Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KIỂM TOÁN
1. Khái quát về tổ chức công tác kiểm toán
1.1 Tổ chức
Là mối liên hệ giữa các yếu tố trong một hệ thống .Mức độ liên hệ này
được xác định qua biên độ giao động từ không đến một.Ở mức độ không,
các yếu tố trong cùng một hệ thống không tồn tại bất kì mối liên hệ nào. Khi
đó hệ thống rơi vào tình trạng tan rã hay vô tổ chức.Ở độ một, ngược lại ,các
yếu tố quan hệ chặt chẽ,khoa học và hệ thống hoạt động ở mức độ tối ưu .
1.2 Tổ chức kiểm toán
Là khái niệm bao hàm trình tự kiểm toán .Một cuộc kiểm toán chỉ có
thể thực hiện thành công nếu đối tượng kiểm toán được xác định thống nhất
giữa chủ thể và khách thể kiểm toán, trong đó chủ thể kiểm toán được xác
định rõ mục tiêu và phạm vi kiểm toán và kết hợp khéo léo các phương pháp
kĩ thuật theo trình tự kiểm toán trong khuôn khổ những cơ sở pháp lý nhất
định để thực hiện cuộc kiểm toán, thoả mãn nhu cầu khách thể kiểm toán và
các bên quan tâm.theo đó tổ chức kiểm toán là một vấn đề cơ bản,có ý nghĩa
quyết định sự thành côngvà tính hiệu quả thực hiện một cuộc kiểm toán.
1.3 Trình tự
Là thứ tự diễn ra từ đầu đến cuối của một vấn đề đã được xắp xếp dự
tính từ trứơc lúc xảy ra hiện tượng đó.
1.4 Trình tự kiểm toán
Là một quy trình chung với 3 bước cơ bản
- Chuẩn bị kiểm toán
-Thực hành kiểm toán
- Kết thúc kiểm toán
Thực hiện: Võ Thị Linh
Lớp: K13CK2 -Trang 1 -
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
2. Nội dung tổ chức công tác kiểm toán
Để giúp cho việc lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán
được thực hiện có hiệu quả, các giám đốc kiểm toán và các kiểm toán viên
cao cấp thường lập chiến lược kiểm toán.
2.1.4 Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
Quy trình kiểm toán bắt đầu khi kiểm toán viên và Công ty kiểm toán
thu nhận một khách hàng. Công ty kiểm toán sẽ tiến hành các công việc cần
thiết để chuẩn bị lập kế hoạch kiểm toán bao gồm: đánh giá khả năng chấp
nhận kiểm toán, nhận diện các lý do kiểm toán, lựa chọn đội ngũ nhân viên
kiểm toán và ký hợp đồng kiểm toán.
- Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán thông qua việc xem xét hệ
thống kiểm soát và xem xét tính liêm chính của ban giám đốc khách hàng
thông qua việc phỏng vấn các kiểm toán viên tiền nhiệm. Từ đó, xác định
khả năng có thể kiểm toán được công ty khách hàng.
- Nhận diện lý do kiểm toán của công ty khách hàng, để thực hiện việc
này kiểm toán viên có thể phỏng vấn trực tiếp ban giám đốc khách hàng
hoặc dựa vào kinh nghiệp của những cuộc kiểm toán trước.
Thực hiện: Võ Thị Linh
Lớp: K13CK2 -Trang 3 -
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
- Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán: trong quá trình lựa chọn
nhân viên kiểm toán phải chú trọng đến 3 vấn đề:
+ Trong nhóm hay trong đoàn kiểm toán phải có những người có khả
năng giám sát cuộc kiểm toán.
+ Tránh thay đổi kiểm toán viên cho các cuộc kiểm toán đối với một
khách hàng trong nhiều năm.
+ Lựa chọn những kiểm toán viên có kiến thức và kinh nghiệm về
nghành nghề kinh doanh của khách hàng.
- Lập hợp đồng kiểm toán: khi chấp nhận kiểm toán thì công ty kiểm
toán lập một hợp đồng kiểm toán để tránh bất đồng trong hoặc sau cuộc
kiểm toán. Hợp đồng kiểm toán là thoả thuận chính thức giữa Công ty kiểm
về công việc kinh doanh của khách hàng. Việc cập nhật và xem xét các sổ
sách của công ty là rất cần thiết vì qua đó kiểm toán viên không chỉ xác định
được các quyết định của các nhà quản lý có phù hợp với pháp luật của Nhà
nước, với các chính sách hiện hành của công ty hay không mà còn giúp kiểm
toán viên hiểu được bản chất của các số liệu cũng như sự biến động của
chúng trên các báo cáo tài chính được kiểm toán.
1- Tham quan nhà xưởng, kho bãi, trụ sở làm việc của công ty khách hàng.
Công việc này cung cấp cho kiểm toán viên một bức tranh tổng thể về hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty khách hàng, về sản phẩm tồn kho, dây
truyền công nghệ, cách phân công công tác, phong cách quản lý điều hành
của ban giám đốc.
2- Nhận diện các bên hữu quan: phải được thực hiện ngay trong giai đoạn
lập kế hoạch kiểm toán, thông qua phỏng vấn ban giám đốc, xem sổ theo dõi
cổ đông, các bên tham gia góp vốn, hoặc sổ theo dõi khách hàng. Từ đó dự
đoán các vấn đề có thể phát sinh để hoạch định một kế hoạch kiểm toán phù
hợp hơn.
Thực hiện: Võ Thị Linh
Lớp: K13CK2 -Trang 5 -
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
3- Dự kiến nhu cầu đối với các chuyên gia bên ngoài: kiểm toán viên phải
đánh giá khả năng chuyên môn, mục đích, phạm vi công việc của họ, cũng
như việc sử dụng tài liệu của các chuyên gia bên ngoài cho các mục tiêu
kiểm toán.Ngoài ra, còn phải xem xét mối quan hệ giữa các chuyên gia bên
ngoài với khách hàng hoặc các yếu tố có thể ảnh hưởng tới tính khách quan
của chuyên gia đó.
2.1.6 Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Nếu các thông tin cơ sở được thu thập ở trên giúp cho kiểm toán viên
hiểu được về các mặt hoạt động kinh doanh của khách hàng thì việc thu thập
các thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng giúp cho kiểm toán viên
nắm bắt được các quy trình mang tính pháp lý có ảnh hưởng đến các mặt
thành 3 phần: trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm phân tích và trắc nghiệm
trực tiếp các số dư. Mỗi phần được chia nhỏ thành các chu kỳ nghiệp vụ và
các khoản mục trên Báo các tài chính.
2.2 Thực hành kiểm toán
2.2.1 Khái quát quá trình thực hiện kế hoạch kiểm toán
Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình sử dụng các phương pháp
kỹ thuật kiểm toán thích ứng với đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập
bằng chứng kiểm toán. Đó là quá trình triển khai một cách chủ động và tích
cực các kế hoạch, chương trình kiểm toán nhằm đưa ra những ý kiến xác
thực về mức độ trung thực và hợp lý của Báo cáo tài chính trên cơ sở những
bằng chứng kiểm toán đầy đủ và tin cậy.
2.2.2 Thực hiện thủ tục kiểm soát
Thủ tục kiểm soát chỉ được thực hiện sau khi tìm hiểu hệ thống kiểm
soát nội bộ với đánh giá ban đầu là khách thể kiểm toán có hệ thống kiếm
soát nội bộ hoạt động có hiệu lực. Khi đó, thủ tục kiểm soát được triển khai
Thực hiện: Võ Thị Linh
Lớp: K13CK2 -Trang 7 -
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán về thiết kế và về hoạt động của hệ
thống kiểm soát nội bộ
2.2.3 Thực hiện thủ tục phân tich
Các giai đoạn chủ yếu thực hiện thủ tục phân tích:
- Phát triển một mô hình: kết hợp với các biến tài chính và hoạt động.
Khi phát triển một mô hình, chúng ta xác định các biến tài chính hoặc hoạt
động và mối quan hệ giữa chúng. chẳng hạn, chi phí về tiền lương có thể là
sản phẩm của các biến số như: số lượng nhân viên và mức tiền lương bình
quân hoặc số lượng sản phẩm và đơn giá tiền lương hoặc tỷ lệ tiền lương và
tổng chi phí hay doanh thu…Khi kết hợp được những biến độc lập có liên
quan, mô hình sẽ cho ta nhiều thông tin hơn và vì vậy dự đoán sẽ chính xác
hơn. Ngược lại, nếu mô hình và dự đoán đơn giản hoá quá nhiều cũng đồng
của các thông tin tài chính, hoặc đơn lẻ hoặc theo nhóm.
- Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh
giá mức trọng yếu để ước tính mức độ sai sót trên báo cáo tài chính có thể
chấp nhận từ đó xác định nội dung và trình tự thực hiện các thử nghiệm
kiểm toán.
- Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đưa ra
ước tính ban đầu về tính trọng yếu và phân bổ các ước tính ban đầu đó cho
các khoản mục
+ Ước tính ban đầu về mức trọng yếu: mức ước tính ban đầu về tính
trọng yếu là giá trị tối đa mà kiểm toán viên tin rằng tại giá trị tối đa đó các
báo cáo tài chính có thể bị sai nhưng không ảnh hưởng đến các quyết định
của những người sử dụng thông tin tài chính, hay nói cách khác là mức sai
sót có thể chấp nhận được đối với báo cáo tài chính.
Thực hiện: Võ Thị Linh
Lớp: K13CK2 -Trang 9 -
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
Ý nghĩa: việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu giúp cho kiểm toán
viên lập kế hoạch để thu thập bằng chứng kiểm toán một cách đầy đủ và
thích hợp. Cụ thể, nếu kiểm toán viên ước lượng mức trọng yếu càng thấp
thì độ chính xác của các số liệu trên các báo cáo tài chính càng cao và do đó
số lượng bằng chứng cần thu thập càng nhiều và ngược lại.
- Yếu tố định lượng của tính trọng yếu : kiểm toán viên sử dụng các
bảng hướng dẫn của công ty kiểm toán trong việc xác định ban đầu về tính
trọng yếu. Trong đó, thu nhập thuần trước thuế, tài sản lưu động, tổng tài
sản… thường được chọn làm chỉ tiêu làm gốc.
-Yếu tố định tính của tính trọng yếu: Trong thực tế để đánh giá một
sai sót có phải là trọng yếu hay không thì kiểm toán viên không chỉ đánh giá
về mặt giá trị mà còn phải đánh giá về mặt bản chất của sai sót đó, trong đó
có một số sai sót luôn được coi là trọng yếu bất kể quy mô lớn hay nhỏ.
- Sau khi kiểm toán viên có được ước lượng ban đầu về tính trọng yếu
+ Mức độ mà theo đó người sử dụng thông tin tài chính bên ngoài tin
tưởng báo cáo tài chính.
+ Khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo
kiểm toán được phát hành.
- Đánh giá rủi ro tiềm tàng: được thực hiện dựa vào các yếu tố:
1 + Báo cáo công việc kinh doanh của khách hàng
2 + Tính liêm chính của ban giám đốc
3 + Hợp đồng kiểm toán lần đầu hay hợp đồng kiểm toán đã ra
1 + Các nghiệp vụ kt bất thường
2 + Các ước tính kế toán
3 + Quy mô của các số dư trên các tài khoản
Thực hiện: Võ Thị Linh
Lớp: K13CK2 -Trang 11 -
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
- Đánh giá rủi ro kiểm soát : liên quan đến sự yếu kém của hệ thống kiểm
soát nội bộ, rủi ro kiểm soát được kiểm toán viên đánh giá trên toàn bộ báo
cáo tài chính, cũng như đối với các khoản mục trên báo cáo tài chính.
- Đánh giá rủi ro phát hiện: được xác định từ 3 loại rủi ro trên, xảy ra do các
nhân tố :
1+ Kiểm toán viên thực hiện các bước kiểm toán không thích hợp do kế
hoạch kiểm toán chi tiết không được chú trọng hoặc do không áp dụng quy
trình hợp lý cho từng phần hành.
2+ Kiểm toán viên có phát hiện được các bằng chứng nhưng không nhận
thức được các sai sót cũng như ảnh hưởng của nó tới báo cáo tài chính.
3+ Hoàn toàn không phát hiện được sự sai sót do có sự thông đồng.
2.2.5 Thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết
2.2.5.1 Lập kế hoạch kiểm tra chi tiết
1Bước này bao gồm những công việc chủ yếu như:
- Xác định mục tiêu của các biện pháp kỹ thuật: mục tiêu này có thể:
2+ Thu thập bằng chứng kiểm toán về sai phạm trọng yếu trong các cơ sở
cần đọc những chứng từ tài liệu.
2.2.5.4 Thực hiện các biện pháp kỹ thuật kiểm tra chi tiết trên các khoản
mục đã chọn.
Trên cơ sở các khoản mục đã chọn, cần thực hiện các biện pháp kỹ
thuật để kiểm tra chi tiết. Có thể áp dụng các kỹ thuật kiểm toán thích hợp
đối với mỗi khoản mục lựa chọn để tiến hành kiểm tra chi tiết nhằm xác định
khả năng tồn tại những chênh lệch đến mức đòi hỏi điều tra và theo dõi.
Trong các biện pháp kỹ thuật kiểm tra chi tiết xác nhận và kiểm tra thực tế là
những kỹ thuật thường được áp dụng rộng rãi trong kiểm toán báo cáo tài
chính và cần được thực hiện trên cơ sở xác định.
Thực hiện: Võ Thị Linh
Lớp: K13CK2 -Trang 13 -
Bài tiểu luận GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
+ Xác nhận: Xác nhận số dư và những nghiệp vụ bằng một nguồn bên
ngoài thường cung cấp bằng chứng kiểm toán có tính thuyết phục. Xác nhận
thường là một thủ tục kiểm toán có hiệu quả vì thủ tục này có thể xác nhận
được thời điểm bắt đầu của nghiệp vụ và những hoạt động xử lý nghiệp vụ
đó. Về loại xác nhận, tuỳ theo loại câu hỏi và câu trả lời tương ứng, có thể
áp dụng các loại xác nhận khác nhau: xác nhận mở, xác nhận đóng, xác nhận
chủ động, những thủ tục kiểm toán thay thế, và xác nhận thụ động.
+ Kiểm tra thực tế: kiểm tra thực tế được ứng dụng rộng rãi trong
kiểm toán tài sản nói chung và đặc biệt trong kiểm toán hàng tồn kho.
2.2.5.5 Đánh giá kết quả kiểm tra chi tiết
Cần đánh giá những bằng chứng kiểm toán đã thu thập được từ quá
trình kiểm tra chi tiết. Những phát hiện bao gồm các sai sót không chỉ về tài
khoản mà còn về chức năng hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ
thống thông tin và có thể về tính khách quan của ban giám đốc, và năng lực
của đội ngũ nhân viên. Nếu sau kiểm tra xác đinh có chênh lệch kiểm toán
thì phải điều tra về tính chất và nguyên nhân, cân nhắc tính trọng yếu của
chênh lệch kiểm toán này trong cơ sở dẫn liệu Báo cáo tài chính về một mục