéo dài tại Nhật bản đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến
các nước châu Á.
Giai đoạn 2003 đến nay:
Sau khi ký hiệp định thương mại Việt M
ỹ BTA cuối năm 2001 và gia nhập AFTA năm
2003, nguồn vốn FDI vào Việt Nam phục hồi và tăng trở lại, dù chậm nhưng đều; vốn thực
hiện cũng được tăng theo.
Đề tài: Kiểm soát vốn của Việt Nam Thực hiện: Nhóm 2
[
GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 8
Bên cạnh đó, Việt Nam đã ký kết Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ, Hiệp định tự do,
xúc tiến và bảo hộ đầu tư Việt - Nhật. Các hiệp định này là những cam kết theo đúng thông
lệ quốc tế trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Mỗi hiệp định đề cao
đến một khía cạnh. Chẳng hạn, Hiệp định t
ự do, xúc tiến và bảo hộ đầu tư Việt - Nhật chú ý
nhiều đến việc bảo hộ tài sản của các nhà đầu tư Nhật Bản tại Việt Nam. Ngay trong khái
niệm về đầu tư của Hiệp định, yếu tố bảo hộ tài sản cho nhà đầu tư Nhật Bản được thể hiện
rất rõ. Đây là một hiệp định có lợi rất nhiều cho các nhà đầu t
ư Nhật Bản khi các nhà đầu tư
Nhật Bản đầu tư ngày càng lớn lượng tài sản vào Việt Nam.
Ngày 12/12/2005 Chính phủ ban hành đồng thời Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp.
Hai luật này ra đời đã tạo ra nhiều cơ chế thoáng hơn cho nhà đầu tư nước ngoài. Luật Đầu
tư Việt Nam đã khẳng định Nhà nước Việt Nam bảo hộ quyền của nhà đầu tư nước ngoài và
có c
ơ chế khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vốn, tài sản và các khoản thu nhập
đi vào phân tích tỷ lệ vốn thực hiện so với mức vốn cam kế
t. Đề tài: Kiểm soát vốn của Việt Nam Thực hiện: Nhóm 2
[
GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 9
* Tỷ lệ vốn FDI giải ngân so với mức vốn đăng ký:
Năm Số DA
Tổng số vốn
đăng ký
Tổng số vốn thực
hiện (triệu USD)
Tỷ lệ
giải ngân (%)
2006 987 12,004.0 4,100.1 34
2007 1,544 21,347.8 8,030.0 38
2008 1,171 64,000.0 11,500.0 18
Nguồn: Tổng cục thống kê
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy tổng số vốn đăng ký tăng mạnh qua các năm. Nếu như
năm 2006 số vốn đăng ký là 12 tỷ USD, thì đến năm 2008 đã tăng lên 64 tỷ USD (gấp 5
lần). Tuy nhiên mức độ giải ngân nguồn vốn này còn rất thấp so với vốn đăng ký. Cụ thể tỷ
lệ giải ngân năm 2006 chỉ đạt 34%, đến n
ăm 2008 chỉ còn 18%. Việc giải ngân vốn FDI còn
thấp có thể kể đến những nguyên nhân sau:
- Môi trường kinh tế vĩ mô Việt Nam đang có nhiều vấn đề như lạm phát cao, hơn nữa
Thực trạng này khiến nhiều dự án qui mô lớn bị chậm tiến
độ thực hiện. Vì vậy, nếu không
có chính sách kinh tế hợp lý trong việc khuyến khích dịch chuyển lao động có tay nghề thì
vị thế của Việt Nam dưới con mắt nhà đầu tư nước ngoài rất dễ bị ảnh hưởng.
Đề tài: Kiểm soát vốn của Việt Nam Thực hiện: Nhóm 2
[
GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 10
- Bên cạnh đó khối doanh nghiệp FDI cũng chính là khối có kim ngạch nhập khẩu rất
lớn và là một trong những nhóm doanh nghiệp đóng góp “tích cực” vào con số nhập siêu
tăng rất cao trong năm nay. Giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI năm 2008 đạt
24,465 tỷ USD, chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, nhưng khối doanh
nghiệp này cũng nhập khẩu tới 28,458 tỷ USD. Tổng nhập siêu xấp x
ỉ 4 tỷ USD của khối
này đã chiếm gần 1/4 thâm hụt thương mại của Việt Nam năm 2008.
- Về vấn đề chuyển giao công nghệ, trong 20 năm thu hút đầu tư nước ngoài, theo Bộ
Kế hoạch và Đầu tư, số hợp đồng chuyển giao công nghệ nước ngoài tại Việt Nam chỉ mới
được ký kết khoảng 10 hợp đồng trong số khoảng 9.000 dự án đầu tư vào Việt Nam. Nhiều
bí quyết công nghệ bên Việt Nam vẫn chưa làm chủ được. Điều này có nghĩa là Việt Nam
vẫn còn phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài, năng lực nội sinh của công nghệ chưa được
kiến tạo và phát huy.
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, dẫn đầu danh sách các nhà đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam là các doanh nghiệp châu Á như: Malaysia với 14,8 tỷ USD (26%), Đài
Loan với 8,6 tỷ USD (18,6%), Nhật Bản: 7,3 tỷ USD (15,7%), sau đ
ó là Brunei,
Singapore… trong khi các doanh nghiệp Mỹ chỉ chiếm 1,4 tỷ USD (3%). Điều đó phản ánh
một thực tế là chúng ta mới chỉ tiếp cận được với các công nghệ trung bình hoặc trên trung
bình của các nước trong khu vực.
- Thị trường vốn Việt Nam còn ở giai đoạn phát triển sơ khai, cải cách doanh nghiệp
nhà nước chậm chạp là nguyên nhân dẫn tới những rủi ro lớn cho hệ thống ngân hàng. Bên
cạnh đó, sự y
2.2.2 Kiểm soát vốn đầu tư gián tiếp (FII):
Khi thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển quá nóng, Ngân hành nhà nước Việt
Nam đã đưa ra những đề xuất về các giải pháp cấp bách để kiểm soát đầu tư gián tiếp nuốc
ngoài. Tuy nhiên, theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ: Chúng ta vẫn đang ở giai
đọan đầu tư thu hút vốn, do đó không thể đặt vấn đề khống chế lên hàng đầu mà phả
i quản
lý theo hướng tạo môi trường thuận lợi cho nguồn vốn này chảy vào đúng mạch, đúng chỗ,
đúng nơi. Đó là công việc rất quan trọng và cấp bách hiện nay.
Quan điểm này xuất phát từ nhu cầu vốn cần thiết cho sự phát triển kinh tế Việt Nam
trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời nhận thấy được cơ hội và
tầm quan tr
ọng của nguồn vốn FII.
2.2.2.1. Vai trò của vốn FII:
- Vốn đầu tư gián tiếp khi đổ vào Việt Nam sẽ tạo động lực hấp dẫn đối với các nhà
đầu tư trong nước. Thực tế cho thấy, khi các nhà đầu tư nước ngoài mua ròng qua các phiên
giao dịch trên TTCK sẽ tạo ra lực hút đối với nhà đầu tư trong nước, đó là họ sẽ đổ vốn
nhiều hơn vào TTCK và kết quả là tổng số
vốn đầu tư trên thị trường sẽ tăng lên
- Việc tham gia của các nhà đầu tư gián tiếp sẽ có tác động mạnh mẽ đến thị trường
tài chính, giúp cho thị trường tài chính minh bạch và hoạt động hiệu quả hơn, xác lập giá trị
thị trường của các cổ phiếu niêm yết một cách chuyên nghiệp, giảm thiểu những dao động
“phi thị trường” và góp phần giải quyết một cách cơ b
ản các mối quan hệ kinh tế (vốn, công
nghệ, quản lý…). Đồng thời khi FII gia tăng sẽ làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam
trở nên sôi dộng hơn, khắc phục được sự thiếu hụt, trống vắng và trầm lắng. Bên cạnh đó sự
gia tăng dòng FII sẽ góp phần phát triển các định chế và dịch vụ tài chính – chứng khoán,
các dịch vụ tư vấn, bảo hiểm, kế tóan, kiểm tóan
- Vốn FII thường rót vào các DN do người VN nắm quyền chi phối về quản lý, giúp
DN trong nước tăng trưởng nhanh và nâng cao năng lực cạnh tranh, tiến tới việc hình thành
các tập đoàn đa quốc gia mang thương hiệu VN. Thực tế, đã có nhiều điển hình thành công
Bên cạnh những chính sách khuyến khích trong việc thu hút vốn FII, nguồn vốn này
cũng gặp một số hạn chế
2.2.2.2 Những hạn chế:
-Hạn chế về danh mục đầu tư: Theo quyết định số 260/2002 của Bộ Kế
hoạch và Đầu
tư ban hành ngày 10/05/2002 ghi rõ các doanh nghiệp thuộc những lĩnh vực như kinh doanh
dịch vụ khách sạn, nhà hàng, vận tải đường bộ, đường ống, sản xuất thiết bị viễn thông, sản
xuất các dịch vụ tư vấn phần mềm máy tính … (35 ngành nghề) mới được bán cổ phần cho
nhà đầu tư nước ngoài. Trong khi đó, có nhiều ngành nghề đòi hỏi công nghệ cao, vốn của
n
ước ngoài để có điều kiện thành lập và phát triển doanh nghiệp nhưng chưa được phép gọi
vốn từ bên ngoài, chẳng hạn như ngành quản lý nợ, tài sản, bất động sản, dịch vụ định giá
doanh nghiệp, định mức tín nhiệm, tư vấn kiến trúc đô thị, phát triển cơ sở hạ tầng …
- Hạn chế về mức thuế: Theo qui định về luật thuế, thì m
ức thuế suất đối với đối với
họat động mua bán, chuyển nhượng chứng khoán là 0,1%/doanh thu chịu thuế, điều này còn
một số hạn chế đó dù nhà đầu tư nước ngoài lãi hay lỗ vần phải nộp thuế trên mức chuyển
nhượng, trong khi đó giá trị đầu tư nước ngoài rất cao, vì vậy tổng số thuế phài nộp tương
đối nhiều. Đồng thời trong cấu trúc thu
ế có sự phân biệt giữa người Việt Nam và người
nước ngoài, cụ thể:
+ Mức thuế 1% đối với người Việt Nam có thu nhập từ 5 tr.đ/tháng trở lên và
người nước ngòai là 8 tr.đ/tháng trở lên;
+ Mức thu nhập áp dụng thuế suất 40% đối với người Việt Nam có thu nhập
trên 40 tr.đ/tháng, người nước ngòai thu nhập trên 80 tr.đ/tháng. Quy định này không
phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo ra sự bấ
t bình đẳng trong nghĩa vụ nộp thuế cũng như môi
trường kinh doanh trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
- Bên cạnh đó việc qui định về tỷ lệ sở hữu vốn cổ phần đối với nhà đầu tư nước
ngòai vẫn còn nhiều hạn chế, trước khi Quyết định số 55/2009/QĐ-TTg có hiệu lực thì tỷ lệ
vùng lãnh thổ để ra trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Chính phủ
Việt Nam đã đưa ra định hướng chiến lược, chính sách và những lĩnh vực ưu tiên sử dụng
vốn ODA cho từng thời kỳ. Trong đó 5 lĩnh vực ưu tiên thu hút và sử dụng ODA trong thời
kỳ 5 năm 2006-2010 bao gồm:
+ Phát triển nông nghiệp và nông thôn
+ Xây dựng hạ tầng kinh tế theo hướng hiện đại
+ Xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục và đào tạo, dân số)
+ Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên
+ Tăng cường năng lực thể chế và phát triển nguồn nhân lực, chuyển
giao công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai
- Cụ thể, nguồn vốn ODA sẽ tập trung vào đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng qui mô
lớn ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, các tuyến giao thông nối các vùng Bắc
Nam, hai hành lang một vành đai kinh tế, trục giao thông Đông – Tây, giao thông vùng
đồ
ng bằng sông Cửu Long. Đây là cơ sở cho quá trình tăng trưởng nhanh và xóa đói giảm
nghèo ở Việt Nam
- Đồng thời Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư rà soát và bào đảm đủ vốn đối
ứng cho các chương trình dự án ODA, sửa đổi cách giao chỉ tiêu kế hoạch vốn đối ứng để áp
dụng trong kế hoạch nhằm bảo đảm để các Bộ, cơ quan và tỉnh, thành phố linh hoạt phân bổ
v
ốn đối ứng cho các chương trình, dự án ODA theo đúng tiến độ thực hiện đã thỏa thuận với
nhà tài trợ.
- Bên cạnh đó, nhà nước áp dụng chính sách thuế ưu đãi đối với dự án ODA cụ thể:
Đề tài: Kiểm soát vốn của Việt Nam Thực hiện: Nhóm 2
[
GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 14
+ Đối với những dự án ODA viện trợ không hoàn lại được miễn hoàn toàn các
khoản thuế gián thu (gồm thuế nhập khẩu, thuế GTGT, thuế TTĐB), và được hoàn lại số
thuế GTGT đã trả khi trực tiếp mua hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT tại VN để thực hiện
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
Năm
Triệu USD
Cam kết
Ký kết
Giải ngân
Đề tài: Kiểm soát vốn của Việt Nam Thực hiện: Nhóm 2
[
GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 15
Cùng với việc kiểm soát nguồn vốn ODA ở đầu vào là việc nâng cao tính minh bạch
thông tin và hiệu quả sử dụng vốn ODA ở đầu ra.
2.2.3.2 Công tác chống tham nhũng trong việc sử dụng nguồn vốn ODA:
- Chính phủ chỉ đạo Bộ tài chính đưa ra các văn bản cần thiết để tinh giản hóa các
quy trình, thủ tục kiểm soát chi, thanh toán khối lượng hoàn thành, thủ tục giải ngân vốn
ODA, rà soát các định mức chi tiêu của các Ban Quản lý d
ự án
Các bước tiến hành gói thầu này sẽ tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp cần thiết theo
quy định của Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam – Nhật Bản về phòng chống tham nhũng liên quan
đến ODA Nhật Bản đưa ra nhằm phòng chống tham nhũng trong các dự án sử dụng vốn
ODA từ Nhật, trong đó Việt Nam sẽ tăng cường tính minh bạch trong quá trình chọn thầu và
phía Nhật cam kết đẩy mạnh hoạt động giám sát. Cụ thể:
Đề tài: Kiểm soát vốn của Việt Nam Thực hiện: Nhóm 2
[
GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 16
+ Việt Nam sẽ nâng cao năng lực cho cơ quan thực hiện dự án về công tác đấu
thầu và quản lý hợp đồng trong dự án ODA, cùng với đẩy nhanh việc áp dụng hệ thống đấu
thầu điện tử từ năm 2009 đến 2015.
+ Việt Nam sẽ công bố thông tin liên quan đến mua sắm công, thông tin cần
được công bố gồm tên, quốc tịch và giá chào thầu của các đơn vị, doanh nghiệp trúng thầu,
các nhà thầu giành được hợp đồng và giá trị hợp đồng.
Quá trình kiểm soát vốn đã đạt được những mục tiêu nhất định nhưng bên cạnh đó là
cái giá phải trả cho việc kiểm soát vốn không phải ít.
2.3 Mục tiêu đạt được và cái giá phải trả cho việc kiểm soát vốn:
2.3.1 Mục tiêu đạt được:
Từ những quan điểm, chính sách của Chính phủ Việt Nam về việc thu hút nguồn vốn
đầu tư đã đạt được một số kết quả sau:
- Tổng vốn đầu tư của toàn xã hội tăng dần qua các năm, trong đó có sự đóng góp
đáng kể từ nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Giá trị vốn đầu tư tại Vi
ệt Nam qua các năm Chia ra
Tổng số
2.3.2. Chi phí phải trả cho việc kiểm soát vốn:
- Cái giá chung nhất cho việc kiểm soát vốn chính là sẽ làm chậm lại các cơ hội thu
hút vốn đầu tư khi mà các quốc gia ngày càng cạnh tranh quyết liệt để thu hút dòng vốn toàn
cầu đồng thời ảnh hưởng đến tâm lý và chiến lược của các nhà đầu tư nước ngoài
- Kiểm soát vốn làm chi phí giao dịch vốn tăng cao (tính trên tổng qui mô dự án).
Theo nhiều khảo sát, chi phí giao dịch tại Trung Quốc là 1,2%, Việt Nam là 2%, Hong Kong
chỉ 0,013%.
- Việc thu hút ồ ạt nguồn vốn đầu tư gián tiếp, trong khi khả năng hấp thụ nguồn vốn
này còn hạn chế, từ đó gây khó khăn trong việc thực thi chính sách tiền tệ. Cụ thể trong thời
gian qua NHNN phải đưa đồng nội tệ ra để thu hút ngọai tệ vào để bình ổn tỷ giá, kết quả là
gia tăng tỷ lệ lạm phát và làm giảm tỷ lệ dự trữ ngọai hối của quốc gia.
- Với chính sách kêu gọi, ưu đãi đầu tư đã dẫn đến tình trạng khai thác triệt để nguồn
tài nguyên quốc gia, gây mất cân bằng trong ngành nghề, lĩnh vực … (nhiều sân Golf được
hình thành, trong khi tỷ lệ đất sản xuất nông nghiệp ngày bị thu hẹp) từ đó gây ra những hệ
quả như: thất nghiệp, và đặc biệt là tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng
(điển hình là bột ngọt Vedan).
- Việc không hạn chế nguồn vốn ODA đã làm cho tỷ lệ nợ nước ngòai của Việt Nam
ngày càng tăng và cùng với tình trạng thất thóat lãng phí nguồn vốn này đã làm giảm uy tín
của Việt Nam trên trường quốc tế (đặc biệt là Nhật Bản).
2.4 Các biện pháp kiểm soát quá trình đảo ngược dòng vốn quốc tế:
Như chúng ta đã biết, dòng vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng đối với
nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng. Trong khi đầu tư trực tiếp
nước ngoài đóng vai trò trực tiếp thúc đầy sản xuất thì đầu tư gián tiếp lại có tác dụng kích
thích sự phát triển của thị trường tài chính, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dễ dàng tiếp
cận với các nguồn vốn. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực sự hiện diện của các
nhà đầu tư nước ngoài cũng khiến các nhà quản lý lo ngại không ít, đặc biệt là dòng vốn đầu
tư gián tiếp (FII) vì những lý do sau:
- Sự di chuyển quá mức dòng vốn FII vào một quốc gia sẽ đưa nền kinh tế vào tình
trạng phát triển nóng và khủng hoảng xảy ra khi nền kinh tế gặp phải những cú số từ bên
trong cũng như bên ngoài
2.4.6 Sử dụng các biện pháp kiểm soát, điều tiết mạnh khi dòng vốn FII có những biểu hiện
bất thường.
2.4.7 Quản lý tốt quỹ dự trữ ngoại hối, bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư cho nguồn
quỹ này, vì dự trữ ngoại hối đóng vai trò giảm sốc, giúp nền kinh tế chống đỡ được những
cú sốc trong thương mại quốc tế, hay những biến động về cầu trên thị trường quốc tế;
2.4.8 Từng bước giảm phụ thuộc vào nợ nước ngoài và vốn ngắn hạn, tự do hóa các giao
dịch tài sản tài chính giữa cá nhân và tổ chức trong nước với nước ngoài;
Từ những phân tích về chính sách kiểm soát các nguồn vốn FDI, FII, ODA cho ta
thấy một điều là chính sách kiểm soát vốn của Việt Nam trong thời gian qua khá chặt chẽ, vì
vậy khả năng đảo ngược dòng vốn quốc tế rất khó xảy ra đối với Việt Nam.
Vì vậy, trong tình hiện hiện nay để có thể thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài nhằm
kích thích nền kinh tế phát triển Chính phủ nên thực hiện nới lỏng việc kiểm soát vốn trên
cơ sở khả năng và điều kiện thực tế ở Việt Nam.
Đề tài: Kiểm soát vốn của Việt Nam Thực hiện: Nhóm 2
[
GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 19
2.5 BỘ BA BẤT KHẢ THI
Lý thuyết bộ ba bất khả thi (The Impossible Trinity (hay Inconsistent Trinity hay
Triangle of Impossibility) phát biểu rằng: một quốc gia không thể đồng thời thực hiện cùng
một lúc 3 mục tiêu chính sách vĩ mô:
• Ổn định tỷ giá
• Tự do hóa dòng vốn
• Chính sách tiền tệ độc lập
“Bạn không thể có đồng thời tất cả: một quốc gia chỉ có thể chọn tối đa 2 trong 3. Nó
có thể chọn một chính sách ổn định tỷ giá nhưng phải hi sinh tự do hóa dòng vốn tức là tiếp
tục kiếm soát vốn (giống như Trung Quốc ngày nay), nó có thể chọn một chính sách tự do
hóa dòng vốn nhưng vẫn tự chủ về tiền tệ, song phả
i để tỷ giá thả nổi (giống như Anh hoặc
Canada), hoặc nó có thể chọn kiểm soát vốn và ổn định chính sách tiền tệ , nhưng phải thả
nổi lãi suất để chống lạm phát hoặc suy thoái (giống như Achentina hoặc hầu hết Châu
thời gian qua là sự đối mặt với ảnh hưởng của “bộ ba bất khả thi” của một nước mở của nền
kinh tế khá mạnh mẽ, một nước mở cửa cán cân vốn không thể vừa đạt được mục tiêu ổn
định giá cả vừa đạt được mục tiêu ổn định tỷ giá. Việc tăng lãi suất nhằm hạn chế tiền cung
ứng trong lưu thông để kiểm soát lạm phát sẽ càng làm tăng sức hút dòng vốn nước ngoài đổ
vào, càng làm tăng sức ép lên giá của đồng nội tệ, sẽ khó cho phép nước này ổn định tỷ giá.
Điều này gây ảnh hưởng đến xuất khẩu, khuyến khích nhập khẩu và làm gia tăng mức thâm
hụt cán cân vãng lai. Nếu duy trì ổn định tỷ gía, NHTW phải mua ngoại tệ vào và phải bơm
tiền ra lưu thông thì lại gây nên áp lực lạm phát. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế
hàng đầu thế giới, ảnh hưởng của “bộ ba bất khả thi” này càng nghiêm trọng đối với các
nước mới nổi có thị trường tiền tệ và tài chính còn chưa thực sự phát triển. Một số nước như
Thái lan và Malaixia đã phải lựa chọn việc kiểm soát luồng vốn để có thể kiểm soát lạm
phát và ổn định tỷ giá khi luồng vốn nước ngoài đổ vào trong nước ở mức cao trong thời kỳ
khủng hoảng.
Đối với công cụ lãi suất, các nước không bị tình trạng đô la hoá và có mặt bằng lãi
suất thấp có thể sử dụng để kiếm soát lạm phát bằng cách tăng lãi suất và thả tỷ giá tương
đối tự do. Tuy nhiên, với Việt Nam, với mặt bằng lãi suất cao trong khu vực và trên thế giới
và với bối cảnh khá tự do hoá các giao dịch vốn thì biện pháp tăng lãi suất để thắt chặt tín
dụng sẽ khó phát huy tác dụng. Cụ thể, khi lãi suất lên cao, do chênh lệch lãi suất trong và
ngoài nước với bối cảnh lãi suất trên thị trường quốc tế có xu hướng giảm, càng làm tăng
luồng vốn đổ vào Việt Nam. Tín dụng bằng USD tăng nhanh và có xu hướng nhà đầu tư
nước ngoài chuyển đổi USD để mua trái phiếu VND của các NHTM. Khi đó, áp lực lạm
phát không giảm mà còn tăng.
Do vậy, có thể cho rằng việc NHNN áp dụng riêng rẽ các biện pháp lãi suất hay tỷ giá
mà không có phối hợp của việc quản lý các luồng vốn của các bộ ngành, đặc biệt là luồng
vốn ngắn hạn thì mục tiêu kiểm soát lạm phát khó có thể đạt được. Kinh nghiệm mở cửa có
chọn lọc các luồng vốn có lợi cho phát triển bền vững và phù hợp với khả năng sử d
ụng các
công cụ lãi suất, thị trường mở và tỷ giá để kiểm soát lạm phát của Trung quốc là một kinh
nghiệm có giá trị.
Nguồn vốn dầu tư nước ngoài tích lũy lớn là một thuận lợi, nhưng khi bối cảnh lãi suất
quan hoạch định kinh tế hàng đầu của Trung Quốc đối với thủ tục phê chuẩn FDI là nhằm
xử lý các lỗ hổng trong tài khoản vốn, nhằm giảm luồng vốn FDI chạy theo các hướng ngoài
hợp đồng đầu tư. Thông qua các biện pháp sau:
- Đầu tư
nước ngoài, bao gồm tất cả các hình thức sở hữu doanh nghiệp, M&A qua
biên giới và tái đầu tư, đều cần phải có sự phê duyệt của NDRC hay cơ sở ở địa phương của
NDRC.
- Xem xét chặt chẽ hơn tính thực chất của các dự án đầu tư nước ngoài và việc ngăn
chặn dòng chảy của nguồn vốn không dựa trên đầu tư thực sự. Khi cần thiết, NDRC hay cơ
sở ở địa phương sẽ thuê các cơ sở tham vấn để đánh giá về dự án đầu tư nhằm đảm bảo rằng
việc đầu tư này là không có nghi vấn.
Đề tài: Kiểm soát vốn của Việt Nam Thực hiện: Nhóm 2
[
GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 22
- Bất cứ dự án nào có tổng đầu tư vượt 100 triệu USD và nằm trong danh mục ưu tiên
hoặc được phép đầu tư cần thiết phải có sự phê chuẩn của NDRC. Những dự án đầu tư vượt
50 triệu USD và nằm trong danh mục hạn chế đầu tư cũng cần phải có sự thông qua của
NDRC. Các Ủy ban Cải cách và Phát triển cấp tỉnh có quyền thông qua những dự án đầu tư
n
ằm trong danh mục khuyến khích và được phép đầu tư với tổng đầu tư nằm dưới 100 triệu
USD và đầu tư dưới 50 triệu USD đối với các hạng mục hạn chế đầu tư.
- Tiêu chuẩn hoá việc quản lý những dự án đầu tư mới. Đơn xin đầu tư phải bao gồm
những văn bản phê chuẩn liên quan. Ví dụ, đầu tư vào những dự án tiêu hao năng lượng cao,
ô nhiễm cao và tiêu thụ nhiều tài nguyên mà không có quyền sử dụng đất, đánh giá về môi
trường và vấn đề tiết kiệm năng lượng sẽ không được thông qua.
- Các dự án đang diễn ra có thể bị huỷ nếu dòng vốn luân chuyển có dấu hiệu được
sử dụng cho dự án khác. Đồng thời, việc thoái thuế đối với các thiết bị nhập khẩu và các
chính sách ưu đãi khác sẽ bị huỷ
. NDRC sẽ không ủng hộ những dự án này trong việc lên
sàn hoặc phát hành trái phiếu trong tương lai.
Nhìn ra các nước, đơn cử như Chilê và Colombia hồi những năm 1990, Nga và
Croatia năm 2004 đã áp dụng biện pháp có tên URR (dự trữ bắt buộc). Nhà ĐTNN khi đầu
tư vào những nước này phải trích một tỷ
lệ dự trữ nào đó từ vốn đầu tư. Liều lượng của mỗi
nước khác nhau và thường biện pháp này chỉ được áp dụng trong một số thời điểm nhất
định, ngay sau đó được dỡ bỏ. URR được nhấn mạnh ở những khía cạnh, liệu pháp này
được áp dụng ở những nước muốn nắm bắt được dòng vốn nước ngoài, chứ không phải
kiểm soát, đây cũng không phải can thiệp hành chính và áp dụng như vậy cũng được coi
như một giải pháp đánh thuế nhưng không gây sốc với NĐT.
Tác động tiêu cực của URR có thể xảy ra như giảm vốn đầu tư gián tiếp trong ngắn
hạn, không hiệu quả nếu áp dụng lâu dài, tác động đến lãi suất trong nước và ảnh hưởng tới
nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn dự
a chủ yếu vào vốn vay ngân hàng. Tuy nhiên, ngay
cả ở Chilê, nước áp dụng khá thành công, thì tác dụng của nó cũng gây nhiều tranh cãi.
Trung Quốc, Ấn Độ lại có ứng xử khác, đó là nhắm đến các nhóm NĐT khác nhau,
tạo ra thị trường riêng cho NĐT nội và NĐT ngoại. Phương thức này cho phép họ dễ dàng
nắm bắt được những ai đang đầu tư, hơn là dòng vốn luân chuyển ra sao.
Sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, nhà kinh tế Joseph Stiglitz bắt đầ
u
nhận định chính sách thị trường tự do của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) là sai lầm và cần thiết
phải kiểm soát thị trường vốn.
Tại Thái Lan thị trường chứng khoán hiện đang tăng trưởng nhanh chóng, kéo theo
làn sóng các nhà đầu tư nước ngoài, đã đẩy giá tiền tệ và mức lạm phát lên, Trước tình hình
Đề tài: Kiểm soát vốn của Việt Nam Thực hiện: Nhóm 2
[
GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa Trang 24
đó, Thái Lan cũng ban hành một quy định yêu cầu các nhà đầu tư nước ngoài phải có 30%
vốn bảo đảm trong một năm không tính thuế, rút vốn sớm sẽ bị đánh thuế.
Chính phủ một số nước thậm chí đã cân nhắc những biện pháp “kiểm soát vốn” đối
với các nhà đầu tư nước ngoài, nhằm hạn chế tốc độ tiền chảy vào hoặc đi ra khỏi thị trường