Nghiên cứu triết học
Đề tài: " PHẠM TRÙ VẬT CHẤT
CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN
CHỨNG TRONG "
PHẠM TRÙ VẬT CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
TRONG
PHẠM VĂN CHUNG(*)
Phạm trù vật chất là phạm trù cơ bản, cùng cặp với phạm trù ý thức của
chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nhiệm vụ xác định nội dung của những
phạm trù này cũng như nội dung quan niệm về mối liên hệ giữa vật chất và
ý thức mang ý nghĩa đặt cơ sở cho toàn bộ hệ thống lý luận duy vật biện
chứng đã được các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác thực hiện xong về căn bản.
Tuy nhiên, trong di sản lý luận của các ông, chủ nghĩa duy vật biện chứng,
cả về hệ thống cũng như từng khái niệm, quy luật, quan điểm riêng biệt của
nó, thường không được trình bày dưới hình thức lý luận thuần tuý, mà căn
cứ vào những yêu cầu thực tiễn và nhận thức cụ thể, liên hệ chặt chẽ với
những lý luận khác, hoặc dưới hình thức phê phán. Vì thế, trong nghiên
cứu nhằm xây dựng hệ thống lý luận duy vật biện chứng đáp ứng những
yêu cầu lịch sử mới, khó tránh được những thiếu sót, hạn chế, thậm chí
những sai sót nhất định, do hiểu chưa thấu đáo tính lịch sử của mỗi luận
điểm, quan niệm triết học của các nhà kinh điển mácxít. Việc hiểu phạm
Giai cấp tư sản ở các nước đã trở nên "phản động về mọi mặt", đã từ bỏ
tính chất dân chủ của nó. Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX tràn lan thứ
triết học "kinh nghiệm phê phán" hay chủ nghĩa Makhơ với tham vọng
đóng vai trò là triết học "duy nhất khoa học" nhưng thực ra, là một thứ chủ
nghĩa duy tâm chủ quan. Một số người dân chủ - xã hội tự xưng là "học trò
của Mác" đã coi chủ nghĩa Makhơ có sứ mệnh thay thế triết học duy vật
biện chứng của C.Mác. Một số học giả có tên tuổi đã rơi vào ảnh hưởng
của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán. Ở Nga, ngoài những kẻ thù công khai
chống giai cấp vô sản và đảng của giai cấp vô sản, còn có một số trí thức
dân chủ -xã hội, gồm cả những phần tử mensêvích, đã tuyên truyền chủ
nghĩa Makhơ, dùng chủ nghĩa Makhơ để xét lại chủ nghĩa duy vật biện
chứng. Trong hoàn cảnh mà bọn giả danh mácxít, các thế lực phản động
đang tung hoành, dùng chủ nghĩa Makhơ để xét lại chủ nghĩa Mác, xét lại
không chỉ những nguyên lý triết học, mà cả những sách lược, nguyên tắc
của đảng vô sản, nhằm phủ nhận những cơ sở lý luận của đảng, tước vũ khí
tư tưởng của giai cấp vô sản, mưu toan biến chủ nghĩa xã hội thành một
dạng tôn giáo mới, thì đó là một nguy cơ vô cùng nghiêm trọng. Đồng thời,
vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, trong khoa học tự nhiên đã bắt đầu
diễn ra một cuộc cách mạng thật sự với việc phát hiện ra tia Rơnghen
(1895), hiện tượng phóng xạ (1896), điện tử (1897), rađium (1898). Vì thế,
bức tranh vật lý cũ về thế giới đã trở nên chật hẹp. Các nhà vật lý cũ với
lập trường duy vật tự phát và siêu hình không thể giải thích được những
phát hiện mới của vật lý học hiện đại. Do đó, chủ nghĩa duy vật và khoa
học tự nhiên rơi vào khủng hoảng, thậm chí cho rằng vật chất đã "biến
mất", đã "tiêu tan".
Đây là những sự kiện lịch sử chính quy định trực tiếp những quan điểm
triết học của V.I.Lênin, chủ yếu thuộc nội dung của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, trong Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán. Cần
thấy rõ sự kiện cơ bản là, chủ nghĩa duy tâm chủ quan đã lợi dụng cuộc
khủng hoảng trong xã hội và trong khoa học tự nhiên để tấn công nhằm
tồn tại, cái vật lý đều là cái có trước, còn tinh thần, ý thức, cảm giác, cái
tâm lý là cái có sau"(4); (5) "Về mặt nhận thức luận thì khái niệm vật chất
không có nghĩa gì khác hơn: thực tại khách quan tồn tại độc lập đối với ý
thức con người, và được ý thức con người phản ánh"(5); (6) "Khái niệm vật
chất không biểu hiện cái gì khác ngoài cái thực tại khách quan mà chúng ta
nhận thấy được trong cảm giác"(6); v.v Sau khi trình bày các luận điểm
(2) và (3), V.I.Lênin đã xem đây là những định nghĩa về vật chất. Như vậy,
vấn đề đặt ra hiện nay trong nhận thức lại phạm trù vật chất của V.I.Lênin
là cần phải phân tích, so sánh những luận điểm về vật chất như đã nêu để
xác định đâu là luận điểm thể hiện chính diện, rõ nhất và mang tính chất
của một định nghĩa kinh điển về vật chất. Căn cứ vào nội dung các luận
điểm đã nêu, có thể phân chia thành hai dạng hoặc hai cách định nghĩa.
Dạng định nghĩa thứ nhất bao gồm các luận điểm (1), (5) và (6). Trong
nhóm này, cần tập trung phân tích luận điểm (1). Đây là luận điểm đã được
rất nhiều tác giả xem là định nghĩa kinh điển, thậm chí duy nhất kinh điển.
Trong các khoa học cụ thể, chúng ta hầu như không thấy người ta định
nghĩa đối tượng theo kiểu như "hình thang là một phạm trù (khái niệm)
toán học dùng để chỉ ", "điện là phạm trù (khái niệm) vật lý học dùng để
chỉ ", "sự sống là phạm trù sinh vật học " hoặc "quyền là phạm trù của
luật học ",v.v Thông thường, người ta định nghĩa đối tượng về phương
diện nó là cái tồn tại hiện thực khách quan, ở bên ngoài ý thức của chủ thể.
Trong khi đó, những luận điểm (1), (5), (6) như đã thấy, lại trước hết nói về
nhận thức, cách thức nhận thức của chúng ta về vật chất. Cụ thể là trong
luận điểm (1), mệnh đề "vật chất là một phạm trù triết học" không nhằm
trực tiếp nói về vật chất với tư cách cái tồn tại hiện thực khách quan, bởi
cái tồn tại khách quan ấy không thể là "phạm trù triết học" được. Vật chất
với tư cách một phạm trù triết học là vật chất được quan niệm, được hiểu
và là một kết quả của nhận thức triết học mang tính trừu tượng hoá, khái
quát hoá cao về nó, đồng thời là vật chất với tư cách một tên gọi, một từ
ngữ. Mệnh đề “vật chất là phạm trù triết học” có nghĩa là vật chất được
trước khi V.I.Lênin nêu luận điểm:"Vật chất là phạm trù triết học ”. Vậy,
điều này có nghĩa là, ở đây từ "vật chất" chỉ gián tiếp nói về vật chất với tư
cách thực tại khách quan, nhưng lại trực tiếp nói về vật chất với tư cách cái
nhận thức, cái quan niệm của chúng ta. Do đó, có thể diễn đạt khác đi cách
nói của V.I.Lênin: "Phạm trù vật chất là một phạm trù triết học dùng để
chỉ ". Như thế, luận điểm ("định nghĩa") của V.I.Lênin chủ yếu nhằm giải
thích cái hình ảnh chủ quan của vật chất, tức cái phản ánh; còn vật chất, tức
thực tại khách quan thì ông chỉ nói đến một cách gián tiếp, nhằm giải thích
cho nội dung trên. Rõ ràng, vật chất, xét về mặt hiện thực khách quan, tồn
tại ở ngoài cảm giác và không phụ thuộc vào cảm giác, thì không thể là
“phạm trù triết học " được. Có thể thấy rõ luận điểm về vật chất nói trên
cùng các luận điểm khác cùng nhóm, chủ yếu nói về điều: vật chất với tư
cách một phạm trù triết học nghĩa là gì, tức là bàn về mặt nhận thức luận
của nó. Vì thế, chỉ nên xem luận điểm trên của V.I.Lênin cùng những luận
điểm khác như đã nêu là một trong những “định nghĩa”, cách “định nghĩa”
về vật chất và trong trường hợp này, chúng là định nghĩa gián tiếp.
Vậy tại sao V.I.Lênin lại nêu một định nghĩa có tính gián tiếp và dường
như rất chú ý đến việc giải thích "vật chất với tư cách là phạm trù triết học"
như vậy? Câu trả lời rất rõ là, quan niệm coi “sự vật là phức hợp của các
cảm giác” của chủ nghĩa Makhơ hay "chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán" nói
chung đã dựa trên kinh nghiệm nhằm phủ nhận "vật chất" với tư cách sản
phẩm của tư duy, phủ nhận "vật chất" với tư cách một khái niệm, phạm trù
của nhận thức luận (theo cách nói của V.I.Lênin), tức một phạm trù triết
học, mà chỉ có dựa vào phạm trù này mới có thể hiểu được vật chất nói
chung với tư cách thực tại khách quan, cái khác với những dạng, cấu trúc,
thuộc tính cụ thể của vật chất. Ph.Ăngghen đã chỉ ra một đặc điểm rất đặc
trưng của chủ nghĩa kinh nghiệm là: "Nhà kinh nghiệm chủ nghĩa đã đi sâu
vào thói quen của nhận thức kinh nghiệm đến nỗi là khi anh ta sử dụng
những trừu tượng mà vẫn tưởng rằng mình còn ở trong lĩnh vực của nhận
thức cảm tính"(9). Như thế, V.I.Lênin đã xuất phát từ chính những vấn đề
định nghĩa ấy đều có những căn cứ, nguồn gốc thực tiễn và nhận thức, có
nội dung xác định của nó, chứ không phải ngẫu nhiên, tuỳ tiện. Theo tôi,
cần phân chia những định nghĩa đó của V.I.Lênin ít nhất thành hai dạng
hay hai cách định nghĩa, đó là định nghĩa trực tiếp và định nghĩa gián tiếp.
Định nghĩa trực tiếp là định nghĩa chính diện đối tượng, là định nghĩa về
tồn tại hiện thực khách quan của nó. Đây là cách định nghĩa phổ biến,
thông dụng mà chúng ta có thể thấy trong các khoa học. Có lẽ, ở đây cần
phải nhấn mạnh một kinh nghiệm ngàn đời của khoa học, và không chỉ là
kinh nghiệm, mà còn là lôgíc, là lý luận và thực tiễn, rằng một định nghĩa,
khái niệm (phạm trù) khoa học trước hết phải xác định một cách trực tiếp
bản chất của chính đối tượng. Còn định nghĩa gián tiếp là định nghĩa không
chính diện, là định nghĩa mà chủ thể có thể không nhằm trực tiếp nói về đối
tượng, mà chỉ dựa vào đó để nói về cái khác, cụ thể là trong luận điểm (1),
V.I.Lênin nói về vật chất hiện thực để nhằm nói về cái nhận thức, về khái
niệm của nó. Vậy rốt cuộc, nên lấy định nghĩa nào của V.I.Lênin làm định
nghĩa "chuẩn", định nghĩa có tính kinh điển về vật chất, phải chăng đó là
định nghĩa: "Vật chất là thực tại khách quan được đem lại cho chúng ta
trong cảm giác"? Định nghĩa này tự nó đã nói lên rằng, ở đây, vật chất
được nhận thức dưới hình thức một phạm trù triết học, hơn nữa là phạm trù
triết học duy vật biện chứng, vì chỉ có chủ nghĩa duy vật biện chứng mới định
nghĩa vật chất như vậy. Có thể thấy hầu hết các tài liệu nghiên cứu quan niệm
của V.I.Lênin về vật chất cũng đã trích dẫn những luận điểm (2) và (3) nói trên,
nhưng lại xem đây là những luận điểm để minh hoạ, nhằm làm rõ hơn nội dung
luận điểm mà theo tôi là định nghĩa gián tiếp như đã nói.
3. Những đặc tính (thuộc tính) của vật chất theo quan điểm duy vật
biện chứng
Trước hết, cần phải hiểu rằng, phạm trù (khái niệm) là hình thức của tư duy
phản ánh bản chất hay thuộc tính căn bản, phổ biến của đối tượng. Vậy,
trong phạm trù vật chất, V.I.Lênin đã xác định những thuộc tính căn bản,
phổ biến nào của vật chất? Trong những tài liệu nghiên cứu về phạm trù
thức ngôn từ của luận điểm này, bởi điều đó có thể đi đến chỗ cho rằng
dường như quan điểm của V.I.Lênin thể hiện tính không chặt chẽ, không
nhất quán và chứa đựng mâu thuẫn.
Theo Trần Đức Thảo thì luận điểm của V.I.Lênin - "Vì "đặc tính" duy nhất
của vật chất - mà chủ nghĩa duy vật triết học là gắn liền với việc thừa nhận
đặc tính này - là cái đặc tính tồn tại với tư cách là thực tại khách quan, tồn
tại ở bên ngoài ý thức của chúng ta" - là nói về vật chất với tư cách "thực
tại khách quan" hay là có "tính thực tại khách quan", nghĩa là nói về tồn tại
của vật chất, chứ không phải nói về thuộc tính của nó. Theo ông, điều này
thể hiện ở chỗ V.I.Lênin đã đánh dấu " " (nháy nháy) vào từ đặc tính
("đặc tính"). Trần Đức Thảo giải thích: "Tính thực tại khách quan là một
điều quy định căn bản của vật chất, nhưng nó không có nội dung của một
thuộc tính, vì nó không quy định gì về nội dung của vật chất. Vì đối
phương (tức những người theo chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán - P.V.C)
đòi hỏi một thuộc tính chắc chắn, không thì họ cho là "vật chất biến mất",
nên V.I.Lênin đã nêu lên cái tính thực tại khách quan là "thuộc tính" không
thể chối cãi của vật chất, mà chủ nghĩa duy vật cũng chỉ cần công nhận như
thế là đủ"(11). Đây là vấn đề cần phải thảo luận. Có phải tinh thần luận
điểm của V.I.Lênin đúng là như vậy không?
Thực ra, trong luận điểm ở trang 321 của tác phẩm, từ "đặc tính" của vật
chất được đặt trong "nháy nháy" không hàm ý phủ nhận thuộc tính (đặc
tính) của vật chất, mà muốn nhấn mạnh rằng, đây là đặc tính (thuộc tính)
của vật chất do triết học - chủ nghĩa duy vật biện chứng quan niệm, hay
được hiểu trong phạm vi nhận thức luận như V.I.Lênin thường nói. Đặc
tính này không như những "đặc tính của vật chất, trước đây được coi là
tuyệt đối, bất biến, đầu tiên (tính không thể thâm nhập được, quán tính,
khối lượng, v.v.) đang tiêu tan và bây giờ đây tỏ ra là tương đối và chỉ là
đặc tính vốn có của một số trạng thái nào đó của vật chất"(12), tức là
những đặc tính do khoa học cụ thể (vật lý học) hoặc chủ nghĩa duy vật siêu
hình quan niệm; trái lại, là đặc tính chung của vật chất, được khái quát,
con người trong cảm giác chính là những đặc tính của vật chất được chủ
nghĩa duy vật biện chứng quan niệm, khái quát hoá, nhằm mục đích chỉ rõ
sự đối lập, sự khác nhau cơ bản giữa vật chất và ý thức. Ngoài giới hạn đó
ra thì khó có thể thừa nhận và hiểu đúng những thuộc tính này. Đồng thời,
phải thấy rằng, cả ở đây nữa, khi xác định những thuộc tính cơ bản, phổ
biến của vật chất, V.I.Lênin đã gắn liền với cuộc đấu tranh chống “chủ
nghĩa kinh nghiệm phê phán”, với cuộc khủng hoảng trong khoa học tự
nhiên và với việc giải thích những phát hiện mới của vật lý học. Vì vậy,
tính lịch sử trong những lập luận của ông cũng hết sức rõ ràng. Không có
tính lịch sử sao được, khi mà nhiệm vụ đặt ra trước hết là phải thể hiện rõ
ràng, dứt khoát sự đối lập về nguyên tắc giữa quan điểm duy vật (biện
chứng) với quan điểm duy tâm, do đó phải khẳng định “đặc tính” duy nhất
của vật chất là “đặc tính tồn tại với tư cách là thực tại khách quan”, và tiếp
đó, để chống lại chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán - một hình thức mới của
chủ nghĩa duy tâm chủ quan, thì không thể không giải thích rõ ràng nguồn
gốc, bản chất của những cảm giác của chúng ta. Cuối cùng, để cho các nhà
khoa học tự nhiên có thể hiểu được phạm trù triết học về vật chất thì không
thể không chứng minh nó cả về nội dung khách quan, tức là vạch ra những
đặc tính chung của vật chất, lẫn hình thức của nó với tư cách sản phẩm của
tư duy trừu tượng cao, tức tư duy duy vật biện chứng.
Như vậy, nhiệm vụ đặt ra cho chúng ta khi nghiên cứu phạm trù vật chất
của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
kinh nghiệm phê phán là phải hiểu rõ tính lịch sử của nó. Rõ ràng, ở đây,
V.I.Lênin không định viết một cuốn sách giáo khoa về Triết học Mác -
Chủ nghĩa duy vật biện chứng, mà trái lại, những quan niệm, luận điểm
được ông nêu ra, xét về nội dung, cách thức thể hiện, ngôn ngữ được sử
dụng, luôn phù hợp với yêu cầu lịch sử, với đối tượng mà ông phê phán.
Tuy vậy, việc coi trọng quan điểm lịch sử trong nghiên cứu phạm trù vật
chất của V.I.Lênin không đồng nghĩa với “chủ nghĩa lịch sử”. Dưới những
hình thức lịch sử - cụ thể, sinh động của nó, những luận điểm của V.I.Lênin