Lễ bỏ mả của dân tộc giarai potx - Pdf 21

LỄ HỘI BỎ MẢ CỦA DÂN TỘC GIA RAI
Trần Lê Sang ĐHVNHKO8
1. Sơ lược về người Giarai:
Giarai là tộc người thuộc nhóm Nam Đảo, chiếm số lượng không nhiều
trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Địa bàn cư trú của người Giarai phân bố
rộng khắp các tỉnh Tây Nguyên: nhóm Giarai Chor sống chủ yếu ở vùng thung
lũng sông Ayun Pa thuộc huyện Ayun Pa tỉnh Gia Lai và một số ở huyện Krong Pa
tỉnh Gia Lai. Nhóm Giarai Hđrung hiện nay sống tập trung thị xã Plâycu và một
phần sống ở huyện Chư pah, Chư prông và Măng Yang thuộc tỉnh Gia Lai. Nhóm
Giarai Aráp cư trú ở phía bắc thị xã Plâycu, bắc huyện Chư Pah và xã Hbau huyện
Măng Yang tỉnh Gia Lai và xã Ya Chiêm thuộc thị xã Kom Tum và một số xã khác
thyộc huyện Sa Thầy tỉnh Kom Tum. Nhóm Giarai Tpuân chủ yếu sống ở vùng
dọc biên giới Việt Nam – Campuchia tức phía tây huyện Chưpah và ChưPrông tỉnh
Gia Lai.
Đặc trưng văn hoá nổi bật của người Giarai thể hiện ở nhiều khía cạnh khác
nhau. Có khi đó là những vật hữu hình như chiếc khố dành cho người đàn ông vải
trắng kẻ sọc nhiều màu với đường viền hoa văn và tua chỉ đa sắc ở trên. Có khi là
chiếc váy chàm với đường viền hoạ tiết chạy quanh gấu của người phụ nữ. Nhưng
văn hoá không chỉ có thế. Xuất phát từ tín ngưỡng vạn vật hữu linh và ước vọng
vào một cuộc sống tốt đẹp hơn ở "thế giới bên kia", lễ hội Bỏ mả đã trở thành một
trong những nét văn hoá đặc thù của người Giarai – "Trường Sơn - Tây Nguyên".
2. Lễ hội Bỏ mả của người Giarai
Lễ hội Bỏ mả hay còn có tên gọi khác theo tiếng của người Giarai là "Pơthi".
Trong quan niệm của người Giarai thì vòng đời của con người là một chu kỳ khép
kín (đất -người- chết-hồn ma-đất ). Mỗi vòng đời có hai cuộc đời, cuộc đời của
người sống và cuộc đời của linh hồn sau khi chết. Với cách hiểu đó hồn ma không
phải là lực lượng siêu nhiên, thần bí mà là cuộc sống, cuộc sống của hồn ở một thế
giới đối lập với thế giới của người sống. Cuộc sống đó cũng có sinh có tử, có vui
sướng khổ đau như cuộc đời con người trần gian. Theo đồng bào giữa người sống
và người chết có những ràng buộc đặc biệt, mặc dù đã chết nhưng khi còn ở nghĩa
địa cạnh làng thì hàng ngày người sống vẫn phải mang cơm, rượu để nuôi người

bắp của chúng tôi. Chúng tôi đi làm nhà cho ma đây” .
Những bức tượng nhà mồ của người Giarai không đi sâu vào chi tiết mà chú
trọng mảng khối dựa trên hình dáng tự nhiên của khúc gỗ được đốn về. Hình thức
và chủ đề của các nhóm tượng cũng khá phong phú. Ví dụ như, nhóm tượng ngồi
khóc rất phổ biến, thể hiện tính tưởng niệm, người xem có thể dễ dàng cảm nhận
được trạng huống tinh thần của tượng thông qua hình nét biểu đạt. Nội tâm nhân
vật được bộc lộ. Tượng luôn trong tư thế ngồi trang nghiêm, suy tư, vẻ mặt đượm
buồn, đau đớn, tiếc nuối tột độ. Tượng mẹ con có tượng đứng, ngồi, địu, khênh
luôn gợi lên tình mẫu tử thánh thiện, tuy tỷ lệ hình khối mẹ và con chênh lệch
nhiều song lại cho ta cảm giác không hề tách rời và gợi lên ý niệm sinh đôi của con
người và mùa màng nghệ thuật sáng tạo. Tượng mồ Gia –rai có khác biệt, không
như tượng của dân tộc Việt, Khmer qua bàn tay của người nghệ nhân tạo thành
những bức tượng linh thiêng, đặc biệt khi đặt ở vị trí trang trọng là nơi thờ cúng.
1
Đây là những thanh niên đã khẳng định tài năng và sức mạnh của mình đối với buôn làng.
Tượng nhà mồ ra đời từ thiên nhiên, được người Gia-rai đặt trong khung cảnh
thiên nhiên, rồi hoà vào thiên nhiên, mặc cho các yếu tố của thời tiết như mưa,
nắng, sương gió làm hư hỏng.
Để làm cho bức tượng mồ trở nên ấn tượng, người Gia-rai còn sử dụng đến
màu sắc để trang điểm. Màu sắc là một yếu tố cơ bản tham gia vào nghệ thuật điêu
khắc làm nổi rõ hơn khuynh hướng đa dạng trong tạo hình tượng mồ. Trong bảng
màu tự nhiên của người Gia-rai có đầy đủ các sắc màu: vàng, đen, trắng, đỏ,
xanh các sắc màu này được lấy ngay từ thiên nhiên trong môi tường sống của họ.
Quan sát cách tạo hoa văn trên y phục sẽ thấy người Gia-rai sử dụng màu sắc một
cánh hết sức linh hoạt. Từ màu sắc y phục đến màu sắc trên các công trình mang
tính chất tôn giáo, người Gia-rai thiên về dùng màu đỏ, màu đỏ vẫn là màu chính,
màu chủ đạo, màu đỏ được sử dụng vẽ hoa văn trên mái nhà mồ, tô điểm cho các
hoa văn được đục thủng trên nóc mái Màu đỏ lại một lần nữa được dùng tô điểm
cho tượng nhà mồ. Màu đỏ được người Gia-rai tạo ra bằng cách lấy chất bột của
một loại đá non (khor) rồi hoà với nhựa của cây po-pẹ để tạo thành thể keo có màu

buôn làng kéo đến rất đông, mỗi người mang theo một nghè rượu, một con lợn, con
gà để góp vui… Trong ngày này đồng bào không đánh chiêng ở nhà mồ mà chỉ ăn
uống vui chơi ca hát, thăm hỏi nhau tại buôn làng. Cuộc vui này kéo đến tối thì tạm
ngưng .
Sang ngày thứ tư, đồng bào tiếp tục uống rượu, ngày này đồng bào làm lễ giải
phóng cho người góa bụa, người ta tắm gội cho người góa, mặc áo, váy mới cho
người góa. Người góa được cười đựợc hát như người bình thường. Sau ngày này,
người góa được hoàn toàn tự do, không phụ thuộc vào người chết nữa .
Bên cạnh nét đặc trưng về kiến trúc nhà mồ thì nét độc đáo của lễ Bỏ mả còn
được thể hiện qua trang phục, trình tự diễn xướng và nhạc cụ được sử dụng.
Tham gia lễ hội đàn ông đóng khố vải chàm dài khoảng 4m và rộng 0,30m có
đường viền hoa văn buông tua chỉ ở hai đầu, đàn bà mặc váy chàm có đường hoa
văn xung quanh váy. Trang phục tham gia lễ hội phải là những bộ mới nhất, hoa
văn rực rỡ nhất mà đồng bào đã chuẩn bị.
Khi lời khấn của chủ nhà chấm dứt thì chiêng, trống, đàn, arap gồm từ 9 đến
13 chiếc được gióng lên với âm hưởng vừa thiêng liêng vừa hoành tráng. Điệu
cồng chiêng và điệu múa của lễ hội bỏ mả là điệu "Tung Tai"-điệu của các Atâu
(hồn ma). Đoàn cồng chiêng và đoàn múa chuyển động xung quanh nhà mồ trong
nhịp điệu vừa lưu luyến vừa núi tiếc, bền chặt như sự chuyển động của núi rừng
sông suối Đi đầu đoàn là những người đeo mặt nạ nhảy múa. Sau đó là đội hình
múa của phụ nữ gồm từ 2 đến 6 người quay mặt lại phía đoàn cồng chiêng. Tiếp
sau nhóm múa là chiếc kiệu khiêng nhà thần đan băng tre, nứa. Dẫn đầu đoàn cồng
chiêng là nhóm khiêng và đánh trống, thường 4 hoặc 6 người khiêng một cái trống
lớn vừa nhún nhảy theo nhịp cồng chiêng. Một người đi bên cầm dùi đánh trống
thoe nhịp điệu. Sau trống là đoàn cồng chiêng gồm 9 đến 10 người. Các nhạc cụ
vừa nhún nhảy vừa chậm rãi tấu bài chiêng Atâu. Đoàn múa và đoàn cồng chiêng
chuyển động từ từ theo một vong khép kín ngược chiều kim đồng hồ quanh nhà
mả.
Qua lễ hội Bỏ mả đồng bào đã biểu lộ lòng thương tiếc, tình cảm, trách nhiệm
của mình với với người thân đã chết. Đây cũng là dịp để đồng bào qua lại thăm hỏi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status