TIỂU LUẬN: Với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị thì quá trình sản xuất là quá trình sản xuất hàng hoá - Pdf 11



TIỂU LUẬN:

Với tư cách là sự thống nhất giữa quá
trình lao động và quá trình tạo ra giá trị
thì quá trình sản xuất là quá trình sản
xuất hàng hoá

Phần mở đầu

Trong xã hội tư bản, mối quan hệ giữa tư bản và người lao động là
mối quan hệ cơ bản, sâu sắc nhất, xuyên qua tất cả quan hệ của xã hội đó.
Giá trị thặng dư, phần giá trị do lao động của công nhân làm thuê sáng tạo ra
ngoài sức lao động và bị nhà tư bản chiếm không do bóc lột sức lao động.
Giá trị thặng dư do lao động không công của người công nhân làm thuê
sáng tạo ra là nguồn gốc làm giầu của các giai cấp các nhà tư bản, sản xuất
ra giá trị thặng dư trước hết nhà tư bản tạo ra một giá trị sử dụng nào đó vì
giá trị sử dụng là vật mang giá trị và giá trị thặng dư .Toàn bộ hoạt động của
nhà tư bản hướng đến, đó là tăng cường việc tạo ra giá trị thặng dư tuyệt đối
và giá trị thặng dư tương đối.
Vậy quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá

thức T-H-T’, do đó công thức này được gọi là công thức chung của tư bản.
Tiền ứng trước, tức là tiền đưa vào lưu thông, khi trở về tay người chủ
của nó thì thêm một lượng nhất định (T). Vậy có phải do bản chất của lưu thông đã làm cho tiền tăng thêm, và do đó mà hình thành giá trị thặng dư
hay không?
Thật vậy trong lưu thông nếu hàng hoá được trao đổi ngang giá thì chỉ
có sự thay đổi hình thái của giá trị, còn tổng số giá trị, cũng như phần giá trị
thuộc về mỗi bên trao đổi là không đổi. Về mặt giá trị sử dụng trong trao đổi
của hai bên là không có lợi gì. Như vậy, không ai có thể thu được từ lưu
thông một lượng lớn hơn lượng giá trị đã bỏ ra (Tức là chưa tìm thấy T).
C.Mác cho rằng trong xã hội tư bản không có bất kỳ một nhà tư bản
nào chỉ đóng vai trò là người bán sản phẩm mà lại không phải là người mua
các yếu tố sản xuất. Vì vậy khi anh ta bán hàng hoá cao hơn giá trị vốn có
của nó, thì khi mua các yếu tố sản xuất ở đầu vào các nhà tư bản khác cũng
bán cao hơn giá trị và như vậy cái được lợi khi bán sẽ bù cho cái thiệt hại khi
mua. (Cuối cùng vẫn không tìm thấy nguồn gốc sinh ra T)
Nếu hàng hoá được bán thấp hơn giá trị, thì số tiền mà người đó sẽ
được lợi khi là người mua cũng chính là số tiền mà người đó sẽ mất đi khi là
người bán. Như vậy việc sinh ra T không thể là kết quả của việc mua hàng
thấp hơn giá trị của nó.
Vậy trong lưu thông không thể tạo ra giá trị và giá trị thặng dư vì vậy
không thể là nguồn gốc sinh ra T
ở ngoài lưu thông Mác xem xét cả hai yếu tố là hàng hoá và tiền tệ:
Đối với hàng hoá ngoài lưu thông: Tức là đem sản phẩm tiêu dùng
hay sử dụng và sau một thời gian tiêu dùng nhất định thì thấy cả giá trị sử
dụng và giá trị của sản phẩm đều biến mất theo thời gian.
Đối với yếu tố tiền tệ: Tiền tệ ở ngoài lưu thông là tiền tệ nằm im một
chỗ. Vì vậy không có khẳ năng lớn lên để sinh ra T.

biến sức lao động thành hàng hóa được. Vì nếu người lao động được tự do về thân thể mà lại có tư liệu sản xuất thì họ sẽ sản xuất ra hàng hoá và bán
hàng hoá mình sản xuất ra chứ không phải bán sức lao động. Vì vậy muốn
biến sức lao động thành hàng hoá thì người lao động phải là người không có
tư liệu sản xuất, chỉ trong điều kiện ấy người lao đông mới bán sức lao động
của mình vì họ không có cách nào khác để kiếm sống.
Do đó sự tồn tại hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động thành
hàng hoá sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện quyết định để biến
thành tư bản. Sức lao động biến thành hàng hoá là nhân tố đánh dấu một giai
đoạn mới trong sự phát triển của sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Sự
cưỡng bức bằng các biện pháp phi kinh tế trong chế độ nô lệ và chế độ
phong kiến được thay bằng hợp đồng mua bán bình đẳng về hình thức giữa
người sở hữu tư liệu sản xuất.
3. Nhà tư bản đã sử dụng sức lao động để tạo ra giá trị thặng dư.
Trước hết ta nên tìm hiểu xem thế nào là sức lao động.
Sức lao động là toàn bộ những năng lực tồn tại trong một con người và
được người đó sử dụng vào sản xuất hàng hoá.
Mục đích của sản xuất hàng hoá TBCN là tạo ra giá trị thặng dư.
Tìm hiểu về nguồn gốc của giá trị thặng dư. Có thể thấy rằng giá trị
thặng dư không thể nào tìm thấy được ở ngay trong hoạt động mua và bán
và càng không thể tìm thấy ở ngay trong bản thân tiền tệ. Vậy phải đi tìm
nguồn gốc giá trị thặng dư ở bản thân hàng hoá. Như vậy thì nhà tư bản phải
tìm được trên thị trường món hàng hoá nào mà thuộc tính của nó là đẻ ra giá
trị thặng dư món hàng ấy đã thực sự tồn tại. Đó là sức lao động của những
người vô sản đi làm thuê khác với hàng hoá khác, hàng hoá sức lao động là
nguồn đẻ ra giá trị, giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó.
Cũng như những hàng hoá khác, hàng hoá- sức lao động cũng có hai
thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng.


tiền của sức lao động. Chế độ tiền lương hà khắc trong xã hội tư bản dựa
trên tăng cường độ lao động của người công nhân nhằm thu được nhiều
thặng dư bóc lột công nhân nhiều hơn. Chính vì vậy mặc dù nhà tư bản vẫn
trả đủ giá trị sức lao động nhưng công nhân vẫn bị bóc lột.
Từ đó Mác kết luận: Hàng hoá- sức lao động là nguồn gốc tạo ra giá
trị hơn thế nữa là tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Bởi vì, sức lao động
càng đem tiêu dùng hay sử dụng thì người công nhân hay người lao động
càng tích luỹ được kinh nghiệm nghề nghiệp, càng nâng cao năng xuất lao
động. Do đó sẽ giảm giá trị hay mức tiền lương mà nhà tư bản đã trả cho họ.
Vì vậy, dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư bản rất ưu thích loại hàng hoá đặc
biệt này.
Vậy quá trình người công nhân tiến hành lao động là quá trình sản
xuất ra hàng hoá và đồng thời là quá trình tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị
của bản thân giá trị sức lao động. Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư
mà nhà tư bản đã chiếm đoạt.
Để hiểu rõ quá trình sản xuất giá trị thặng dư. Em lấy một ví dụ về
việc sản xuất sợi của một nhà tư bản. Nó là sự thống nhất giữa quá trình sản
xuất ra giá trị sử dụng và quá trình lớn lên của giá trị hay là quá trình sản
xuất ra giá trị thặng dư.
Nhà tư bản dự kiến kéo 10kg sợi. Giá 1 kg bông là 1 đôla; hao mòn
thiết bị máy móc để kéo 5 kg bông thành 5 kg sợi là 1đôla: tiền thuê sức lao
động 1 ngày là 4 đôla: giá trị mới 1h lao động của công nhân là 1 đôla và chỉ
cần 4h người công nhân kéo được 5 kg bông thành 5 kg sợi.

16 đôla Tổng doanh thu 20 đôla Kết luận Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là sản xuất ra giá
trị sử dụng, mà là sản xuất ra giá trị thặng dư, là nhân giá trị lên. Theo đuổi
giá trị thặng dư bằng bất cứ thủ đoạn nào là mục đích, động cơ thúc đẩy sự
hoạt động của mỗi nhà tư bản, cũng như của toàn bộ xã hội tư bản. Sản xuất
giá trị thặng dư quả thực là động lực vận động của phương thức tư bản chủ
nghĩa. C. Mác viết “Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm giầu, là
nhân giá trị lên, làm tăng giá trị, do đó bảo tồn giá trị trước kia và tạo ra
giá trị thăng dư .”
Để sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa, các nhà tư bản tăng cương bóc
lột công nhân làm thuê không phải bằng cưỡng bức siêu kinh tế mà bằng
cưỡng bức kinh tế dựa trên cơ sở mở rộng sản xuất, phát triển kỹ thuật để
tăng năng suất lao động, tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động
của công nhân làm thuê để chủ tư bản hưởng phần giá trị mới dôi ra ngoài
giá trị sức lao động đó là phần giá trị thặng dư.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status