………… o0o…………
Nghiên cứu triết học
Đề tài: " SUY NGHĨ BƯỚC ĐẦU VỀ ĐẶC
TRƯNG VÀ VAI TRÒ CỦA ĐẠO ĐỨC TÔN
GIÁO "
SUY NGHĨ BƯỚC ĐẦU VỀ ĐẶC TRƯNG VÀ VAI TRÒ CỦA ĐẠO ĐỨC
TÔN GIÁO
NGUYỄN ĐỨC LỮ(*)
Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Cơ chế
kinh tế mới đã thực sự kích thích tính năng động, sáng tạo và khơi dậy tiềm
năng của con người. Những thành tựu về nhiều mặt, nhất là sự phát triển
giữa con người với xã hội(2), đồng thời hạnh phúc gắn liền với tự do. Đạo
đức xã hội xã hội chủ nghĩa là phải kiến tạo được môi trường, trong đó mọi
người sống hạnh phúc và tự do. Tự do của mỗi người không hạn chế hoặc
thủ tiêu tự do của người khác; ngược lại, tự do của mỗi người tạo điều kiện
phát triển tự do của mọi người, một xã hội thực sự mình vì mọi người và
mọi người vì mình. Lịch sử quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong
những thập niên qua ngày càng cho thấy tính phức tạp, lâu dài của việc
kiến tạo hạnh phúc ở cuộc sống trần thế.
Trên thực tế, chẳng ai có thể đạt được hạnh phúc tuyệt đỉnh như mơ ước
của tín đồ Kitô giáo và Phật giáo về xã hội ở Thiên đường hoặc cõi Niết
bàn xa xôi nào đấy.
Khi bàn về hạnh phúc, các nhà thần học Công giáo chia mức độ hạnh phúc
làm hai loại: hạnh phúc tương đối là cảm giác của con người về việc thỏa
mãn nhu cầu cụ thể ở cuộc sống trần gian; còn hạnh phúc tuyệt đối là hạnh
phúc tuyệt hảo, hoàn thiện, tột đỉnh, vĩnh hằng. Hạnh phúc tuyệt đối chỉ có ở
Thiên đường, ở nước Chúa ngàn năm. "Nước Đức Chúa Trời" được mô tả là
nơi yên lành, vô lo, chẳng có cướp bóc và nô lệ, chẳng có khổ đau, bệnh tật
và chết chóc; nghĩa là ở "nơi ấy", con người được mãn nguyện và hạnh phúc
hoàn toàn trong việc hưởng thụ trọn vẹn tình thương yêu của Chúa.
Phật giáo quan niệm khi con người được giải thoát và đạt sự giác ngộ cao
sẽ tới Niết bàn - nơi hạnh phúc siêu việt, đồng thời khuyên tín đồ lấy "một
đời sống đạo đức là một đời sống hạnh phúc"(3). Phật giáo quan niệm hạnh
phúc trước hết là đoạn tuyệt với "tham, sân, si" để an tâm, thư thái, để yên
tĩnh về tâm hồn và sau khi chết, con người được hưởng hạnh phúc tuyệt đối
ở cõi Tây phương cực lạc.
Phật giáo Đại thừa có nói về một số Tịnh thổ nổi tiếng, như Tịnh thổ Di
Lặc, Tịnh thổ Linh Sơn, Tịnh thổ Như lai, Tịnh thổ A Di Đà Phật… Thế
giới Tây phương cực lạc là Tịnh thổ A Di Đà Phật. Trong thế giới cực lạc
ấy, đâu đâu người ta cũng thấy Phật và Bồ Tát cứu khổ cứu nạn. Mọi thứ
đều quý giá và thanh cao. Mọi người ở đấy đều có trí tuệ cao siêu, dung
Nhiều học thuyết cho rằng, con người vốn mang tính thiện, cái ác thật sự
chỉ xuất hiện cùng với sự hình thành các cộng đồng người và phát triển
trong xã hội có sự phân hóa giai cấp, khi mà trong xã hội tồn tại những lợi
ích đối lập nhau. Cho đến nay, thiện và ác vẫn song hành như hai mặt ở
trong từng con người. Tuy nhiên, từ dân tộc nọ đến dân tộc kia, từ thời kỳ
này sang thời kỳ khác, những quan niệm về thiện, ác đã biến đổi rất nhiều
thậm chí đến mức trái ngược nhau.
Theo quan niệm của Khổng giáo, bản tính con người là có tính thiện: "nhân
chi sơ tính bản thiện". Thần học của Kitô giáo quan niệm, con người toàn
thiện không phải do tu tập, mà là "sánh bước cùng Thiên Chúa". Đạo Công
giáo cho Chúa là cái thiện toàn năng, tức Chúa là mẫu hình lý tưởng, là
nguồn gốc của cái thiện. Từ quan niệm về cái thiện, Kinh thánh đề cập đến
nhân đức, đó là hành vi và biểu hiện cụ thể của cái thiện. Khi cái thiện
nhường chỗ cho cái ác, là lúc con người không còn chế ngự được dục
vọng, không làm chủ được mình tất sẽ dẫn đến sống buông thả để cho cái
ác xuất hiện, tội lỗi hoành hành, nhân cách bị lu mờ. Cái ác vốn có nguồn
gốc từ quỷ dữ là kẻ thù của cái thiện, cũng là địch thủ của Thiên Chúa và
mọi tín đồ. Cái ác xuất hiện trên trần thế là sự kết hợp giữa quỷ dữ và tật
xấu của con người. Kinh thánh cho rằng, con người có các tật xấu cơ bản,
đó là: kiêu ngạo, dâm ô, hờn giận, ăn uống quá độ, ghen ghét, lười biếng…
Công giáo răn dạy tín đồ làm lành, tránh ác là noi gương Chúa. Sự ban
thưởng và trừng phạt đối với ai làm thiện hoặc mắc ác: "Ai làm việc thiện
sẽ sống lại để được sống. Còn ai làm điều ác sẽ sống lại để nhận án phạt"
có tác dụng lớn đối với việc giáo dục tính hướng thiện ở con người. Thiên
đường của Kitô giáo, Hồi giáo và Niết bàn của Phật giáo cũng như Địa
ngục có tác dụng khuyến thiện, trừ ác đối với các tín đồ.
Phật giáo rất chú ý giáo hóa chúng sinh bằng "Ngũ giới", "Thập thiện". Đó
chính là nhằm gạt bỏ điều ác, khuyến khích làm điều thiện. Phật giáo quan
niệm "thiện" không chỉ là chuẩn mực đạo đức cần có, mà còn là phương
tiện để giải thoát.
sau đó sẽ yêu thương người gần mình nhất như chính bản thân mình… Bởi
vì nếu không yêu bản thân mình thì làm sao ngươi có thể yêu thương người
gần mình một cách chân thực"(5). Ngoài con người ra, Kitô giáo còn nhắc
tín đồ phải yêu thiên nhiên. Thiên nhiên cũng là tạo vật của Chúa và vì vậy,
yêu Chúa không thể không yêu tạo vật của Chúa. Tha nhân được hiểu
không chỉ là những người đồng đạo, mà còn là con người nói chung, không
phân biệt chủng tộc, giai cấp, giới tính, năng lực, trình độ, cá tính, thiện ác,
thậm chí cả kẻ thù.
Cả kinh Cựu ước và Tân ước đều đề cập đến giới răn, yêu thương người
khác nhưng tính chất và mức độ lại không như nhau, thậm chí đôi chỗ còn
trái ngược nhau.
Lòng vị tha, bác ái trong các tôn giáo có nét nổi bật là ít vụ lợi, khước từ sự
trả ơn, đáp nghĩa. Đó cũng là đặc trưng của đạo đức tôn giáo. Vị tha là vì
người khác, nó đối lập với vị kỷ (tức là sống cho mình và vì mình). Tinh
thần vị tha là thương yêu người khác một cách chân thành, hết mình với
thái độ vô tư, vì động cơ đức ái, nên tình thương có tính tự giác cao. Phật
dạy con người phải sống vị tha, sống để đi tìm hạnh phúc cho người khác
chứ không phải chỉ lo hạnh phúc cho riêng mình. Từ vị tha mà đến thương
người và chính thương người mới là vị tha.
Phật giáo nêu cao triết lý sống "thương người như thể thương thân" qua
hành động “từ bi”. Điều này có tác dụng giáo dục con người hành thiện,
với biểu hiện "lá lành đùm lá rách" khi có thiện tai, bất hạnh trong cộng
đồng. Theo nhà Phật, "từ bi" là tình thương yêu không giới hạn, vô bờ bến.
Tình thương con người mà tôn giáo đề cập không phải chung chung, mà
khá cụ thể, thiết thực. Tôn giáo đòi hỏi các tín đồ của mình có hành động
cụ thể, như cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách mặc, chăm lo
người ốm đau, bệnh hoạn, chăm sóc người già nua, đối xử tốt với kẻ dưới,
tha thứ kẻ tội lỗi, khuyên can người lầm lạc, bảo ban kẻ dốt nát… luôn đặt
mỗi con người trong tình thương yêu đồng loại. Kitô giáo đòi hỏi mỗi tín
đồ phải có một tình thương yêu con người một cách chân thành, trong sáng
thảo kính cha mẹ để ngày đời của các ngươi được dài trên Đức Chúa"(7).
Chính Giêsu đã nêu gương về sự tôn kính với cha mình, mặc dù cha là
người thợ mộc, còn mẹ là người phụ nữ bình dân. Thảo kính cha mẹ còn thể
hiện ở sự vâng phục. Vâng phục cha mẹ là chấp nhận trật tự, đẳng cấp của thụ
tạo. Kitô giáo còn đưa ra hình thức chế tài trong việc thực hiện giới răn thứ tư:
"Ai thảo kính cha mẹ sẽ được phần thưởng là được sống lâu và hạnh phúc trên
cõi trần thế"; ngược lại, "Ai cười nhạo cha và không tuân phục mẹ theo bổn
phận, kẻ ấy sẽ bị quạ mổ xác bên suối và chim kền kền xé thịt".
Trong thập giới có điều 6 và điều 9 ngăn cấm các hành vi tội lỗi trong quan
hệ vợ chồng nhằm góp phần bảo vệ hôn nhân. Công đồng Vatican 2 đã ca
ngợi những vợ chồng: "Dựa vào suy tính khôn ngoan với một lòng quảng
đại hào hiệp đã chấp nhận nuôi dạy tốt trong một gia đình". Kitô giáo ca
ngợi hôn nhân một vợ một chồng và hôn nhân bất khả ly: "Điều gì Thiên
Chúa đã phối hợp thì loài người không được phân ly"(8).
Đạo đức tôn giáo mang trong nó tính "thiêng", có phần "hư ảo" nên có
những điểm khác với đạo đức thế tục. Nhưng chính điều đó là đặc trưng
của đạo đức tôn giáo và đã làm cho không ít người tiếp nhận giá trị đạo đức
thế tục dễ dàng và thể hiện ở những hành vi cụ thể trong thế giới hiện tồn
hơn. Đạo đức tôn giáo đã góp phần làm lành mạnh hóa quan hệ giữa con
người với con người và với tự nhiên. Tuy nhiên, nói như vậy không có
nghĩa đạo đức tôn giáo chỉ có tính tích cực mà không có tính tiêu cực và
cũng không nên quên rằng, vẫn còn hiện tượng phi đạo đức, phản văn hóa
nảy sinh từ tôn giáo.
* Phó giáo sư, tiến sĩ, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí
Minh.
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.263 -264.
(2) Xem: Giáo trình Đạo đức học. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993,
tr. 87.