Đề cương chi tiết môn triết học - Pdf 21

Đề cương chi tiết môn Triết học – TS. Nguyễn Thái Sơn
Người Hy Lạp cổ đại gọi triết học là philosophia, ghép từ hai từ
philos- tình yêu và sophia- sự thông thái. Như vậy, theo nghĩa đen,
triết học là tình yêu sự thông thái. Nhà triết học là nhà thông thái bởi
nó có khả năng làm sáng tỏ bản chất của sự vật, hiện tượng bằng hệ
thống khái niệm, phạm trù và quy luật.

I. CHƯƠNG TRÌNH MÔN TRIẾT HỌC
Dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành
triết học
Ban hành theo Quyết định số 33/2004/QĐ-BGD&ĐT ngày 28/9/2004
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Chươn
g
Nội dung Tiết
I Triết học và vai trò của triết học
trong đời sống xã hội
2
II Khái lược lịch sử triết học
phương Đông
10
III Khái lược lịch sử triết học
phương Tây
10
IV Khái lược lịch sử triết học Mác -
Lênin
12
V Chủ nghĩa duy vật biện chứng-
cơ sở lý luận của thế giới quan
khoa học

không thuộc chuyên ngành triết học của Bộ Giáo dục và Đào tạo
do Nxb, Lý luận Chính trị, Hà Nội, ấn hành năm 2006)

CHƯƠNG I. TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI
SỐNG XÃ HỘI
PGS.TS. Đoàn Quang Thọ,
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội.

Người trình bày: Tiến sỹ Nguyễn Thái Sơn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Điện thoại 0913541171.
Đối tượng: Học viên cao học ngành Kinh tế.
Thời lượng: 0 tiết trên lớp, 2 tiết tự học.
Thời gian: 17g30 ngày 11/12/06.
Địa điểm: Hội trường 8, Nhà B4, Trường Đại học Ngoại ngữ.

I. KHÁI NIỆM TRIẾT HỌC VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA TRIẾT
HỌC
1. Khái niệm triết học
- Khái niệm triết học.
+ Người Hy Lạp cổ đại gọi triết học là philosophia, ghép từ hai từ philos-
tình yêu và sophia- sự thông thái. Như vậy, theo nghĩa đen, triết học là tình yêu sự
thông thái. Nhà triết học là nhà thông thái bởi nó có khả năng làm sáng tỏ bản chất
của sự vật, hiện tượng bằng hệ thống khái niệm, phạm trù và quy luật.
+ Triết học xuất hiện cả ở phương Đông và phương Tây vào khoảng từ thế
kỷ VIII - VI trước Công nguyên (tr.c.n) tại một số nền văn minh cổ đại như Trung
Quốc, Ấn Độ, Ai Cập, trung Đông v.v, nhưng triết học kinh điển chỉ phát triển ở
Hy Lạp cổ đại.
- Định nghĩa triết học. Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của
con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.
2. Đối tượng nghiên cứu của triết học

v v
+ Các cấp độ thế giới quan.
Thế giới quan có nhiều cấp độ khác nhau như thế giới quan huyền thoại; thế
giới quan tôn giáo; thế giới quan triết học (thế giới quan duy vật và thế giới quan
duy tâm); thế giới quan khoa học và thế giới quan không khoa học v.v. Việc xác
định cấp độ, nội dung thế giới quan phụ thuộc vào vấn đề, liệu lợi ích giai cấp có
phù hợp khách quan đối với xu hướng của sự phát triển lịch sử, với khoa học và
với thực tiễn xã hội hay không.
+ Vai trò của thế giới quan triết học đối với nhận thức và thực tiễn.
Bản chất của thế giới quan là sự thống nhất biện chứng giữa nhận thức -
đánh giá với thực tiễn - cải tạo; đưa lại cho con người khả năng tạo ra các mục
đích xác định, đưa ra kế hoạch, lý tưởng chung của cuộc sống, làm cho thế giới
quan có sức mạnh hiện thực.
- Vai trò phương pháp luận của triết học.
+ Định nghĩa. Phương pháp luận là hệ thống các quan điểm, nguyên tắc
xuất phát chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp cũng như xác định
phạm vi, khả năng áp dụng phương pháp hợp lý, có hiệu quả tối đa.
+ Các cấp độ phương pháp luận.
Phương pháp luận có nhiều cấp độ khác nhau như phương pháp luận ngành
là phương pháp luận của các ngành khoa học cụ thể; phương pháp luận chung là
các quan điểm, nguyên tắc chung hơn cấp độ ngành, dùng để xác định phương
pháp hay phương pháp luận của nhóm ngành có đối tượng nghiên cứu chung nào
đó; phương pháp luận chung nhất (phương pháp luận triết học) khái quát các quan
điểm, nguyên tắc chung nhất làm cơ sở cho việc xác định các phương pháp luận
ngành, chung và các phương pháp hoạt động cụ thể của nhận thức và thực tiễn.
+ Vai trò của phương pháp luận triết học đối với nhận thức và thực tiễn thể
hiện ở chỗ nó chỉ đạo sự tìm kiếm, xây dựng; lựa chọn và vận dụng các phương
pháp để thực hiện hoạt động nhận thức và thực tiễn; đóng vai trò định hướng trong
quá trình tìm tòi, lựa chọn và vận dụng phương pháp.


tạp, địa hình có nhiều núi (Hymalaya ở phía Bắc quanh năm tuyết phủ), nhiều sông
(sông Hằng chảy về phía Đông, sông Ấn chảy về phía Tây) với những đồng bằng
trù phú; có vùng khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, có vùng sa mạc khô cằn, nóng nực.
Tính khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên và khí hậu là những thế lực đè nặng lên
cuộc sống và ghi dấu ấn đậm nét lên tâm trí người Ấn Độ cổ, trung đại.
- Điều kiện kinh tế - xã hội và văn hoá. Xã hội Ấn Độ cổ đại là xã hội mang
tính chất công xã nông nghiệp với sự phân chia đẳng cấp hết sức nghiệt ngã. Nền
văn hoá Ấn Độ cổ, trung đại thường được chia thành ba giai đoạn chính.
b. Quá trình hình thành, phát triển của triết học tôn giáo Ấn Độ cổ,
trung đại
- Giai đoạn từ thế kỷ XV - VIII tr.c.n gọi là nền văn minh sông Ấn hay còn
gọi là nền văn minh Vệđà (Véda).
+ Đây là nền văn minh đồ đồng mang tính chất đô thị của một xã hội đã vượt
qua trình độ nguyên thuỷ, đang tiến vào giai đoạn đầu của chế độ chiếm hữu nô lệ,
trong đó nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp đã đạt tới một trình
độ nhất định. Kinh tế bao gồm nông nghiệp, thương nghiệp; nghề dệt bông len, đúc
đồng, điêu khắc, gốm sứ tráng men, làm đồ nữ trang phát triển. Thành phố được
xây bằng gạch nung. Xã hội đã phân chia giàu, nghèo; xuất hiện chữ viết; thờ Thần
Shiva. Đầu thiên niên kỷ II tr.c.n, nền văn minh này lụi tàn nhưng chưa rõ nguyên
nhân.
+ Đây là thời kỳ hình thành các quốc gia chiếm hữu nô lệ đầu tiên của
người Arya ở phía Bắc và cũng là thời kỳ rực rỡ nhất của nền văn minh Ấn Độ cổ
đại. Bộ lạc Arya tràn xuống châu thổ sông Hằng. Hình thành nhiều tôn giáo có ảnh
hưởng lớn đến cuộc sống của xã hội Ấn Độ cổ đại. Xuất hiện chế độ đẳng cấp dựa
trên sự phân biệt về chủng tộc, màu da, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo, quan hệ
giao tiếp, tập tục hôn nhân v.v. Tiêu biểu về mặt tư tưởng cho sự phân chia đẳng
cấp xã hội là đạo Bàlamôn, quy định cơ cấu xã hội và có ảnh hưởng lớn đến hình
thái tư tưởng Ấn Độ cổ đại. Việc phân chia xã hội thành những đẳng cấp với
những tính chất khắt khe, nghiệt ngã đã ảnh hưởng lớn đến đời sống của nông dân,
thương nhân, thợ thủ công thành thị, ngăn cản sự phát triển của sản xuất xã hội;

- Bản thể luận thần thoại, tôn giáo.
+ Người Ấn Độ cổ đại tạo nên các vị thần có tính tự nhiên. Có những vị
tượng trưng cho sức mạnh của lực lượng tự nhiên; có những vị dùng các vị thần để
lý giải các hiện tượng xã hội, luân lý, đạo đức. Trong vũ trụ tồn tại thiên giới, trần
thế và địa ngục, giữa chúng có mối liên hệ với nhau. Các thần khác nhau là sự thể
hiện khác nhau của một Thượng Đế toàn năng duy nhất. Người Ấn Độ cổ đại cúng
thần không chỉ vì mê tín, mà còn vì lòng tin; qua biểu tượng các vị thần họ phân
tích, lý giải các hiện tượng tự nhiên, sự thay đổi của vũ trụ theo nguyên lý thích
hợp (rita) do các thần chi phối.
+ Về sau, quan niệm về các vị thần có tính chất tự nhiên được thay thế bằng
Thần sáng tạo tối cao (Brahman) và Tinh thần tối cao (Bahman). Brahman đối lập
với thần huỷ diệt Shiva. Shiva đối lập với thần bảo vệ Vishnu. Sáng tạo, huỷ diệt
và bảo tồn là ba mặt thống nhất trong quá trình biến hoá của vũ trụ. Như vậy, quá
trình hình thành, phát triển tư tưởng triết học tôn giáo đi từ sự giải thích các sự vật,
hiện tượng tự nhiên thông qua các vị thần cụ thể tới cái chung, cái bản chất là Thần
sáng tạo tối cao hay Tinh thần tối cao và đó là bước chuyển thế giới quan, từ thần
thoại tôn giáo sang triết học.
- Tư duy triết học về bản thể luận.
+ Nội dung cơ bản của kinh Upanisad (có tài liệu viết Upanishad có nghĩa là
ngồi nghiêm trang để cùng giảng giải lý thuyết cao siêu, huyền bí với thầy) là cơ sở
triết lý cho đa số các hệ thống triết học tôn giáo Ấn Độ. Theo đó, Brahman là thực
tại đầu tiên, tối cao nhất; là bản nguyên, căn nguyên, là linh hồn, là nguồn sống, là
bản chất nội tại của mọi cái. Sự vật, hiện tượng dù đa dạng, phong phú đến mấy, kể
cả con người, đều là các dạng của Brahman. Linh hồn con người (Atman) cũng là
một bộ phận của Brahman, còn cơ thể (nhục thể) con người là vỏ bọc của linh hồn,
nhưng do con người lầm tưởng linh hồn là cái khác với Linh hồn tối cao nên ham
muốn dục vọng và hành động để thoả mãn dục vọng đó, gây ra hậu quả, gieo đâu
khổ cho kiếp này và kiếp sau (gọi là nghiệp báo). Do vậy, linh hồn cứ bị giam hãm
hết trong thể xác này rồi trong thể xác kia, luân hồi mãi mà không trở về với mình
là Brahman được. Muốn linh hồn được giải thoát khỏi nghiệp báo, luân hồi; thoát

nhất giữa linh hồn con người (Atman) với vũ trụ (Brahman); Mimànsa giải thoát
bằng nghi thức tế tự và chấp hành nghĩa vụ xã hội, tôn giáo; Yôga giải thoát bằng
tu luyện về thể xác; Jaina giải thoát bằng tu luyện đạo đức (không sát sinh, không
ăn cắp, không nói dối, không dâm dục, không tham lam); Lokayàta giải thoát bằng
cách phủ nhận quan điểm linh hồn bất tử, nghiệp chướng luân hồi, chấp nhận cuộc
sống có hạnh phúc và có đau khổ; đạo Phật giải thoát bằng tu luyện trí tuệ, thiền
định và tu luyện đạo đức theo giới luật để diệt trừ tham dục, tâm hồn thanh tịnh,
hoà nhập vào niết bàn.
Như vậy, tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ cổ, trung đại thể hiện tính
nhân văn sâu sắc. Tuy mới chỉ giải thoát về mặt tư tưỏng nhưng tư tưởng giải thoát
đó đã phản ánh những yêu cầu của đời sống xã hội Ấn Độ đương thời.
3. Đặc điểm cơ bản của triết học Ấn Độ cổ, trung đại
- Triết học Ấn Độ cổ, trung đại đã lý giải căn nguyên của vũ trụ; các học
thuyết kế thừa tư tưởng của nhau, tạo nên những khái niệm, phạm trù triết học - tôn
giáo cơ bản, mang tính truyền thống, chịu sự chi phối mạnh mẽ của kinh Vệđà và
các tôn giáo lớn của Ấn Độ cổ, trung đại.
- Triết học Ấn Độ cổ, trung đại có nội dung tư tưởng và hình thức đa dạng,
phản ánh đời sống xã hội Ấn Độ đương thời; hầu hết các trường phái triết học Ấn
Độ cổ, trung đại đều tập trung lý giải bản chất đời sống tâm linh; tìm căn nguyên
nỗi khổ của cuộc đời, chỉ ra cách thức, con đường để giải thoát khỏi những nỗi khổ
đó.
- Triết học Ấn Độ cổ, trung đại được nhân dân Ấn Độ vận dụng và được
truyền bá rộng rãi tới nhiều quốc gia trên thế giới.
II. TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ, TRUNG ĐẠI
1. Điều kiện ra đời và phát triển của triết học Trung Quốc cổ, trung đại
Trung Quốc là một trong những chiếc nôi văn minh của nhân loại, là trung
tâm văn hoá và triết học rực rỡ, phong phú của phương Đông. Sự hình thành và
phát triển của các tư tưởng triết học Trung Quốc cổ, trung đại gắn liền với quá
trình biến đổi của điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá và sự phát triển của những
mầm mống khoa học tự nhiên trong xã hội Trung Quốc qua từng thời kỳ.

Trung Quốc.
+ Vào thời Tam đại (Hạ, Thương, Chu, từ thiên niên kỷ II - I tr.c.n), những
biểu tượng tôn giáo - triết học xuất hiện với những biểu tượng về Đế, Thượng Đế,
Thiên mệnh, Quỷ thần v.v.
+ Đầu thiên niên kỷ I xuất hiện thêm những biểu tượng về Âm dương - Ngũ
hành. Cuộc đấu tranh giữa các quan điểm của các trường phái diễn ra xung quanh
các biểu tượng đó và diễn ra quanh vấn đề khởi nguyên của thế giới[1]; vấn đề con
người và số phận con người; vấn đề đạo đức, tri thức v.v.
- Vào thời Đông Chu (Xuân Thu - Chiến Quốc, 770 - 221 tr.c.n), tư tưởng
triết học có hệ thống được hình thành và là những mầm mống ban đầu của các loại
thế giới quan và phương pháp luận của văn hoá Trung Quốc cổ, trung đại. Đây là
thời kỳ xuất hiện nhiều học thuyết chính trị - xã hội, triết học, có đến 6 trường phái
triết học chủ yếu là Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia, Danh gia và Âm Dương
gia (Kinh học của Khổng tử; Huyền học củaLão tử; Âm Dương gia của Trâu Diễn
và những người khác; Phật học rồi về sau là Lý học, Thực học v.v) và chúng không
ngừng đấu tranh với nhau.
2. Một số nội dung triết học Trung Quốc cổ, trung đại
a. Tư tưởng bản thể luận
Tuy không rõ ràng như các nền triết học khác trong thế giới nhưng tư tưởng
về bản thể luận trong triết học Trung Quốc cổ, trung đại cũng có những đặc điểm
của mình.
- Trong Nho gia, Trời, Đạo Trời và Mệnh Trời được Khổng Tử làm chỗ
dựa khi luận bàn đến các vấn đề thuộc chính trị, đạo đức và xã hội. Những quan
niệm đó được các nhà triết học hậu thế bổ sung khác nhau. Mạnh Tử coi mệnh Trời
sinh ra con người và thế giới, Trời quy định số phận con người; Tuân Tử cho rằng
Trời Đất hợp lại thì sinh ra vạn vật, âm dương giao tiếp với nhau thì sinh ra biến
hoá; Vương Sung, Trương Tải đều coi nguyên khí là yếu tố đầu tiên, là nguồn gốc
của thế giới.
- Trong Đạo gia, Đạo là bản nguyên của thế giới theo trình tự đạo sinh một,
một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh ra vạn vật. Trong Âm Dương gia, âm dương là

cho vạn vật được thăng bằng theo lẽ tự nhiên; luật phản phục dùng để chỉ sự quay
trở lại phương hướng cũ sau khi sự vật, hiện tượng đã phát triển đến cực điểm.
Trong Kinh Dịch, sự biến hoá của vạn vật tuân theo quy trình từ không rõ ràng ->
rõ ràng -> sâu sắc -> kịch liệt -> cao điểm -> mặt trái. Vương An Thạch cho rằng
mâu thuẫn nội, ngoại của Ngũ hành là nguyên nhân cơ bản và vô cùng của sự biến
hoá của vạn vật. Vương Đình Tương cho rằng động lực của vận động, biến hoá của
vạn vật là do khí ân dương không đồng đều nhau v.v.
d. Tư tưởng về nhận thức
Trong quá trình tìm hiểu thế giới bên ngoài đẻ phục vụ cho lợi ích của con
người, các nhà triết học Trung Quốc cổ, trung đại đã có những tư tưởng khác nhau
về nhận thức.
Khổng Tử tập trung vào thực tiễn giáo dục và phương pháp học hỏi; thuyết
chính danh của ông lấy Danh để định Thực, Danh có trước Thực. Ngược lại, Tuân
Tử cho rằng Thực khác nhau bằng Danh. Mặc Tử với thuyết Tam biểu (lập luận
phải có căn cứ, lập luận phải có chứng minh, lập luận phải có hiệu quả) lấy Thực
đặt Tên. Huệ Thi coi Thực to đến mức không có cái bên ngoài gọi là đại nhất, nhỏ
đến mức không có cái bên trong gọi là tiểu nhất. Ngược lại, Công Tôn Long bắt
đầu từ Danh, nhấn mạnh sự khác nhau giữa từ và khái niệm.
đ. Tư tưởng về con người và xây dựng con người
- Tư tưởng về con người.
+ Vấn đề nguồn gốc con người, Khổng Tử và Mặc Tử đều coi con người do
Trời sinh ra và bị quy định bởi Mệnh Trời “Nhân giã kỹ thiên địa chi đức, âm
dương chi giao, quỷ thần chi hội, ngũ hành chi trí khí giã- Con người là cái đức của
Trời Đất, sự giao hợp của âm dương, sự tụ hội của quỷ thần, cái khí tinh tú của ngũ
hành”. Lão Tử Đạo sinh ra Trời, Đất, Người, Vạn vật. Trang Tử cho rằng ở mỗi
vật đều có cái đức tự sinh, tự hoá ở bên trong.
+ Vấn đề xác định vị trí và vai trò của con người trong mối liên hệ với Trời,
Đất, Người, Vạn vật trong vũ trụ, Lão Tử cho rằng trong vũ trụ có bốn cái lớn là
Đạo lớn, Trời lớn, Đất lớn, Người cũng lớn. Khổng Tử và Mặc Tử đều coi con ng-
ười do Trời sinh ra nhưng sau đó cùng với Trời và Đất tạo nên ba ngôi tiêu biểu

hệ ấy (Vua nhân, tôi trung, cha từ, con hiếu, anh lành, em đễ, chồng có nghĩa, vợ
vâng lời, bạn hữu phải có tín). Muốn vậy, phải tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên
hạ, trong đó tu dưỡng bản thân là hàng đầu. Tu thân trước hết thể hiện trong mối
quan hệ của mình với gia đình, tiếp đó là trách nhiệm với nước, trung với Vua và
mục tiêu cuối cùng của tu thân là bình thiên hạ. Phải thường xuyên trau dồi năm
đức Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Sáu đức Hiếu, Đễ, Trung, Tín, Lễ, Nghĩa dành cho
các đệ tử của Nho gia. Ba đức Nhân, Trí, Dũng dành cho những người có trọng
trách, vị trí trong xã hội. Trong tất cả những đức đó, nổi bật và quan trọng nhất là
Nhân, Lễ. Tóm lại, theo Nho gia, con người phải xác định và làm tròn quan hệ của
mình là Ngũ Luân (Vua - tôi, cha - con, anh - em, chồng - vợ, bạn hữu), trong đó
Vua - tôi, cha - con, chồng - vợ (Tam cương) là các quan hệ chính. Trong Tam
cương lại có hai quan hệ cơ bản là Vua - tôi, biểu hiện bằng đức Trung, cha - con
biểu hiện bằng đức Hiếu. Con người phải thường xuyên trau dồi Ngũ thường
(Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín), đứng đầu Ngũ thường là Nhân, Nghĩa, trong đó Nhân
là chủ.
+ Đạo gia coi bản tính của con người có khuynh hướng trở về cuộc sống
với tự nhiên, do vậy phải trừ khử cái thái quá, nâng đỡ cái bất cập, sống thanh cao,
gần giũ tự nhiên và tránh chạy theo cuộc sống vật chất. Đạo Phật khuyên con
người sống hiền lành, không sát sinh, không làm hại người khác.
e. Tư tưởng về xã hội lý tưởng và con đường trị quốc
- Điển hình của tư tưởng này là xã hội đại đồng của Khổng Tử với đặc
trưng cơ bản là xã hội thái bình, ổn định; có trật tự, kỷ cương; mọi người được
chăm sóc bình đẳng và mọi cái đều là của chung; được đảm bảo đầy đủ về vật chất;
quan hệ tốt đẹp giữa người với người; xã hội có giáo dục, mọi người đều được giáo
hoá. Muốn vậy, phải có Vua đứng đầu, hiểu Đạo và hành Đạo là trên dưới thuận
hoà; Hiếu, Đễ làm gốc là mọi nhà nhân hậu, thiên hạ được yên.- Đường lối trị nước theo Thuyết Nhân trị và Thuyết Pháp trị.
+ Nội dung cơ bản của Thuyết Nhân trị. Thuyết Nhân trị chủ trương lấy

- Điều kiện kinh tế - xã hội và văn hoá. Việt Nam là nước nông nghiệp cơ
bản dựa vào kinh nghiệm truyền đời và trình độ lao động thủ công, hầu như không
có cuộc cách mạng nào của lực lượng sản xuất. Chỉ từ cuối thời Lý (1010 - 1225)
mới có sự phát triển nhất định của chế độ tư hữu ruộng đất. Trong suốt quá trình
dựng nước và giữ nước, lịch sử Việt Nam là lịch sử chống giặc ngoại xâm để xây
dựng, bảo vệ và củng cố nền độc lập của dân tộc. Từ thế kỷ X - XVIII, nhà nước
phong kiến Việt Nam tập trung vào hai nhiệm vụ cơ bản là tổ chức dân cư lãng, xã
chống giặc và xây dựng, bảo trì hệ thống thuỷ lợi. Vốn tri thức cơ bản của người
Việt Nam truyền thống là những kinh nghiệm liên quan tới nông nghiệp và đánh
bắt hải sản. Tri thức ngành nghề thủ công chỉ là những bí quyết ngành, nghề của
các làng nghề truyền thống và được bảo tồn chủ yếu thông qua truyền khẩu. Sự
giao lưu với các nước láng giềng chỉ mang lại một số tri thức về chính trị - xã hội
cho một bộ phận trí thức Việt Nam.
b. Những đặc điểm chủ yếu của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
- Đặc điểm của quá trình hình thành và phát triển tư tưởng triết học Việt
Nam.
Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng triết học Việt Nam trải qua hơn
hai nghìn năm từ đầu công nguyên, đặc biệt là từ thế kỷ X đến nay, là quá trình
cùng phát triển và hợp nhất giữa xu hướng tự thân với xu hướng tiếp nhận các tư
tưởng triết học từ bên ngoài. Trong quá trình hình thành và phát triển tư tưởng triết
học Việt Nam, nhiều quan điểm của Nho gia từ Trung Quốc và Đạo Phật từ Ấn Độ
đã đóng góp vai trò đặc biệt quan trọng. Từ thế kỷ XX, triết học Mác - Lênin nói
riêng và chủ nghĩa Mác - Lênin là các yếu tố chủ đạo trong tư tưởng triết học Việt
Nam.
- Đặc điểm về nội dung tư tưởng triết học Việt Nam. Toàn bộ ý thức hệ
Việt Nam trong lịch sử đều xoay quanh nhu cầu cố kết cộng đồng dân cư làng xã,
cộng đồng quốc gia dân tộc và nhu cầu học tập nước ngoài nhằm bảo vệ độc lập
dân tộc. Do vậy, chủ nghĩa yêu nước với nội dung cơ bản là tư tưởng về cố kết
cộng đồng và chủ quyền quốc gia luôn được xác định ở vị trí trung tâm của lịch sử
tư tưởng và văn hoá Việt Nam.

chịu ảnh hưởng của Đạo Phật và Đạo Lão.
b. Một số tư tưởng triết học Đạo Phật trong lịch sử tư tưởng triết học Việt
Nam
Dựa vào các tài liệu còn lại, có thể nói rằng quan niệm về thế giới và nhân
sinh quan của Ấn Độ, do Trung Quốc truyền bá, là hai bộ phận tạo nên tư tưởng
triết học Đạo Phật Việt Nam, trong đó quan niệm về thế giới là nội dung cơ bản
trong tư tưởng triết học thời Lý - Trần
- Quan niệm về thế giới. Các phạm trù triết học của phái Thiền tông là Bản
Thể Chân Như, Thực Tướng, các Pháp hoặc bản thể Như Lai, trong đó Bản Thể
Chân Như là nguyên lý thống nhất của thế giới. Thế giới các sự vật, hiện tượng
(Pháp Hữu Vi) luôn biến đổi không ngừng, nhưng tất cả chúng đều là sự thể hiện
của Bản Thể Chân Như; do vậy, muốn nhận thức được Bản Thể Chân Như cần
phải vượt qua Pháp Hữu Vi và khi đó con người sẽ đạt tới sự Giác ngộ. Muốn có
sự Giác ngộ thì phải trải qua con đường siêu việt qua Pháp Hữu Vi. Đây là tư
tưởng biện chứng về thế giới đa dạng của những khác biệt và mâu thuẫn, nhưng
theo bản chất thì chúng thống nhất với nhau.
- Nhân sinh quan. Triết học nhân sinh của Đạo Phật Việt Nam thể hiện qua
phạm trù Từ Bi trong triết học Đại Thừa. Nội dung cơ bản của Từ Bi là tinh thần
bao dung giữa con người với nhau cũng như với muôn loài vô tình hay hữu tình.
Từ giác ngộ Từ Bi sinh ra hệ quả là tinh thần cứu độ chúng sinh, một tinh thần
thực tiễn của tư tưởng nhân văn Đạo Phật. Với tư tưởng Từ Bi, triết học Đạo Phật
Việt Nam đã góp phần tạo dựng cơ sở lý luận cho tư tưởng Nhân ái Việt Nam, vốn
đã có cơ sở thực tiễn từ lịch sử cố kết cộng đồng làng xã, dân tộc.
c. Một số tư tưởng triết học Nho giáo trong lịch sử tư tưởng triết học
Việt Nam
Triết học Nho gia bao gồm hai bộ phận cơ bản cấu thành là Hình nhi
thượng học và Hình nhi hạ học. Hình nhi thượng học với khuynh hướng nghiên
cứu triết lý sâu về thế giới và có ảnh hưởng quan trọng đến các nhà tư tưởng Việt
Nam như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thời Nhậm v.v. Hình nhi hạ học với khuynh
hướng nghiên cứu triết lý sâu về chính trị và đạo đức nhằm xác lập ý thức cai trị

Lênin và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là một tất yếu lịch sử.
- Hồ Chí Minh vận dụng s��ng tạo triết học Mác - Lênin vào cách mạng
Việt Nam.
Sử dụng thế giới quan duy vật biện chững và phép biện chứng duy vật để lý
giải đúng đắn và khoa học những vấn đề mà lịch sử Việt Nam cận đại đặt ra, mà
đỉnh cao của nó là hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ
bản của cách mạng Việt Nam như giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Với tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử
tư tưởng triết học Việt Nam bước sang giai đoạn phát triển mới./.
CHƯƠNG III. KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY
PGS.TS. Trần Văn Thuỵ, Trường Đại học Y Hà Nội,
TS. Phạm Văn Sinh, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội.Người trình bày: Tiến sỹ Trần Đăng Sinh, Chủ nhiệm Bộ môn Triết
học, Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Điện thoại
0912206853.
Đối tượng: Học viên cao học ngành Kinh tế, Sư phạm v.v.
Thời lượng: 8 tiết trên lớp, 2 tiết tự học (Giảng viên nêu những vấn đề
tự học).
Thời gian: 17g30 các tối thứ 6 (15/12/06) và Chủ nhật (17/12/06).
Địa điểm: Hội trường 8, Nhà B4, Trường Đại học Ngoại ngữ.

I. TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1. Điều kiện ra đời và phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại
- Điều kiện tự nhiên. Hy Lạp cổ đại là một vùng đất rộng, bao gồm miền
Nam bán đảo Bancăng, nhiều đảo trên biển Êgie và cả miền ven biển của bán đảo
Tiểu Á. Điều kiện tự nhiên và khí hậu thuận lợi giúp các ngành nông nghiệp, thủ
công nghiệp và thương nghiệp phát triển rất sớm. Xã hội Hy Lạp cổ đại tồn tại và
phát triển trong sáu thế kỷ (từ thế kỷ VIII đến thế kỷ III tr.c.n), còn từ thế kỷ XV

2. Một số nội dung cơ bản của triết học Hy Lạp cổ đại
a. Tư tưởng về bản nguyên thế giới
- Bản nguyên đầu tiên với tư cách là cái đơn nhất xuất hiện trong trường
phái Milê; Talét cho rằng đó là nước, Anaximandrơ là Apeirôn, Anaximen là
không khí.
- Bản nguyên đầu tiên với tư cách là cái đặc thù xuất hiện trong trường phái
các nhà triết học tự nhiên thế kỷ V tr.c.n; Anaxago cho rằng đó là những phần nhỏ
bé, siêu cảm giác không nhìn thấy được của nước, đất, khí, lửa gọi là mầm sống, là
hạt giống của muôn vật. Empeđôclơ lại cho rằng đó là đất, nước, lửa và không khí
luôn vận động do nguyên nhân tình yêu và hận thù.
- Bản nguyên đầu tiên với tư cách là cái phổ biến xuất hiện trong trường
phái nguyên tử luận thế kỷ V - IV tr.c.n. Đêmôcrít cho rằng nguyên tử (tồn tại) và
chân không (không tồn tại) là những bản nguyên đầu tiên và chúng luôn đối lập
nhau, trong đó nguyên tử là yếu tố vật chất luôn vận động và sự vận động đó xẩy ra
trong chân không, tuân theo quy luật khách quan và theo các hướng tan hợp, hợp
tan tạo nên vũ trụ sinh động và biến hoá.
b. Tư tưởng biện chứng
Cùng với các quan điểm khác nhau về bản nguyên thế giới, các quan điểm
khác nhau về bản tính của thế giới cũng là tâm điểm của cuộc đấu tranh giữa chủ
nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm trong triết học Hy Lạp cổ đại.
- Tư tưởng biện chứng khẳng định của Hêraclít (520 - 460 tr.c.n) thể hiện
trong 1) quan niệm về sự vận động vĩnh viễn của vật chất và tính thống nhất của
thế giới. Theo đó, trong thế giới, không có sự vật, hiện tượng đứng im tuyệt đối; tất
cả đều trong trạng thái biến đổi và chuyển hoá thành cái khác và ngược lại, trong
đó lửa là nguyên nhân chính của sự vận động đó. Vũ trụ thống nhất ở bản nguyên
Lửa. 2) quan niệm về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trong mọi sự vật, hiện
tượng thể hiện trong những phỏng đoán của ông về vai trò của những mặt đối lập
trong sự vận động của tự nhiên, về sự trao đổi của những mặt đối lập, về sự tồn tại
và thống nhất của các mặt đối lập. 3) quan niệm về nguyên nhân của sự vận động,
theo đó nguyên nhân của sự vận động là do logos (bản chất, quy luật khách quan)

môn lôgíc học để nghiên cứu tư duy dựa trên cơ sở phân biệt dứt khoát giữa chân
lý với sai lầm. Chân lý là sự phù hợp giữa tư tưởng với thực tế, còn sai lầm phát
sinh khi trong tư tưởng nối liền cái mà trong thực tế là phân chia hoặc phân chia
cái mà trong thực tế là nối liền. Lôgíc học là lý luận về chứng minh, trong đó phân
biệt hai loại luận đoán từ cái riêng đến cái chung (quy nạp) và từ cái chung đến cái
riêng (diễn dịch). Ông cũng là người đầu tiên đưa ra ba quy luật cơ bản của lôgíc
hình thức với tư cách là các quy luật của tư duy. Phép biện chứng của Arítxtốt,
ngoài sự thể hiện trong các quan niệm về các vật thể tự nhiên và sự vân động của
chúng, còn thể hiện trong việc giải thích cái riêng và cái chung; cái chung thống
nhất với cái riêng; nhận thức cái chung trong cái đơn lẻ là thực chất của nhận thức
cảm tính.
c. Tư tưởng về nhận thức
- Tư tưởng về nhận thức của Hêraclít mang tính duy vật biện chứng sơ khai.
Nhận thức được bắt đầu từ cảm giác, không có cảm giác thì không có bất kỳ nhận
thức nào. Ông không tuyệt đối giai đoạn nhận thức này vì cho rằng thị giác thường
bị lừa dối vì tự nhiên thích giấu mình nên khó nhận thức. Nhận thức có tính tương
đối, tuỳ theo hoàn cảnh và điều kiện mà thiện - ác, xấu - tốt, lợi - hại chuyển hoá
cho nhau và nhiệm vụ của nhận thức là phải đạt tới nhận thức logos của sự vật.
- Tư tưởng về nhận thức của trường phái Êlê thể hiện trong việc đối lập tư
duy duy lý với trực quan cảm tính và ý kiến dựa vào trực quan về sự vật. Pácmênít
đề cao vai trò của nhận thức lý tính; Dênôn cũng phủ nhận vai trò nhận thức cảm
tính, đề cao nhận thức lý tính. Đêmôcrít là người có công đưa lý luận nhận thức
duy vật lên một bước mới. Ông chia nhận thức thành hai dạng 1) dạng mờ tối là
nhận thức cảm tính, do các giác quan đưa lại, theo dư luận chung (những cảm giác
như mùi vị, màu sắc, âm thanh v.v là những cảm giác phổ biến mà mọi người đều
cảm nhận được dễ dàng); nhận thức này là chân thực nhưng còn mờ tối vì chưa
nhận thức được cái bên trong, cái sâu kín của sự vật. 2) dạng chân lý thông qua
những phán đoán lôgíc nên đã nhận thức được bản chất của sự vật, vì chỉ đã ra
được nguyên tử là khởi nguyên của thế giới, chỉ ra được tính đa dạng của thế giới
là do sự sắp xếp khác nhau của các nguyên tử. Hình tượng cảm tính (còn gọi là

người khác, không quá giàu có, không thèm lợi nhuận bất lương gây hại cho người
lương thiện. Trong quan niệm về chính trị - xã hội, Đêmôcrít chống lại chủ nô quý
tộc để bảo vệ chế độ chủ nô dân chủ mà quyền lợi gắn liền với sự phát triển của
thương mại và nghề thủ công, ca ngợi tình thân ái, tính ôn hoà, ca ngợi quyền lợi
chung của công dân tự do. Nhà nước cộng hoà dân cử là nền tảng của chế độ dân
chủ chủ nô, đóng vai trò duy trì trật tự, điều hành mọi hoạt động trong xã hội,
trừng phạt những vi phạm pháp luật hay các chuẩn mực đạo đức.
- Đối lập với tư tưởng của Đêmôcrít là tư tưởng của Platôn. Ông phê phán cả
ba hình thức nhà nước là nhà nước của Vua Chúa xây dựng trên khát vọng giàu có
và danh vọng dẫn tới sự cướp đoạt; nhà nước quân phiệt của số ít kẻ giàu có áp bức
số đông, đối lập giữa giàu và nghèo đưa tới cái ác; nhà nước dân chủ, quyền lực
thuộc về số đông, sự đối lập giàu nghèo trong nhà nước này hết sức gay gắt cho
nên đó là nhà nước tồi tệ. Platôn đưa ra mẫu hình nhà nước lý tưởng, trong đó có
ba lớp người làm các công việc khác nhau. Sự tồn tại và phát triển của nhà nước lý
tưởng dựa vào sự phát triển sản xuất vật chất; phân công hài hoà các ngành nghề
và giải quyết mâu thuẫn các nhu cầu xã hội.
- Arítxtốt lại cho rằng đạo đức là khoa học đứng sau triết học và đặc biệt
quan tâm đến phẩm hạnh bởi đó là cái tốt đẹp nhất, là lợi ích tối cao mà mọi công
dân phải có. Nội dung của phẩm hạnh là biết định hướng, biết làm việc, biết tìm tòi
và phẩm hạnh con người thể hiện trong quan niệm về hạnh phúc. Hạnh phúc phải
là cái gắn kết với hoạt động nhận thức, với ước vọng làm điều thiện. Là người đầu
tiên phân tích hình thái giá trị, cho rằng cơ sở bình đẳng và công bằng trong xã hội
là sự công bằng trong trao đổi sản phẩm. Sự công bằng không có được nếu không
có sự bằng nhau, sự bằng nhau không có được nếu không thể đo chung được, tức là
ông đã tìm ra được nguồn gốc của quan hệ bình đẳng. Arítxtốt coi bản chất của nhà
nước là hình thức giao tiếp cao nhất giữa con người với nhau và nhà nước chỉ xuất
hiện khi có sự giao tiếp về lợi ích giữa nhiều gia đình và họ hàng về cuộc sống đầy
đủ và hoàn thiện. Nhà nước được xem xét trong ba phương diện là lập pháp, hành
chính và phân xử và có nhiệm vụ bảo đảm cho mọi công dân (trừ nô lệ) đầy đủ về
vật chất, bảo đảm công bằng về công lý. Mức độ phúc lợi do nhà nước đem lại cho

độ phong kiến tây Âu ra đời. Trong xã hội đó, nền kinh tế tự nhiên, tự túc tự cấp
thống trị. Điều hành sản xuất xã hội là những tiểu nông lệ thuộc vào địa chủ phong
kiến. Vì vậy, trong thời kỳ đầu của thời đại phong kiến tây Âu đã diễn ra sự suy
đồi không chỉ về kinh tế, mà còn về toàn bộ các mặt của đời sống xã hội.
- Xuất hiện tổ chức giáo hội nhà thờ Thiên Chúa giáo và ảnh hưởng của nó
tới toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của xã hội thời kỳ này. Về mặt tinh thần,
thời Trung cổ ở tây Âu lúc đầu Cơ đốc giáo, về sau là Thiên Chúa giáo là hệ tư
tưởng thống trị. Những giáo lý tôn giáo trở thành những nguyên lý về chính trị;
Kinh thánh là luật lệ trong xét xử; Giáo hội độc quyền trong lĩnh vực văn hoá, nhà
trường hoàn toàn nằm trong tay thầy tu, triết học chỉ phục vụ cho tôn giáo và Giáo
hội. Có thể nói tín điều nhà thờ là điểm xuất phát của mọi tư duy; thế giới quan tôn
giáo bao trùm lên triết học, luật học và chính trị.
b. Quá trình hình thành và phát triển của triết học tây Âu thời Trung
cổ
- Từ thế kỷ II - IV là thời kỳ quá độ giữa triết học Hy Lạp với triết học tây
Âu Trung cổ. Hệ tư tưởng xã hội là Cơ Đốc giáo với các đại biểu Téctuliêng (160 -
230), Ôguýtxtanh (354 - 430).
- Từ thế kỷ V - VIII là thời kỳ hình thành chủ nghĩa Kinh viện.
- Từ thế kỷ IX - XV là thời kỳ phát triển của chủ nghĩa Kinh viện.
+ Chủ nghĩa Kinh viện sơ kỳ từ thế kỷ IX - XII với các đại biểu Ơrigenơ
(810 - 877), Abơla (1079 - 1142).
+ Chủ nghĩa Kinh viện cực thịnh thế kỷ XIII với các đại biểu Lơgrăng
(1207 - 1280), Đacanh (1225 - 1274), Đun Xcốt (1265 - 1308).
+ Chủ nghĩa Kinh viện suy thoái thế kỷ XIV - XV với các đại biểu Bêcơn
(1214 - 1294), Ốccam (1300 - 1349).
2. Một số nội dung cơ bản của triết học tây Âu thời Trung cổ
a. Mối quan hệ giữa tri thức với niềm tin tôn giáo
Các nhà triết học thời Trung cổ coi niềm tin tôn giáo giữ vị trí hàng đầu
trong mối quan hệ với lý trí.
- Ôguýtxtanh (354 - 430, Bắc Phi, Angiêri hiện nay) là đại biểu lớn nhất của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status