Chính sách lãi suất với mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Việt Nam - Pdf 78

- 1 -
CHƯƠNG1:LÃI SUẤT&CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT TRONG NỀN KINH TẾ
1.1 Lý luận cơ bản về lãi suất trong nền kinh tế
1.1.1 Khái niệm và phân loại lãi suất
1.1.1.1 Khái niệm
Lãi suất là cái giá phải trả cho việc sử dụng vốn trên một thị trường bất kỳ, lãi
suất vươn tới một mức cân bằng sao cho tổng cầu về vốn bằng tổng cung về vốn.
Hay nói cách khác, lãi suất là giá cả của quyền sử dụng một đơn vị vốn vay trong một
khoảng thời gian nhất định.Lãi suất cao hay thấp do quan hệ giữa cung và cầu vốn
quyết định.
1.1.1.2 Phân loại lãi suất
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài có các cách phân loại như sau :
 Phân loại theo tính chất của khoản vay
Lãi suất chiết khấu: áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay dưới hình
thức chiết khấu thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán
của khách hàng. Nó được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá
Lãi suất tái chiết khấu: áp dụng khi NHTW cho các ngân hàng trung gian vay
dưới hình thức chiết khấu lại các thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá ngắn hạn chưa
đến hạn thanh toán của các ngân hàng này. Nó cũng được tính bằng tỷ lệ phần trăm
trên mệnh giá của giấy tờ có giá.
Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhau
vay trên thị trường liên ngân hàng. Lãi suất liên ngân hàng được hình thành qua quan
hệ cung cầu vốn vay trên thị trường liên ngân hàng và chịu sự chi phối bởi lãi suất
cho các ngân hàng trung gian vay của NHTW. Mức độ chi phối này phụ thuộc vào sự
phát triển của hoạt động thị trường mở và tỷ trọng sử dụng vốn vay NHTW của các
ngân hàng trung gian.
Lãi suất cơ bản: là lãi suất được các ngân hàng sử dụng làm cơ sở để ấn định
mức lãi suất kinh doanh của mình. Lãi suất cơ bản được hình thành khác nhau tùy
từng nước, nó có thể do NHTW ấn định (như ở Nhật); hoặc có thể do tự bản thân các
ngân hàng tự xác định căn cứ vào tình hình hoạt động cụ thể của ngân hàng mình (ở
- 2 -

Lãi suất
i O LS - lượng cung vốn vay

LD - lượng cầu vốn vayCung cầu vốn vay
Hình 1.1: Quan hệ giữa cung cầu vốn và lãi suất
Đường cung cầu vốn vay nói trên cho các nhà kinh tế học một mô hình để xác
định lãi suất thị trường, được gọi là mô hình “khuôn mẫu tiền vay”. Điểm cân bằng
cung cầu vốn vay tại một thời điểm xác định mức lãi suất thị trường.Các nhân tố ảnh
hường đến lãi suất thị trường bao gồm:
 Nhóm nhân tố làm lệch chuyển đường cung vốn
Tài sản và thu nhập: trong giai đoạn đang tăng trưởng kinh tế thu nhập tăng
và do đó tài sản của các chủ thể kinh tế tăng lên, làm tăng khả năng cung ứng vốn.
Rủi ro: nếu như rủi ro mất vốn khi cho vay tăng lên thì việc cho vay trở nên
kém hấp dẫn, cung vốn vay giảm xuống.
 Nhóm nhân tố làm lệch chuyển đường cầu vốn
Khả năng sinh lợi dự tính của các cơ hội đầu tư: càng có nhiều cơ hội đầu tư
sinh lợi thì càng làm tăng nhu cầu đi vay. Điều này thường thấy trong điều kiện nền
kinh tế tăng trưởng. Khi kinh tế tăng trưởng, các cơ hội đầu tư sinh lời tăng lên làm
cho nhu cầu vay vốn tăng mạnh. Mặt khác, trong điều kiện kinh tế phát triển, của cải
cũng tăng lên và sẽ kích thích tăng cung vốn vay. Vậy lãi suất sẽ tăng hay giảm?
Trong thực tế thì lãi suất cân bằng trong những điều kiện như vậy thường tăng lên do
hiệu ứng tăng cung vốn vay từ tăng của cải diễn ra chậm hơn tăng cầu vốn vay do
nền kinh tế tăng trưởng nhanh.
Lạm phát dự tính: chi phí thực của việc vay tiền được xác định chính xác hơn
bằng lãi suất thực, nó bằng lãi suất danh nghĩa trừ đi lạm phát dự tính. Với một mức
- 4 -
lãi suất cho trước, khi lạm phát dự tính tăng lên thì chi phí thực của việc vay tiền

cầu tiền danh nghĩa chưa thay đổi.Do nền kinh tế có xu hướng cầu một lượng tiền
thực tế không đổi ứng với một mức lãi suất và thu nhập nhất định nên cầu tiền danh
nghĩa sẽ phải thay đổi theo mức giá để đảm bảo ổn định cầu tiền thực tế. Kết quả là
là một sự gia tăng lên của mức giá sẽ làm lượng cầu tiền tăng lên.
 Nhóm nhân tố làm dịch chuyển đường cung tiền
Cung tiền trong nền kinh tế hiện nay phần lớn chịu sự tác động của CSTT của
các NHTW. Cung tiền thay đổi, ngoài những hoạt động nhằm thực thi mục tiêu của
CSTT ra, còn chịu ảnh hưởng bởi mức độ phụ thuộc của NHTW vào chính phủ và
chế độ tỷ giá hối đoái của nước đó. Nếu sự phụ thuộc của NHTW vào chính phủ cao
thì tình trạng thâm hụt ngân sách kéo dài có thể sẽ tạo sức ép khiến NHTW phải in
thêm tiền mua các chứng khoán chính phủ vào để tài trợ cho thâm hụt ngân sách, dẫn
đến tăng cung tiền. Thêm vào đó, một chế độ tỷ giá hối đoái cố định đòi hỏi sự can
thiệp của NHTW vào thị trường ngoại hối thông qua hoạt động mua bán ngoại tệ, và
do vậy cũng sẽ ảnh hướng đến cung tiền.
1.1.2.3 Các nhân tố khác
Tỷ lệ lạm phát: nhân tố này có ảnh hưởng rất lớn đến sự biến động của lãi
suất. Bởi lẽ sự tăng hay giảm tỷ lệ lạm phát kéo theo sự biến động của giá trị tiền tệ,
từ đó ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người cho vay. Nếu tỷ lệ lạm phát tăng thì lãi
suất phải tăng theo. Lúc đó, các TCTD mới thu hút được nguồn vốn tiền gửi. Khi tỷ
lệ lạm phát giảm thì lãi suất tín dụng cũng giảm. Để đảm bảo hạch toán kinh doanh
cho các TCTD.Ngược lại, NHTW sử dụng lãi suất tín dụng làm công cụ kiềm chế
lạm phát. Khi lạm phát tăng cao, NHTW điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi để làm hạ
cơn sốt lạm phát.
Tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế: hoạt động của các doanh nghiệp
là nền tảng của hoạt động tín dụng. Do đó tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế
- 6 -
là cơ sở để xác định lãi suất tín dụng hợp lý. Thông thường mức lãi suất tín dụng nhỏ
hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân. Đó là hài hòa lợi ích người đi vay và người cho vay.
Chính sách kinh tế của Nhà nước: bằng các chính sách kinh tế, Nhà nước can
thiệp vào thị trường tín dụng, nhằm duy trì sự vận động của lãi suất phù hợp với yêu

tăng thì lãi suất dài hạn vẫn cao hơn lãi suất ngắn hạn và làm cho đường
cong lãi suất thường dốc lên.
• Lý thuyết dự tính giải thích lãi suất khi lãi suất ngắn hạn thấp, đường lãi
suất có hình dạng dốc lên trên. Khi lãi suất ngắn hạn cao, đường lãi suất có
hình dạng dốc xuống. Vì khi lãi suất ngắn hạn thấp, mọi người thường dự
tính rằng lãi suất ngắn hạn sẽ tăng lên một mức tương đối hợp lý trong
tương lai và trung bình các lãi suất ngắn hạn trong tương lai sẽ cao hơn lãi
suất ngắn hạn hiện tại . Vì vậy lãi suất dài hạn (là trung bình các lãi suất
ngắn hạn) sẽ cao hơn lãi suất ngắn hạn hiện tại và làm cho đường lãi suất
dốc lên. Ngược lại, khi lãi suất ngắn hạn khá cao, mọi người thường dự
báo là lãi suất này sẽ trở về một mức bình thường nào đó trong tương lai.
Khi này lãi suất dài hạn sẽ thấp hơn lãi suất ngắn hạn hiện tại do lãi suất
dài hạn là trung bình các lãi suất ngắn hạn.
1.1.4 Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế
1.1.4.1 Kích thích lợi ích vật chất để thu hút các khoản tiền tiết kiệm
Thông thường khi có một khoản tiền tiết kiệm, dân chúng thường nghĩ đến
việc sinh lời trên khoản tiền đó như: đầu tư chứng khoán, bất động sản, mua vàng,
gửi tiền vào tài khoản ở ngân hàng và các TCTD khác vv…Một trong những hình
thức đầu tư có tính an toàn khá cao đối với người dân là gửi tiền vào ngân hàng. Để
thu hút được nhiều khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, lãi suất là một trong những
biện pháp hấp dẫn mà các ngân hàng thường sử dụng.
1.1.4.2 Lãi suất là công cụ phân phối vốn, kích thích sử dụng vốn có hiệu quả và
điều chỉnh các hoạt động đầu tư.
- 8 -
Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất tín dụng được coi là công cụ quan trọng
để phân phối vốn hợp lý và phù hợp với đường lối phát triển kinh tế từng thời kỳ.
chính sách lãi suất, nếu tạo ra được mức lãi suất cho vay thấp hơn tỷ suất lợi nhuận
bình quân sẽ có tác dụng thúc đẩy các doanh nghiệp tăng nhu cầu đầu tư, mở rộng
sản xuất, đổi mới thiết bị, trang bị công nghệ sản xuất hiện đại bằng nguồn vốn vay
ngân hàng. Hiệu quả cuối cùng làm tổng thu nhập quốc dân tăng lên .

Lãi suất tác động đến tăng trưởng thông qua hai hiệu ứng đó là lãi suất tác
động đến tiêu dùng và đầu tư.
 Tác động của lãi suất đến tiêu dùng
Mức lãi suất thấp sẽ khuyến khích tiêu dùng nhiều hơn là tiết kiệm từ đó làm
tăng tổng cầu trong nền kinh tế, và ngược lại khi lãi suất tăng dân chúng sẽ có xu
hướng dành phần lớn thu nhập để gửi tiết kiệm vào ngân hàng, từ đó làm giảm tổng
cầu. Do xu hướng cân bằng cung cầu trong nền kinh tế, tổng cung sẽ giảm một lượng
tương ứng. Lúc đó GDP thực sẽ giảm dưới mức năng lực sản xuất tối ưu và tỷ lệ thất
nghiệp cao hơn mức tự nhiên, nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng suy thoái.
 Tác động của lãi suất đến đầu tư
Khi nền kinh tế tăng trưởng sẽ khuyến khích đầu tư mở rộng sản xuất.Chi tiêu
cho đầu tư là chi tiêu của khu vực sản xuất để mua nhà xưởng, thiết bị, máy móc mới
và gia tăng lượng hàng tồn kho nhằm gia tăng qui mô sản xuất. Có rất nhiều các nhân
tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho đầu tư, song có ba nguyên nhân chính đó là: lãi suất,
lạm phát dự tính, lợi nhuận dự tính.
Về mối quan hệ giữa lãi suất và đầu tư, mức lãi suất càng thấp thì mức đầu tư
càng cao và ngược lại. Điều này có thể giải thích là khi đầu tư, nguồn vốn có thể
được tài trợ bằng vốn tự có hay đi vay mượn. Bất luận dự án đầu tư được tài trợ bằng
phương thức nào, mức lãi suất cũng là một phần chi phí cơ hội của dự án đó. Tiền trả
lãi cho khoản tiền vay để đầu tư cho sản xuất là chi phí trực tiếp. Nhưng nguồn vốn
tự có của một doanh nghiệp có thể dùng để cho vay với một mức lãi suất nào đó.
Tiền lãi mà doanh nghiệp bị mất khi sử dụng nguồn vốn tự có để tài trợ cho dự án
- 10 -
riêng của chính mình, thay vì dùng để cho vay được gọi là chi phí cơ hội. Mức lãi
suất càng thấp thì chi phí cơ hội của dự án càng thấp, càng có nhiều dự án đầu tư
mang lại lợi nhuận và vì vậy mức đầu tư sẽ gia tăng.
Trong khi mức lãi suất cao không khuyến khích đầu tư thì ngược lại, mức lạm
phát dự đoán cao có tác dụng khuyến khích đầu tư vì chi phí đầu tư thường bỏ ra hầu
hết ở năm đầu nên không bị ảnh hưởng bởi lạm phát. Mức lạm tăng sẽ làm cho thu
nhập ròng của dự án đầu tư trong những năm sau gia tăng.Do đó có một kết luận rất

bằng trên TTTT. Bằng cách gia tăng hoặc giảm mức cung tiền, NHTW có thể làm
giảm hoặc tăng lãi suất. Từ đó sẽ ảnh hưởng đến đầu tư và sản lượng. Để thấy được
kênh truyền dẫn lãi suất của CSTT hoạt động như thế nào, chúng ta sẽ liên kết TTTT
(ở đó lãi suất được quyết định) với thị trường hàng hóa (ở đó chi tiêu cần bằng được
quyết định). Trước hết, phân tích nền kinh tế tại một mốc thời gian để xem chi tiêu
cân bằng và lãi suất được quyết định như thế nào.
MS
Lãi Lãi
suất suất
thực i thực i
MD
Tổng (a) Cung cầu tiền I (b) Đầu tư
chi
tiêu
(c)
I

GDP GDP thực
- 12 -
Hình 1.5 : Mối quan hệ lãi suất, đầu tư và GDP thực
Nền kinh tế đang trong tình trạng cân bằng như đã chỉ ra trong hình trên.Giả
sử NHTW cho rằng nền kinh tế phát triển quá nóng và lạm phát sẽ bùng nổ. Để kiềm
chế lạm phát, NHTW quyết định giảm tổng cầu bằng cách thực hiện một nghiệp vụ
thị trường mở là bán các chứng từ có giá, làm giảm khả năng cho vay của các NHTM
và kéo theo là làm cho mức cung tiền giảm. Tác động tức thời trên TTTT là sự gia
tăng lãi suất. Lãi suất tăng sẽ kéo theo một sự sụt giảm trong đầu tư theo kế hoạch.
Một sự sụt giảm trong đầu tư theo kế hoạch sẽ kéo theo sự sụt giảm trong chi tiêu dự
định và tổng chi tiêu kế hoạch. Khi tổng chi tiêu kế hoạch giảm sẽ làm cho chi tiêu
cân bằng và GDP thực giảm. Quá trình này sẽ không dừng lại ở đây vì khi GDP thực
giảm sẽ làm giảm cầu tiền thực.Cầu tiền thực giảm lại làm lãi

xây dựng và ban hành chính sách lãi suất thích hợp, để thi hành thống nhất trong hệ
thống ngân hàng. Đó có thể là lãi suất sàn, lãi suất trần, lãi suất cơ bản, lãi suất thỏa
thuận. chính sách lãi suất của NHTW có thể thực hiện theo hai hướng đó là: chính
sách can thiệp trực tiếp và chính sách tự do hóa lãi suất. Khi các nước đã theo đuổi
chính sách tự do hóa hoàn toàn thì NHTW vẫn tìm cách can thiệp nhưng sự can thiệp
mang tính thị trường, nhằm quản lý nền kinh tế theo mục tiêu của CSTT.
Chính sách can thiệp trực tiếp: là việc NHTW qui định lãi suất trần, lãi suất
sàn, lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu vv…để áp dụng cho từng loại khách hàng,
từng nghiệp vụ tín dụng trên thị trường. Như vậy chính sách can thiệp trực tiếp được
thực hiện bằng cách NHTW qui định biểu lãi suất áp dụng cho các hoạt động tín
dụng trên thị trường. Biểu lãi suất này được điều chỉnh một phần hay toàn bộ khi có
sự thay đổi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Theo sự phát triển của kinh tế thị
trường, những cách thức qui định và kiểm soát lãi suất thị trường của NHTW ngày
càng lỏng và linh hoạt hơn. Chính sách can thiệp trực tiếp thường đước áp dụng ở các
nước đang phát triển trong một điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, thị trường tài
chính còn yếu, nhiều khó khăn trong quá trình kiểm soát lượng tiền cung ứng, đồng
thời nền kinh tế có khả năng xảy ra lạm phát cao.
- 14 -
Chính sách tự do hóa lãi suất: là chính sách mà trong đó NHTW không đưa ra
những khống chế giới hạn biến động của lãi suất thị trường. Mức lãi suất được hình
thành trên cơ sở quan hệ cung cầu tín dụng.Chính sách này được phần lớn các nước
có thị trường phát triển áp dụng, mặc dù thị trường tự do quyết định lãi suất nhưng
NHTW vẫn điều tiết gián tiếp thông qua việc sử dụng công cụ lãi suất tái chiết khấu.
1.3.3 Cơ chế truyền dẫn và tác động chính sách lãi suất của NHTW
Chính sách lãi suất có thể được NHTW sử dụng nhằm tác động trực tiếp hoặc
gián tiếp tới mức cung cầu tiền để đạt được các mục tiêu đề ra.
 Tác động trực tiếp là tác động thông qua công cụ lãi suất tiền gửi và lãi suất
cho vay
- Ấn định lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay: nếu lãi suất tiền gửi qui định
cao, sẽ thu hút được nhiều tiền gửi, làm gia tăng nguồn vốn cho vay, giảm tỷ lệ lạm

vào mức độ phụ thuộc về vốn của NHTM vào NHTW, vì thế nó là công cụ kém chủ
động. Để khắc phục nhược điểm này, NHTW thường sử dụng nó với công cụ DTBB.
- Tỷ lệ DTBB: là tỷ lệ phần trăm giữa số tiền DTBB và tổng số dư tiền gửi
phải tính DTBB các NHTM thu hút được trong một khoảng thời gian nhất định. Việc
qui định tỷ lệ DTBB tạo điều kiện để NHTW kiểm soát quá trình tạo tiền của hệ
thống NHTM và quan trọng hơn là NHTW sử dụng để tác động đến mức cung tiền
tệ. Khi NHTW quyết định tăng hoặc giảm tỷ lệ DTBB, làm giảm hoặc tăng khả năng
cho vay của các NHTM đối với nền kinh tế. Từ đó làm giảm hoặc tăng mức cung tiền
tệ để tác động đến lãi suất thị trường.
- Nghiệp vụ thị trường mở: là nghiệp vụ mua bán các chứng từ có giá của
NHTW trên TTTT. Thông qua việc sử dụng công cụ này sẽ điều tiết mức dự trữ của
các NHTM và điều tiết mức cung tiền tệ để điều tiết lãi suất trên thị trường. Khi
muốn gia tăng khối lượng tiền trong lưu thông, mở rộng tín dụng cho nền kinh tế,
NHTW thực hiện mua các chứng từ có giá trên thị trường. Ngược lại, khi muốn giảm
mức cung tiền, thu hẹp tín dụng, NHTW bán các chứng từ có giá đang nắm giữ.
1.3.4 Vai trò kiểm soát lãi suất TTTT của NHTW
- 16 -
Mức cung tiền có tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng hoặc kìm hãm sự phát
triển kinh tế. Do đó, điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông cho phù hợp với nhu
cầu phát triển kinh tế trong từng thời kỳ là nhiệm vụ qua trọng bậc nhất của NHTW.
Trong nền kinh tế thị trường, sự biến động kinh tế thăng trầm theo chu kỳ, từ đó nhu
cầu về tiền cũng biến động tương ứng. Cần phải có khối lượng tiền trong lưu thông
phù hợp với diễn biến của nền kinh tế, để góp phần thúc đẩy tăng trưởng và kiềm chế
lạm phát. NHTW thực hiện vai trò điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông qua qua
các công cụ của CSTT như lãi suất, hạn mức tín dụng, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị
trường mở vv…
1.3.4.1 Kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả
Trong nền kinh tế thị trường, ổn định sức mua của đồng tiền là yếu tố quan
trọng giúp ổn định và tăng trưởng kinh tế. NHTW thông qua các hoạt động của mình
để khống chế tỷ lệ lạm phát hàng năm. Có ba loại lạm phát chủ yếu trong nền kinh tế,

ngăn chặn hiện tượng kinh tế suy giảm trên toàn cầu do tác động của khủng hoảng tài
chính-tiền tệ những năm trước đó. Trong giai đoạn này, tăng trưởng của hầu hết các
nước trên thế giới có xu hướng giảm sút - kể cả khối các nước phát triển và khối các
nước đang phát triển. Thương mại quốc tế cũng có sự giảm sút mạnh mẽ. Đầu tư
quốc tế trong giai đoạn này cũng có dấu hiệu suy giảm. Theo Ngân hàng Thế giới,
dòng FDI đã giảm từ 818 tỷ USD năm 2001 xuống còn 681 tỷ USD năm 2002 và 580
tỷ USD năm 2003. Để khắc phục tình trạng tăng trưởng kinh tế, thương mại và đầu
tư giảm sút, các nước, đặc biệt là các nước phát triển buộc phải lựa chọn giải pháp
nới lỏng CSTT nhằm thúc đẩy tăng trưởng.
Đi đầu trong việc thực hiện chính sách tài chính-tiền tệ nới lỏng giai đoạn
2001-2003 là Mỹ. Từ năm 2001 đến cuối năm 2003, để kích thích tăng trưởng, chống
giảm phát, FED đã 13 lần cắt giảm lãi suất, đưa mức lãi suất cơ bản từ 6% năm 2001
xuống còn 1% (mức thấp kỷ lục kể từ năm 1958) vào 25/6/2003.Cũng theo chiều
hướng này, từ 2001 đến tháng 6/2003, NHTW Châu Âu (ECB) cũng đã 13 lần điều
chỉnh chính sách lãi suất, đưa mức lãi suất của khu vực này xuống còn 2% - mức thấp
nhất kể từ sau Thế chiến II.Việc Mỹ và EU cắt giảm lãi suất đã khiến hàng loạt các
- 18 -
NHTW khác phải cắt giảm lãi suất theo.Trung Quốc đã phải giảm lãi suất liên tục
trong giai đoạn 1998-2003 nhằm kích cầu trong nước.
CSTT nới lỏng của các nước trong giai đoạn này đã góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, hoạt động đầu tư và thương mại toàn cầu. Năm 2004, GDP thực tế
toàn cầu đạt 5,3% - mức cao nhất trong vòng 20 năm trước đó. Tốc độ tăng thương
mại toàn cầu cũng đạt mức 10,8%, cao hơn so với mức 5,5% của năm 2003 và mức
0,2% của năm 2001. Năm 2004, lượng vốn FDI của toàn thế giới đạt khoảng 612 tỷ
USD, tăng 14% so với năm 2003. Đây là năm đầu tiên FDI toàn cầu tăng so với năm
trước sau khi đạt mức cao nhất vào năm 2000.
- Sau khoảng gần 3 năm áp dụng CSTT nới lỏng, cùng với sự phục hồi về
kinh tế, đầu tư và thương mại, hầu hết các nước trên thế giới phải đối mặt với lạm
phát leo thang mà biểu hiện là giá cả nguyên nhiên vật liệu, giá cả hàng tiêu dùng và
lương thực thực phẩm đều tăng mạnh. Thêm vào đó, cuộc chiến Iraq và khủng hoảng

tỷ DTBB lên 12,5%. CSTT thắt chặt được các nước áp dụng trong giai đoạn
2004-2006 đã khiến tăng trưởng, lạm phát của các nền kinh tế lớn như Mỹ, EU, Nhật
Bản có chiều hướng chửng lại sau khi đã tăng đỉnh điểm vào năm 2004.
- Sau thời gian dài liên tục áp dụng CSTT thắt chặt nhằm ngăn chặn tình trạng
lạm phát leo thang, bước sang năm 2007, dường như mọi dự báo của các tổ chức
kinh tế quốc tế đều cho thấy, nền kinh tế thế giới có dấu hiệu tăng trưởng khả quan
và các hoạt động kinh tế tài chính vĩ mô tương đối ổn định, lạm phát của các khối
kinh tế lớn đã từng bước được kiểm soát. Tuy nhiên, đến giữa năm 2007, dấu hiệu
nguy cơ khủng hoảng tín dụng của các khối kinh tế lớn bắt đầu xuất hiện. Đây là hệ
quả của việc tăng lãi suất liên tục của FED giai đoạn 2004-2006.
Khởi đầu là tình trạng nợ xấu gia tăng trong lĩnh vực cho vay cầm cố ở Mỹ.
Để khuyến khích người dân vay tiền mua nhà, các TCTD đã áp dụng cơ chế cho vay
linh hoạt mà không tính tới khả năng chi trả của khách hàng. Cụ thể là, các công ty
địa ốc của Mỹ đã đưa ra những sản phẩm vay trả góp mới với lãi suất thả nổi. Rủi ro
phát sinh khi FED liên tục tăng lãi suất cơ bản của đồng USD trong thời gian dài làm
cho lãi suất cho vay cầm cố của Mỹ cũng tăng theo, dẫn đến người dân không thể trả
- 20 -
nợ ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống tín dụng tăng cao và lên tới 300 tỷ USD.
Nhiều tập đoàn, ngân hàng, quỹ đầu cơ, các nhà cho vay cầm cố lớn của Mỹ rơi vào
tình trạng khó khăn. Khủng hoảng cho vay thế chấp của Mỹ nhanh chóng lan sang
Anh và một số nước Châu Âu, ảnh hưởng sâu sắc tới thị trường tài chính thế giới,
buộc các NHTW lớn trên thế giới phải phối hợp để ngăn chặn. CSTT nới lỏng được
xem là một trong những phương thuốc hữu hiệu để ngăn chặn tình trạng này, với các
biện pháp cụ thể sau:
• Hầu hết các NHTW lớn đã đều phải nhiều lần bơm tiền vào hệ thống tín
dụng nhằm cứu vãn thị trường tài chính trước cơn bão khủng hoảng thế chấp
của Mỹ. Trong năm 2007. FED đã 3 lần bơm tiền nhằm cứu vãn TTTT. Lần
thứ nhất là 88 tỷ USD tiền mặt để hỗ trợ các ngân hàng; lần thứ hai là 3,5 tỷ
USD vào cuối tháng 8/2007; lần thứ ba là 20 tỷ USD vào tháng 12/2007.
NHTW Anh cũng đã phải bơm tiếp 14,3 tỷ USD. Trước tác động lan toả của

châu Âu tháng 7/2009 là 9,5%, mức cao nhất trong 10 năm qua. Thất nghiệp cao sẽ
ảnh hưởng không nhỏ đến tiêu dùng. ECB hiện đang hết sức lo lắng về sự hồi phục
còn mong manh của nền kinh tế và lo ngại sự đi lên của nền kinh tế sẽ chững lại nếu
thắt chặt CSTT quá sớm. Do đó, ECB vẫn duy trì lãi suất cơ bản đồng Euro thấp kỷ
lục ở mức 1% trong giai đoạn hiện nay.
Trước tác động nặng nề của suy thoái kinh tế toàn cầu, Chính phủ Hàn Quốc
và NHTW Hàn Quốc (BoK) đã quyết định can thiệp nhằm ngăn chặn đà suy giảm
thông qua các kế hoạch kích cầu cả gói lớn song song với việc cắt giảm đáng kể lãi
suất cơ bản.Việc điều chỉnh biên độ lãi suất đang được tiến hành sau khi BoK đóng
băng lãi suất ở mức thấp 2% trong suốt các tháng đầu năm 2009. Mức lãi suất trước
thời điểm hạ lần cuối là 3,25%. Viện Nghiên cứu Phát triển Hàn Quốc (KDI) nhận
định Hàn Quốc sẽ đưa mức lãi suất siêu thấp hiện nay trở lại bình thường, song tiến
trình này cần thực hiện theo lộ trình để giảm thiểu tác động tới thị trường.
Kể từ ngày 26/11/2008, NHTW Trung Quốc (PBOC) đã mạnh tay cắt giảm
1,08% lãi suất cho vay kỳ hạn một năm đồng Nhân dân tệ, đưa lãi suất này về mức
- 22 -
5,58%. Đây là mức cắt giảm lãi suất mạnh nhất ở Trung Quốc kể từ năm 1997 nhằm
đối phó với tình trạng gia tăng của tỷ lệ thất nghiệp và tốc độ tăng trưởng kinh tế sụt
giảm. Để cảnh báo thị trường phải chuẩn bị cho một chính sách siết chặt trong tương
lai, NHTW Trung Quốc đang dùng cách tăng dần lãi suất.Tháng 07/2009, PBOC đã
nâng lãi suất đấu thầu trái phiếu chính phủ, từ đó đẩy các mức lãi suất của TTTT lên
để tránh tình trạng bong bóng trên thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản và
lo ngại gói kích cầu 4.000 tỉ Nhân dân tệ của nước này sẽ khiến cho lạm phát quay
trở lại. Lượng cung tiền M2 của Trung Quốc đã tăng lên mức kỷ lục 28,5% trong
tháng 6/2009,buộc PBOC phải thắt chặt CSTT thông qua các hoạt động thị trường
mở.
Nhìn lại hoạt động điều hành CSTT của các nền kinh tế lớn trong giai đoạn
2001-2009, có thể rút ra một số kinh nghiệm như sau:
Một là : để chống suy giảm kinh tế, kích thích đầu tư, NHTW các nước đều
thực hiện CSTT nới lỏng bằng cách cắt giảm lãi suất, thậm chí là đến mức thấp nhất,

doanh nghiệp gặp phải là “với lãi suất như hiện nay thì có nên vay ngân hàng để mua
dây chuyền sản xuất không? Nếu đầu tư thì liệu doanh nghiệp có khả năng trả lãi cao
như vậy trong thời gian tới không?”. Do đó, điều hành lãi suất ổn định là điều kiện
quan trọng để kích thích đầu tư cho tăng trưởng kinh tế. Mọi sự điều tiết cắt giảm
lượng cung tiền hoặc bơm thêm tiền vào lưu thông của NHTW sẽ tác động đến lãi
suất trên TTTT. Đó được gọi là cơ chế điều hành lãi suất hay chính sách lãi suất của
NHTW.
Chính sách lãi suất của NHTW có thể được thực hiện theo hai hướng đó là
chính sách can thiệp trực tiếp hoặc chính sách tự do hóa lãi suất. Chính sách này đang
được phần lớn các nước có thị trường phát triển áp dụng.Tuy vậy, trong mọi trường
hợp, NHTW vẫn có những can thiệp cần thiết khi lãi suất trên TTTT biến động mạnh,
nhằm quản lý nền kinh tế theo mục tiêu tăng trưởng ổn định.Chính sách lãi suất của
các quốc gia chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ chính sách lãi suất của Mỹ và thường
biến động theo chu kỳ.Chính sách lãi suất thấp luôn là động lực quan trọng kích thích
nền kinh tế hồi phục sau giai đoạn suy thoái.
- 24 -
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT VÀ
NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN DIỄN BIẾN KINH TẾ VĨ MÔ CỦA VIỆT NAM.
2.1 Tổng quan tình hình kinh tế - tài chính của Việt Nam giai đoạn 2001-2008
2.1.1 Tăng trưởng kinh tế
Trong 5 năm 2001-2005, trong bối cảnh hết sức khó khăn cả trong và ngoài
nước nhưng nền kinh tế nước ta vẫn duy trì được mức tăng trưởng cao và tương đối
bền vững. Tốc độ GDP bình quân 5 năm tăng 7,5%, trong đó nông-lâm-ngư nghiệp
tăng 3,8%, công nghiệp và xây dựng tăng 10,2%, dịch vụ tăng 7%, mức cao nhất kể
từ năm 1986 đến thời điểm năm 2005.
Năm 2006, năm đầu tiên thực hiện kế hoạch 5 năm cuối của chiến lược 10
năm 2001-2010, nền kinh tế nước ta vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá
cao. Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu do Quốc hội đề ra đều đạt kế hoạch. Tổng
sản phẩm trong nước tăng 8,23% (kế hoạch là 8%) và đạt cao hơn chỉ tiêu tăng
trưởng kinh tế bình quân của kế hoạch 5 năm 2006-2010 là 7,5%-8%. Năm 2007 tăng

600
800
1000
1200
2000 2005 2006 2007 2008
Hình 2.1: GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái
Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam – Kinh tế 2008-2009
2.1.2 Chuyển đổi cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế luôn là mục tiêu hàng đầu và quan trọng. Xu
hướng chuyển dịch là tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp-xây dựng và dịch vụ,
giảm tỷ trọng các ngành nông-lâm-ngư nghiệp. Tỷ trọng nông-lâm-ngư nghiệp giảm
từ 23,25% năm 2001 xuống còn 21,99% vào năm 2008, trong khi đó tỷ trọng ngành
công nghiệp và xây dựng tăng từ 38,12% năm 2001 lên 39,91% vào năm 2008. Tỷ
trọng ngành dịch vụ thường giao động ở mức 38%-39%.
Song song với sự chuyển dịch về cơ cấu giữa các ngành còn có sự chuyển
dịch đáng kể về thành phần kinh tế.Chương trình sắp xếp lại các DNNN từ năm 1992
đến nay đã đạt kết quả quan trọng: số lượng DNNN giảm từ hơn 12.000 năm 1992
xuống còn gần 2200 vào tháng 9/2006. Việc tổ chức lại khu vực DNNN hình thành
nên các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế lớn, đã hướng các doanh nghiệp tập trung
đầu tư vào những lĩnh vực then chốt. Từ năm 2003-2007, DNNN đạt mức tăng
trưởng từ 13%-16%, đóng góp khoảng 36%-39% GDP. Kinh tế ngoài Nhà nước phát

Trích đoạn Xuất khẩ u nhập khẩu Quỏ trỡnh phỏt triển của chớnh sỏch lói suất Tỏc động của chớnh sỏch lói suất đến diễn biến kinh tế vĩ mụ Mặt tớch cực, những tồn tại và nguyờn nhõn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status