Đ ề ánkiểm toán tài chính
LỜI MỞ ĐẦU
Để đáp ứng nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế tàI chính nhằm nâng cao chất
lượng quản lý kinh tế trong nền kinh tế quốc dân ,vấn đề kiểm tra kiểm soát chất lượng
làm lành mạnh hoá các thông tin tàI chính trong nền kinh tế quốc dânlà một nhu cầu cấp
thiết. Giúp cho nền kinh tế thị trường có thể đứng vững và có thể phát triển toàn diện về
mọi mặt.Nó đIũu tiết nền kinh tế đI đúng hướng và hạn chế được những khủng hoảng có
thể xảy ra trong nền kinh tế thị trường.chính vì vậy mà kiểm toán ra đời như một sự tất
yếu.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế đang phát triển, sự ra
đời của các doanh nghiệp trẻ và đày triển vọng khiến cho sự canh tranh giữa các doanh
nghiệp ngày càng trở nên gay gắt. Các doanh nghiệp cần mở rộng sản xuất kinh doanh,
đầu tư mới máy móc, trang thiết bị hiện đại cho sản xuất…do vậy doanh nghiệp cần phải
huy động vốn từ các nhà đầu tư bên ngoài. Các nhà đầu tư cần có những tài liệu tin cậy
để có sự đầu tư đúng đắn, ngoài ra; các cơ quan Nhà nước cần thông tin trung thực để
điều tiết vĩ mô nền kinh tế; người lao động cần thông tin đáng tin cậy về kết quả kinh
doanh, thực hiện chính sách tiền lương…; khách hàng, nhà cung cấp cần hiểu rõ thực
chất kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp để cung cấp hàng hoá, dịch vụ.
Chính vì vậy, kiểm toán nói chung và kiểm toán tài chính ra đời với vai trò, chức năng
xác minh và tư ván không chỉ giúp cho sự quản lý vĩ mô của Nhà nước mà còn ý nghĩa
cho bản thân doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm. Nếu như Báo cáo tài chính chỉ
cung cấp và trình bày cho người đọc thực trạng của doanh nghiệp tại một thời gian nhất
định thì kiểm toán các Báo cáo tài chính sẽ gây dựng lòng tin cho người sử dụng đối với
Báo cáo tài chính đó.
Từ đó ta có thể thấy mục tiêu của tổ chức công tác kiểm toán hướng tơí việc tạo ra
mối quan hệ khoa học và nghệ thuật các phương pháp kĩ thuật kiểm toán dùng để xác
minh và bày tỏ ý kiến về đối tượng kiểm toán.mối liên hệ này xuất phát từ yêu cầu thực
hiện chức năng kiểm toántheo từng đối tượng loại hình cụ thể của kiểm toán .Những
phương pháp kĩ thuật áp dụng rất đa dạng,sử dụng những phưong pháp luận,những phạm
trù chiết học ,kinh tế trính trị vào nghiên cứu.các phương pháp toán học đối chiếu
lôgíc,đối chiếu trực tiếp,kiểm kê ,thực nghiệm và đIều tra…các yếu tố này cần được kết
một ,ngược lại ,các yếu tố quan hệ chặt chẽ,khoa học và hệ thống hoạt
động ở mức độ tối ưu .
1.1.2 Tổ chức kiểm toán
là kháI niệm bao hàm trình tự kiểm toán.một cuộc kiểm toán chỉ có
thể thực hiện thành công nếu đối tượng kiểm toán được xác định
thống nhất giữa chủ thể và khách thểkiểm toán,trong đó chủ thể kiểm
toán được xác định rõ mục tiêu và phạm vi kiểm toán vàkết hợp khéo
léo các phương pháp kĩ thuật theo trình tự kiểm toán trong khuôn khổ
những cơ sở pháp lý nhất định để thực hiện cuộc kiểm toán,thoả mãn
nhu cầu khách thể kiểm toán và các bên quan tâm.theo đó tổ chức
kiểm toán là một vấn đề cơ bản,có ý nghĩa quyết định sự thành côngvà
tính hiệu quả thực hiện một cuộc kiểm toán.
1.1.3 Trình tự
Là thứ tự diễn ra từ đầu đến cuối của một vấn đề đã được xắp xếp dự
tính từ trứơc lúc xảy ra hiện tượng đó.
1.1.4 Trình tự kiểm toán
Là một quy trình chung với 3 bước cơ bản
- Chuẩn bị kiểm toán
-Thực hành kiểm toán
- Kết thúc kiểm toán
PhầnII: Quy trình chung của công tác kiểm toán
2.1. Lập kế hoạch kiểm toán trong quy trình kiểm toán báo cáo tài
chính.
2.1.1 Qui trình kiểm toán và vai trò của lập kế hoạch kiểm toán trong quy
trình kiểm toán Báo cáo tài chính.
Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm
toán cũng như để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ có giá trị làm căn cứ cho
3
Đ ề ánkiểm toán tài chính
kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý của số liệu trên Báo cáo
• Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên thu thập được các bằng chứng kiểm
toán đầy đủ và có giá trị làm cơ sở để đưa ra các ý kiến xác đáng về Báo cáo
tài chính, từ đó giúp các kiểm toán viên hạn chế những sai sót, giảm thiểu
trách nhiệm pháp lý, nâng cao hiệu quả công việc và giữ vững được uy tín
nghề nghiệp đối với khách hàng.
• Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên phối hợp hiệu quả với nhau cũng như
phối hợp hiệu quả với các bộ phận có liên quan như kiểm toán nội bộ, các
chuyên gia bên ngoài… Đồng thời qua sự phối hợp hiệu quả đó, kiểm toán
viên có thể tiến hành cuộc kiểm toán theo đúng chương trình đã lập với các
chi phí ở mức hợp lý, tăng cường sức mạnh cạnh tranh cho Công ty kiểm toán
và giữ uy tín với khách hàng trong mối quan hệ làm ăn lâu dài.
• Kế hoạch kiểm toán thích hợp là căn cứ để Công ty kiểm toán tránh xảy ra
những bất đồng đối với khách hàng. Trên cơ sở kế hoạch kiểm toán đã lập,
kiểm toán viên thống nhất với các khách hàng về nội dung công việc sẽ thực
hiện, thời gian tiến hành kiểm toán cũng như là trách nhiệm của mỗi bên…
Điều này tránh xảy ra những hiểm lầm đáng tiếc giữa hai bên.
• Ngoài ra, căn cứ vào kế hoạch kiểm toán đã được lập, kiểm toán viên có thể
kiểm soát và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán đã và đang thực hiện,
góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán, từ đó càng thắt
chặt hơn mối quan hệ giữa Công ty kiểm toán với khách hàng.
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hoạt động kiểm toán nói chung cũng như
hoạt động kiểm toán độc lập nói riêng là những hoạt động hết sức mới mẻ. Trong
khi đó hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán chưa đầy đủ, nội dung, quy
trình cũng như phương pháp được vận dụng trong các cuộc kiểm toán của Việt
Nam mới ở giai đoạn đầu, nguồn tài liệu thiếu cả về số lượng, tính đồng bộ và
hạn chế về mặt chất lượng. Do vậy, kế hoạch kiểm toán cần được coi trọng để
đảm bảo chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán. Thực tiễn hoạt động kiểm
toán ở nước ta trong những năm vừa qua cho thấy kế hoạch kiểm toán được lập
đầy đủ và chu đáo là một trong những nhân tố hàng đầu đưa đến sự thành công
của cuộc kiểm toán cũng như dẫn đến sự thành công của các doanh nghiệp.
Đ ề ánkiểm toán tài chính
Quy trình kiểm toán bắt đầu khi kiểm toán viên và Công ty kiểm toán thu nhận một khách
hàng. Thu nhận khách hàng là một quá trình gồm 2 bước: thứ nhất, phải có sự liên lạc
giữa kiểm toán viên với khách hàng tiềm năng mà khách hàng này yêu được kiểm toán và
khi có yêu cầu kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá liệu có chấp nhận yêu cầu đó hay
không. Còn đối với những khách hàng hiện tại, kiểm toán viên phải quyết định liệu có
tiếp tục kiểm toán hay không? Trên cơ sở đã xác định được đối tượng khách hàng có thể
phục vụ trong tượng lai, Công ty kiểm toán sẽ tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn
bị lập kế hoạch kiểm toán bao gồm: đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán, nhận diện
các lý do kiểm toán, lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán và ký hợp đồng kiểm toán.
- Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán thông qua việc xem xét hệ thống kiểm soát
và xem xét tính liêm chính của ban giám đốc khách hàng thông qua việc phỏng vấn
các kiểm toán viên tiền nhiệm. Từ đó, xác định khả năng có thể kiểm toán được công
ty khách hàng.
- Nhận diện lý do kiểm toán của công ty khách hàng, để thực hiện việc này kiểm toán
viên có thể phỏng vấn trực tiếp ban giám đốc khách hàng hoặc dựa vào kinh nghiệp
của những cuộc kiểm toán trước.
- Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán: trong quá trình lựa chọn nhân viên kiểm toán
phải chú trọng đến 3 vấn đề:
+ Trong nhóm hay trong đoàn kiểm toán phải có những người có khả năng giám sát
cuộc kiểm toán.
+ Tránh thay đổi kiểm toán viên cho các cuộc kiểm toán đối với một khách hàng
trong nhiều năm.
+ Lựa chọn những kiểm toán viên có kiến thức và kinh nghiệm về nghành nghề kinh
doanh của khách hàng.
- Lập hợp đồng kiểm toán: khi chấp nhận kiểm toán thì công ty kiểm toán lập một hợp
đồng kiểm toán để tránh bất đồng trong hoặc sau cuộc kiểm toán. Hợp đồng kiểm
toán là thoả thuận chính thức giữa Công ty kiểm toán và khách hàng về việc kiểm
toán và thực hiện các dịch vụ có liên quan khác. Về mặt pháp lý hợp đồng kiểm toán
là hợp đồng kinh tế và bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
điều lệ công ty, chính sách tài chính, kế toán… Qua đó kiểm toán viên sẽ tìm thấy
những thông tin hữu ích về công việc kinh doanh của khách hàng. Việc cập nhật và
xem xét các sổ sách của công ty là rất cần thiết vì qua đó kiểm toán viên không chỉ
xác định được các quyết định của các nhà quản lý có phù hợp với pháp luật của Nhà
nước, với các chính sách hiện hành của công ty hay không mà còn giúp kiểm toán
viên hiểu được bản chất của các số liệu cũng như sự biến động của chúng trên các báo
cáo tài chính được kiểm toán.
- Tham quan nhà xưởng, kho bãi, trụ sở làm việc của công ty khách hàng. Công việc
này cung cấp cho kiểm toán viên một bức tranh tổng thể về hoạt động sản xuất kinh
8
Đ ề ánkiểm toán tài chính
doanh của công ty khách hàng, về sản phẩm tồn kho, dây truyền công nghệ, cách phân
công công tác, phong cách quản lý điều hành của ban giám đốc.
- Nhận diện các bên hữu quan: phải được thực hiện ngay trong giai đoạn lập kế hoạch
kiểm toán, thông qua phỏng vấn ban giám đốc, xem sổ theo dõi cổ đông, các bên tham
gia góp vốn, hoặc sổ theo dõi khách hàng. Từ đó dự đoán các vấn đề có thể phát sinh
để hoạch định một kế hoạch kiểm toán phù hợp hơn.
- Dự kiến nhu cầu đối với các chuyên gia bên ngoài: kiểm toán viên phải đánh giá khả
năng chuyên môn, mục đích, phạm vi công việc của họ, cũng như việc sử dụng tài
liệu của các chuyên gia bên ngoài cho các mục tiêu kiểm toán.Ngoài ra, còn phải xem
xét mối quan hệ giữa các chuyên gia bên ngoài với khách hàng hoặc các yếu tố có thể
ảnh hưởng tới tính khách quan của chuyên gia đó.
2.2.3 Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Nếu các thông tin cơ sở được thu thập ở trên giúp cho kiểm toán viên hiểu được về các
mặt hoạt động kinh doanh của khách hàng thì việc thu thập các thông tin về nghĩa vụ
pháp lý của khách hàng giúp cho kiểm toán viên nắm bắt được các quy trình mang tính
pháp lý có ảnh hưởng đến các mặt hoạt động kinh doanh này, những thông tin này được
thu thập trong quá trình tiếp xúc với Ban giám đốc khách hàng bao gồm các loại sau:
- Giấy phép thành lập và điều lệ thành lập của công ty khách hàng. Việc nghiên cứu
những giấy tờ này giúp cho kiểm toán viên hiểu được quá trình hình thành, mục tiêu
nhau thay đổi tuỳ thuộc vào quy mô và mức độ phức tạp trong hoạt động kinh doanh của
đơn vị khách hàng.
Các thủ tục phân tích :
- Phân tích ngang: dựa trên cơ sở so sánh trị số của cùng một chỉ tiêu trên báo cáo tài
chính giữa các kỳ khác nhau. VD: so sánh số liệu kỳ này với kỳ trước, số liệu thực tế
với dự toán hoặc ước đoán của kiểm toán viên, so sánh dữ kiện của công ty khách
hàng với dữ kiện của nghành.
- Phân tích dọc: là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ tương quan của các
chỉ tiêu và các khoản mục khác nhau trên báo cáo tài chính. VD: Tỷ xuất thanh toán
nhanh, tỷ xuất tự tài trợ…
2.2.5 Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro
Nếu ở các bước trên, kiểm toán viên mới chỉ thu thập được các thông tin mang tính
khách quan về khách hàng thì ở bước này, kiểm toán viên sẽ căn cứ vào các thông tin đã
thu thập được để đánh giá, nhận xét nhằm đưa ra một kế hoạch kiểm toán phù hợp.
10
Đ ề ánkiểm toán tài chính
2.2.6 Đánh giá mức trọng yếu
- Khái niệm: trọng yếu là khái niềm dùng để chỉ tầm cỡ và bản chất các sai phạm của
các thông tin tài chính, hoặc đơn lẻ hoặc theo nhóm.
- Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá mức trọng yếu
để ước tính mức độ sai sót trên báo cáo tài chính có thể chấp nhận từ đó xác định nội
dung và trình tự thực hiện các thử nghiệm kiểm toán.
- Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đưa ra ước tính ban đầu
về tính trọng yếu và phân bổ các ước tính ban đầu đó cho các khoản mục.
+ Ước tính ban đầu về mức trọng yếu: mức ước tính ban đầu về tính trọng yếu là giá trị
tối đa mà kiểm toán viên tin rằng tại giá trị tối đa đó các báo cáo tài chính có thể bị sai
nhưng không ảnh hưởng đến các quyết định của những người sử dụng thông tin tài chính,
hay nói cách khác là mức sai sót có thể chấp nhận được đối với báo cáo tài chính.
Ý nghĩa: việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu giúp cho kiểm toán viên lập kế
hoạch để thu thập bằng chứng kiểm toán một cách đầy đủ và thích hợp. Cụ thể, nếu kiểm
Tóm lại: mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là công việc mang tính xét đoán
nghề nghiệp dựa trên các hướng dẫn của công ty kiểm toán. Mức độ trọng yếu được
xác định ban đầu có ảnh hưởng tới quy mô của cuộc kiểm toán, ảnh hưởng đến việc
thiết kế các thủ tục kiểm toán cần thực hiện trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.
+ Phân bổ các ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục:
• Sau khi kiểm toán viên có được ước lượng ban đầu về tính trọng yếu thì kiểm toán
viên cần phân bổ mức trọng yếu này cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính, đó
chính là sai số có thể chấp nhận được đối với từng khoản mục. Mục đích của việc
phân bổ này nhằm giúp kiểm toán viên xác định được số lượng bằng chứng kiểm toán
thích hợp phải thu thập đối với từng khoản mục ở mức chi phí thấp nhất, mà vẫn đảm
bảo được tổng hợp các sai sót trên báo cáo tài chính không vượt quá ước lượng ban
đầu về tính trọng yếu.
• Do hầu hết các thủ tục kiểm toán thường tập trung vào các tài khoản trên bảng cân đối
kế toán nên việc phân bổ các ước lượng ban đầu về tính trọng yếu thường được tiến
hành đối với bảng cân đối kế toán. Việc phân bổ được thực hiện theo cả hai chiều
hướng mà các sai phạm có thể xảy ra là khai khống và khai thiếu.
• Cơ sở để tiến hành phân bổ: dựa vào bản chất của các khoản mục, đánh giá về rủi ro
tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, kinh nghiệm của kiểm toán viên và chi phí kiểm toán
cho từng khoản mục. Trong thực tế khả năng xảy ra sai sót cũng như chi phí kiểm
toán cho từng khoản mục thường khó dự đoán trước, cho nên sự phân bổ ban đầu ước
lượng về mức trọng yếu thường mang tính chủ quan đòi xét đoán nghề nghiệp của
kiểm toán viên.
2.2.7 Đánh giá rủi ro
12
Đ ề ánkiểm toán tài chính
Trên cơ sở mức trọng yếu và phân bổ mức trọng yếu thì kiểm toán viên cần đánh giá
khả năng xảy ra sai sót trọng yếu trên toàn bộ báo cáo tài chính cũng như trên từng khoản
mục để phục vụ cho việc thiết kế các thủ tục kiểm toán và xây dựng chương trình kiểm
toán phù hợp. Công việc này được gọi là đánh giá rủi ro kiểm toán để lập kế hoạch kiểm
toán.
chi tiết không được chú trọng hoặc do không áp dụng quy trình hợp lý cho từng phần
hành.
- Kiểm toán viên có phát hiện được các bằng chứng nhưng không nhận thức được các
sai sót cũng như ảnh hưởng của nó tới báo cáo tài chính.
- Hoàn toàn không phát hiện được sự sai sót do có sự thông đồng.
2.2.8 Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro
kiểm soát.
Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát là một
phần việc hết sức quan trọng mà kiểm toán viên phải thực hiện trong một cuộc kiểm toán,
vấn đề này được quy định trong nhóm chuẩn mực đối với công việc tại chỗ ở điều thứ 2
trong 10 Chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận rộng rãi( GASS): “Kiểm toán viên phải
có một sự hiểu biết đầy đủ về hệ thống kiểm soát nội bộ để lập kế hoạch kiểm toán và để
xác định bản chất, thời gian và phạm vi của các cuộc khảo sát phải thực hiện” . Và điều
này cũng được quy định trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400, Đánh giá rủi ro
và kiểm soát nội bộ: “ Kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ thống kế toán và kiểm
soát nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán và xây dựng cách tiếp cận kiểm
toán có hiệu quả”.
Trong các bước tiếp theo của giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, dựa vào các yếu tố xác
định trong kế hoạch kiểm toán tổng quát, kiểm toán viên sẽ thiết kế các thủ tục kiểm toán
chi tiết và soạn thảo chương trình kiểm toán.
2.2.9 Thiết kế chương trình kiểm toán
2.2.9.1 Chương trình kiểm toán
Chương trình kiểm toán là những dự kiến chi tiết về các công việc kiểm toán cần thực
hiện, thời gian hoàn thành và sự phân công lao động giữa các kiểm toán viên cũng như dự
kiến về những tư liệu, thông tin liên quan cần sử dụng và thu thập. Trọng tâm của chương
trình kiểm toán là các thủ tục kiểm toán cần thực hiện đối với từng khoản mục hay bộ
phận được kiểm toán.
Chương trình kiểm toán được thiết kế phù hợp sẽ đem lại nhiều lợi ích:
• Sắp xếp một cách có kế hoạch các công việc và nhân lực, đảm bảo sự phối hợp giữa
các kiểm toán viên cũng như hướng dẫn chi tiết cho các kiểm toán viên trong quá