Nghiên cứu triết học
Đề tài:" TRIẾT HỌC VỚI TƯ CÁCH LỊCH SỬ
TRIẾT HỌC (HỘI NGHỊ BÀN TRÒN VỀ CUỐN
SÁCH CỦA V.V.XÔCÔLỐP “NHẬP MÔN LỊCH
SỬ TRIẾT HỌC”) "
TRIẾT HỌC VỚI TƯ CÁCH LỊCH SỬ TRIẾT HỌC (HỘI NGHỊ BÀN
TRÒN VỀ CUỐN SÁCH CỦA V.V.XÔCÔLỐP “NHẬP MÔN LỊCH SỬ
TRIẾT HỌC”) 2
A.A.Giutrơcốp: Trong nguồn tài liệu dành cho các vấn đề về khoa học lịch sử
triết học, cách đây không lâu, một trong những đề tài có tính quyết định là vấn
đề về mối quan hệ giữa hai cách tiếp cận trong quá trình nghiên cứu lịch sử
triết học: cách tiếp cận theo lối mô tả - kinh nghiệm và cách tiếp cận theo hệ
vấn đề - phạm trù. Hiện nay, các cuộc hội thảo về vấn đề này đã lắng xuống.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do hiệu quả mà các cuộc hội thảo ấy
đem lại không cao, chứ hoàn toàn không phải là do đối tượng nghiên cứu
không được xác định rõ ràng. Chưa ai dám bốc đồng mà nói rằng, trong bất kỳ
cách máy móc những thuật ngữ phức tạp và đa nghĩa. Điều này trái với bản
chất của triết học”. Vì vậy, sách giáo khoa về lịch sử triết học cần phải là dạng
sách “nhập môn lịch sử triết học”, nghĩa là dạng sách giúp cho độc giả tiếp cận
được thực chất vấn đề - lý luận, nắm được nội dung và bản chất của lịch sử tư
tưởng triết học, đem lại cho họ thói quen đọc và suy nghĩ độc lập về nguồn tư
liệu cần nghiên cứu và chỉ như vậy, độc giả mới có tư duy độc lập.
Để giải quyết nhiệm vụ này, V.V.Xôcôlốp đã cố gắng giới thiệu quá trình lịch
sử triết học như một chỉnh thể. Thực hiện nhiệm vụ này, trước hết, ông đã vạch
rõ trong quá trình đó hệ những vấn đề cơ bản mà theo ông, là những vấn đề
hoặc các mô hình mẫu “các quan hệ chủ - khách thể”. Trong chính vấn đề này,
ông đã xem xét “cơ sở lý luận sâu xa của nó đến mức tối đa”, bởi đó là cái quy
định toàn bộ tiến trình phát triển của quá trình lịch sử triết học “cho đến tận
thời đại ngày nay”. Từ việc xem xét vấn đề này, ông đã cố gắng phân tích, tìm
hiểu và giải thích cho độc giả thấy rõ toàn bộ nguồn tư liệu hiện có và đã được
giới thiệu trong cuốn sách của mình.
Vấn đề này đã được V.V.Xôcôlốp giải quyết một cách cụ thể trong cuốn sách
của ông với tư cách là nghiên cứu cơ bản. Sau đây, tôi sẽ đề cập đến vấn đề
này, còn bây giờ, tôi không thể không nói đến sự dũng cảm và thậm chí là mạo
hiểm của tác giả. Đó là điều mà ông lựa chọn và nói chung, đã thể hiện cách
tiếp cận nó trong cuốn sách. Chẳng cần phải là một nhà tiên tri hay phải tiến
hành một cuộc thăm dò dư luận, chúng ta cũng có thể khẳng định một cách tự
tin rằng, cách tiếp cận như vậy đã gây ra sự nghi vấn không nhỏ, thậm chí là sự
phản đối ở nhiều nhà nghiên cứu và những người làm công tác giảng dạy môn
lịch sử triết học. Song, đó cũng là số phận của bất kỳ ý định nào muốn đưa ra
một định nghĩa chặt chẽ về đối tượng chủ yếu hoặc về vấn đề cơ bản của triết
học và hơn nữa, còn đặt nền móng cho nghiên cứu quá trình lịch sử triết học
nói chung (ở đây, tôi chưa nói đến điều là, hiện nay, việc phủ định một cách
sạch trơn sự tồn tại đối tượng của triết học cũng như cách tiếp cận đối tượng
đó đang trở thành “mốt”).
Tôi cho rằng, đóng góp thực sự của V.V.Xôcôlốp là ở vấn đề mà ông chọn làm
Một trong những nguyên nhân của việc này, theo tôi, là cách tiếp cận mà ở một
mức độ nào đó, còn mang tính mô tả đối với chính vấn đề quan hệ chủ – khách
thể. Để tránh tính phiến diện và bất cập trong việc nhận thức nó, tác giả đã đưa
ra một định nghĩa cực rộng và do vậy mà mờ nhạt, đồng thời tước mất ý nghĩa
lý luận và tính chặt chẽ của nó. Mặt khác, định nghĩa về triết học lại tỏ ra quá
trừu tượng và không xác định: triết học được giải thích như là “tổng hoà rộng
lớn các quan hệ chủ - khách thể ”, trong đó “các quan hệ nhận thức - thực tế
của con người được thừa nhận cùng với hiện thực tự nhiên và xã hội đối lập
với nó, đồng thời thể hiện nhu cầu hoạt động của cả trí óc, con tim lẫn thân xác
của con người”. Từ đó, chính khái niệm triết học đã trở thành một khái niệm
mà người ta có thể nhập nó vào những khái niệm còn trừu tượng hơn như “hệ
thống tri tín”, hoặc “thế giới quan được hệ thống hoá một cách chặt chẽ nhất,
đã được hợp lý hoá một cách tối đa nhất của thời đại mình”. Thật khó có thể
tranh luận với các định nghĩa thuộc dạng như vậy, nhưng theo tôi, chúng đã
biến cách tiếp cận vấn đề thành cái gì đó hoàn toàn mù mờ và về căn bản, đã
làm mờ hoặc làm giảm ý nghĩa phương pháp luận và gợi mở của chính khái
niệm quan hệ chủ – khách thể; hơn nữa, còn tước mất chức năng tái cấu trúc lý
luận và nhận biết quá trình lịch sử triết học của nó.
Vả lại, một lần nữa, tôi muốn nhấn mạnh rằng, điều đáng trân trọng chính là ý
định của V.V.Xôcôlốp - tiếp cận tới việc phân tích quá trình lịch sử triết học từ
sự xem xét các vấn đề căn bản hoặc chủ yếu của quá trình đó, sau nữa là đến
với chính việc suy tư lý luận dưới dạng thuần tuý triết học. Đó là chỗ mà tôi
không thể không nhận thấy sự uyên bác, chín chắn của tác giả cuốn sách và là
cái làm cho cuốn sách này có thể sử dụng như một giáo trình không chỉ cho
sinh viên, mà cho cả những học trò theo đúng nghĩa rộng của từ dùng để gọi
chung cho tất cả chúng ta, không phụ thuộc vào trình độ đào tạo, giáo dục, tuổi
tác và danh vị.
Ở đây, tôi không có điều kiện để đưa ra nhận xét về toàn bộ cuốn sách. Tuy
vậy, tôi cũng muốn có vài ý kiến về chương dành cho Cantơ. Mặc dù phần này
ngắn, song nó vẫn cho chúng ta thấy sự trình bày và đánh giá hoàn toàn rõ
tưởng ấy về phương diện biên niên sử và ít nhiều có và chú trọng đến chứng cứ
tác gia, tác phẩm. Đương nhiên, cách xử lý tư liệu như vậy được xem là hợp lý
và thậm chí là cần thiết đối với sinh viên, đối với tất cả những ai mới bắt đầu
làm quen với triết học. Điều đó, có thể nói, là bước đi đầu tiên để thâm nhập
vào triết học. Song, làm như vậy cũng không thể khá lên được, bởi việc liệt kê
các tư tưởng triết học, các phạm trù, thậm chí còn khái quát hoá ở một mức độ
nào đó về phương diện phương pháp luận (lúc nào cũng bám sát “cuộc đấu
tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật”, phép biện chứng và phép
siêu hình) cũng chẳng đi vào chiều sâu của triết học, cũng như tới “sự thăng
hoa” của những tư tưởng được hình thành trong triết học. Những công trình
thuộc loại như vậy đã không chỉ khái quát tư liệu, mà còn cải biên tư liệu đó,
như các công trình của những tác giả nổi tiếng, chẳng hạn Vinđenbanđơ và
Rátxen, các tác giả này quả thực không có ý định viết sách giáo khoa. Vì thế,
tôi muốn nhấn mạnh rằng, cần phải loại bỏ cụm từ “sách giáo khoa” ra khỏi từ
ngữ của triết học. T.I.Ôiderơman đã đúng khi khẳng định rằng, không nên gọi
cuốn sách của tôi là sách giáo khoa, càng không nên gọi là “kinh điển”. Có lẽ
cần phải thanh minh thêm rằng, tôi đã sử dụng những cơ hội để thể hiện. Đó là
nhân dịp kỷ niệm 250 năm thành lập Trường Đại học Tổng hợp Mátxcơva và
quyết định của Hội đồng khoa học về việc xuất bản các sách giáo khoa tốt nhất
từng được xuất bản trước đây và những cuốn giáo khoa mới để kỷ niệm sự
kiện đó. Thực ra, trong toán học và trong hàng loạt các bộ môn khoa học tự
nhiên khác, người ta đã tái bản và chỉnh sửa nhiều cuốn giáo khoa (theo tôi biết,
đã có hơn 150 cuốn). Số các sách giáo khoa về khoa học nhân văn cũng không ít,
nhưng ngoài cuốn của tôi, còn có bốn cuốn nữa về triết học. Dĩ nhiên, trong
trường hợp này, thật khó lý giải về con số quá ít ỏi đó. Điều đáng tiếc là, hiện nay,
không thể tránh được áp lực của cơ chế thị trường, nó làm cho khách hàng thích
mua “sách giáo khoa” hơn.
Xin trở lại cuốn sách của tôi. Theo tôi, nó đã “minh chứng” một cách đầy đủ
cho ý kiến của N.S.Kirabaép rằng, đây là một cuốn sách thuộc “thể loại mới”,
phản ánh nội dung không khớp với tên ngoài bìa của nó. “Thể loại” này là do
thể), cả trong những vấn đề gay cấn nhất, họ cũng được giới thiệu như vậy.
Cũng cần phải hình dung rằng, những nhà triết học ít nổi tiếng hơn, như Bôêxi,
Êriugen, Nicôlai Cudanxki, đã không được đưa vào nhóm những nhà triết học
có niên đại gần nhau.
Trong bối cảnh như vậy thì nhận xét của viện sĩ T.I.Ôiderơman lại trở nên khó
hiểu, khi cuốn sách này dành cho Platôn 35 trang, Arixtốt 49 trang, còn các
nhà triết học nổi tiếng trong thời Cận đại, như Đêcáctơ, Xpinôda, Hốpxơ,
Lépnít, Lốccơ và những nhà triết học khác ít nổi tiếng hơn của thời đại đó lại
chỉ được giới thiệu có 20 trang. Kỳ thực, tất cả các nhà tư tưởng ngang tầm
thời đại được đề cập tới (cả số ít nổi tiếng hơn) của thế kỷ XX và chủ yếu là ở
thế kỷ XVII đã được giới thiệu đến 90 trang. Song, những tác động căng thẳng,
có liên quan đến nhau của họ về tư tưởng nhận thức luận, bản thể luận, thần
luận, luân lý và xã hội lại chỉ cho phép trình bày về họ trong sự thống nhất
mang tính xác thực nào đó, mặc dù sự thống nhất này mang tính đa nghĩa.
Khi làm rõ những hiểu biết của mình đối với một cuốn sách giáo khoa về lịch
sử triết học, T.I.Ôiderơman đã đề xuất viết nó theo cá nhân các nhà triết học,
cốt để sinh viên nắm được các học thuyết của những nhà triết học đó, v.v
Chính tôi cũng đã xuất bản những cuốn giáo khoa như vậy và nói cho đúng
hơn, là những cuốn giáo trình, nhưng bây giờ, khi thấy mình đã có khả năng
nghiên cứu sâu hơn, nên tôi đã cố gắng trình bày theo vấn đề một cách thuần
tuý. Những cuốn giáo trình viết về cá nhân nhà tư tưởng theo lối kinh nghiệm
chủ nghĩa, “thực chứng” đối với tôi đã quá xa rồi. Bên cạnh những nhà triết
học “thuần tuý”, tôi còn đề cập đến cả những nhà tư tưởng từng có những ý
niệm tổng quát, mặc dù họ không thuộc về một hệ thống triết học chặt chẽ (đó
là Hipôcrát, Phukiđít và một loạt các nhà triết học thời Phục hưng, như Bein,
Bôscôvích, v.v.).
Một ý kiến không tán thành khác của T.I.Ôiderơman (và không chỉ của ông) có
liên quan đến sự hoài nghi, nếu đó không phải là sự bác bỏ, là định nghĩa triết
học như “một hệ thống tương đối phức tạp của tri tín” mà ông cho là “một định
nghĩa triết học hoàn toàn mang tính thần học”. Ở đây, tôi xin nhắc lại rằng, vào
niềm tin hoạt động mà về nguyên tắc, mỗi con người ít nhiều có hiểu biết, dù
là lơ mơ, đều tham gia vào đó. Về sau, Ansenmơ Kentơberixki, người tự nhận
mình là ông tổ của nền kinh viện Tây Âu, đồng thời cũng là người đưa ra
nguyên tắc “tin (credo) để hiểu biết”, đã luận giải con đường từ niềm tin mang
tính nhận thức luận đến tín ngưỡng thần luận (còn được coi là “sự chứng minh
về phương diện bản thể luận” cho sự tồn tại của Chúa hay giáo lý về Tam vị
nhất thể).
Khi phủ nhận khái niệm “tri tín”, T.I.Ôiderơman cho rằng, “tín niệm” có thể là
“khoa học”, “phi khoa học” và “phản khoa học”. Tín niệm “khoa học” và “phi
khoa học”, về thực chất, là đồng nghĩa với “tri tín”. Còn tín niệm “phản khoa
học” chỉ là tín niệm phàm tục (giá trị của nó, theo Cantơ, chỉ đáng một đồng
chinh (ducat) - đơn vị tiền tệ của Italia trước đây, tương đương với 1 chỉ vàng -
ND). Tác giả của “Phê phán lý tính thuần tuý” đã giải thích “niềm tin mang tính
luận thuyết” như một trong ba tín niệm – bên cạnh niềm tin giáo điều mà người
ta còn gọi là niềm tin phàm tục là niềm tin đạo đức mà về thực chất, là một dạng
cơ bản của niềm tin nhận thức. Có thể gọi nó là “tín niệm”. Niềm tin thần luận,
cụ thể là niềm tin tôn giáo, đã bị Cantơ đưa hẳn sang lĩnh vực lý tính thực tiễn.
Khi luận chứng cho thuật ngữ “tri tín”, chúng ta cần xem xét cả sự phản đối
của T.I.Ôiderơman. Nội dung cơ bản của thuật ngữ này đã được Cantơ trình
bày trong dẫn luận cho lần xuất bản thứ hai tác phẩm “Phê phán lý tính thuần
tuý”. Sự phản đối của T.I.Ôiderơman xoay quanh động từ “aufheben”. Trong
bản dịch sang tiếng Nga của N.Xôcôlốp (năm 1902), từ đó được dịch như sau:
“Cantơ buộc phải gạt bỏ tri thức để dành chỗ cho niềm tin”. Bản dịch tốt nhất
của V.A.Giutrơcốp sang tiếng Nga tác phẩm vĩ đại này (Mátxcơva, 1998) cũng
đã dẫn ra nghĩa của từ này theo các thứ tiếng Anh – Pháp – Italia – Latinh. Nói
chung, theo các ngôn ngữ này, “aufhaben” đều có thể dịch là “gạt bỏ” hoặc
thậm chí, “tiêu diệt” tri thức (to deny, abolish knowledge, abolir la science,
v.v.). Ở đây, có nhiều cách hiểu khác nhau về niềm tin. Tuy nhiên, theo tôi,
không có sự xuyên tạc nào trong việc truyền tải tư tưởng của Lốccơ, người đề
xuất quan điểm “hạn chế tri thức”, và ngay cả Gulưnga, khi biên soạn và cho