BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
ĐOÀN VIỆT THUỶ
TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ CỦA TRUNG QUỐC VỚI TƯ
CÁCH LÀ THÀNH VIÊN CỦA WTO VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO
VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Hà Nội - 2006
LỜI CẢM ƠN
Tác giả của bản luận văn xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Nguyễn Phúc
Khanh, mặc dù rất bận với công tác chuyên môn, đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ
tác giả hoàn thành luận văn.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp
và gia đình đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2006.
Tác giả
Đoàn Việt Thuỷ
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng I: NHỮNG QUI ĐỊNH CỦA WTO VỀ THƢƠNG MẠI DỊCH VỤ
VÀ TỰ DO HOÁ THƢƠNG MẠI DỊCH VỤ 4
1.1 Những vấn đề cơ bản về thƣơng mại dịch vụ 4
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm thương mại dịch vụ 4
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Khu vực dịch vụ nói chung và thương mại dịch vụ nói riêng ngày càng đóng
vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Sự phát triển các
lĩnh vực dịch vụ có nhiều hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao cũng như sự
liên kết chặt chẽ giữa dịch vụ với các ngành công nghiệp và nông nghiệp là một
nhân tố quyết định đảm bảo khả năng cạnh tranh của một nền kinh tế.
Cũng như các ngành kinh tế khác, thương mại dịch vụ không thể đứng ngoài
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Mở cửa thị trường dịch vụ tạo ra những cơ hội to
lớn trong tiếp cận thị trường thế giới, thu hút đầu tư, công nghệ và kỹ năng quản lý
mới từ bên ngoài, song cũng đồng nghĩa với sự cạnh tranh gay gắt đối với các doanh
nghiệp trong nước. Cách thức mở cửa thị trường dịch vụ cũng có những điểm khác
biệt so với mở cửa thị trường hàng hoá. Nhiều lĩnh vực dịch vụ còn thường được
xem là “nhạy cảm” về mặt chính trị, văn hoá, xã hội. Lợi thế so sánh trong các lĩnh
vực dịch vụ có nhiều hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao nghiêng hẳn về phía
các nước phát triển. Chính vì vậy, mở cửa thị trường dịch vụ luôn là điểm nóng trên
các bàn đàm phán về tự do hoá thương mại, nhất là giữa các nước phát triển và đang
phát triển. Cam kết và thực hiện cam kết mở cửa các lĩnh vực dịch vụ đòi hỏi phải
có các luận cứ khoa học và thực tiễn xác đáng.
Trung Quốc và Việt Nam là hai nền kinh tế khác biệt về qui mô, song có
nhiều điểm tương đồng, nhất là về thể chế chính trị, kinh tế và xã hội. Trung Quốc
đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) kể từ năm 2001. Việt
Nam cũng đang thực hiện những bước đi cuối cùng để có thể gia nhập tổ chức này
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu quá
trình tự do hoá thương mại dịch vụ của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là chủ nghĩa Mác-Lê nin về duy vật
biện chứng và duy vật lich sử. Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên
cứu tổng hợp như thống kê, phân tích định tính, so sánh và sử dụng số liệu minh
hoạ. Ngoài ra, luận văn cũng tham khảo ý kiến của các chuyên gia kinh tế trong và 3
ngoài nước cũng như tham khảo và tổng hợp các ý kiến rộng rãi của giới nghiên
cứu thông qua các hội thảo, hội nghị quốc tế.
5. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục các bảng biểu
và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chƣơng I: Những qui định của WTO về thƣơng mại dịch vụ và
tự do hoá thƣơng mại dịch vụ
Chƣơng II: Tự do hoá thƣơng mại dịch vụ của Trung Quốc với
tƣ cách là thành viên của WTO
Chƣơng III: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ việc nghiên
cứu tự do hóa thƣơng mại dịch vụ ở Trung Quốc
- Theo nghĩa rộng thì dịch vụ là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết
quả của chúng không tồn tại dưới dạng vật chất.
- Theo nghĩa hẹp thì dịch vụ là một công việc mà hiệu quả của nó là đáp ứng
nhu cầu của khách hàng bằng các hoạt động tiếp xúc giữa người cung cấp với
khách hàng, và các hoạt động nội bộ của người cung cấp. 5
Như vậy có thể định nghĩa một cách chung nhất là: dịch vụ là những hoạt
động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm không tồn tại dưới hình thức
vật chất mà việc cung cấp và tiêu thụ không thể tách rời nhau nhằm thoả mãn nhu
cầu của con người.
* Đặc điểm:
Để hiểu rõ khái niệm dịch vụ, có thể nghiên cứu một số đặc điểm nổi bật và
khác biệt của dịch vụ so với hàng hoá như sau:
- Tính vô hình và phi vật chất
Tính vô hình thể hiện ở chỗ dịch vụ "là những thứ mà khi đem bán không
thể rơi vào chân bạn" (Liberalizing International Transactions in Services, tr1.).
Quá trình sản xuất hàng hoá tạo ra những sản phẩm hữu hình có tính chất cơ, lý,
hoá học, nhất định, có tiêu chuẩn về kỹ thuật cụ thể và do đó có thể sản xuất theo
tiêu chuẩn hoá. Khác với hàng hoá, sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật
chất bằng những vật phẩm cụ thể, không nhìn thấy được và do đó không thể xác
định chất lượng dịch vụ trực tiếp bằng những chỉ tiêu kỹ thuật được lượng hoá.
Người tiêu dùng chỉ có thể tìm kiếm các dấu hiệu chứng tỏ chất lượng dịch vụ
cung ứng như: thương hiệu, danh tiếng người cung ứng, biểu tượng, giá cả hay qua
sự mô tả về dịch vụ đó của các khách hàng khác đã tiêu dùng dịch vụ hoặc qua
thông tin quảng cáo.
- Quá trình sản xuất (cung ứng) dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời
Trong nền kinh tế hàng hoá, sản xuất hàng hoá tách khỏi lưu thông và tiêu
dùng hàng hoá. Khác với hàng hoá, quá trình cung ứng dịch vụ gắn liền với tiêu
trình độ nhất định nên không thể vì ý thích hay vì lý do gì khác mà chuyển quyền
chiếm hữu và định đoạt nó cho người khác được. Khi cung cấp dịch vụ người này
chỉ chuyển quyền sử dụng dịch vụ đó cho người tiêu dùng dịch vụ. Do vậy, trong
việc cung cấp dịch vụ không có sự di chuyển hoàn toàn quyền sở hữu.
b. Khái niệm thƣơng mại dịch vụ
Cùng với sự phát triển của thương mại, dịch vụ đã ngày càng tỏ rõ vị trí quan
trọng của nó, làm thay đổi cơ cấu thương mại quốc tế. Lúc này dịch vụ không vòng tồn 7
tại với tính chất là một ngành bổ trợ, là dẫn xuất trong thương mại nữa mà trở thành đối
tượng của thương mại, từ đó mà hình thành khái niệm về thương mại dịch vụ.
Vấn đề quan trọng nhất không phải là bản thân định nghĩa thế nào là dịch
vụ hay hàng hoá mà lại là tính chất thương mại của chúng. Thương mại hàng hoá
là thương mại các sản phẩm hữu hình, còn thương mại dịch vụ về cơ bản là thương
mại các sản phẩm vô hình. Nếu như thương mại hàng hoá là việc trao đổi những
cái cụ thể và nhìn thấy được, thì thương mại dịch vụ về cơ bản là trao đổi những
“sản phẩm” không thể nhìn thấy, cầm nắm hay tích trữ được. Tuy nhiên, không
phải tất cả các loại dịch vụ đều có thể trao đổi hay mua bán đặc biệt là trong trao
đổi quốc tế, ví dụ như các dịch vụ công cộng, dịch vụ thuộc chức năng quản lý của
Nhà nước… Xu hướng thương mại hoá dịch vụ là một trong những vấn đề đặc biệt
quan tâm của WTO. Trong điều 1 của Hiệp định GATS, thương mại dịch vụ được
định nghĩa như là việc cung cấp một dịch vụ:
- Từ lãnh thổ của một nước thành viên sang lãnh thổ của một nước thành
viên khác (cung cấp qua biên giới)
- Trong lãnh thổ một nước thành viên cho người tiêu dùng dịch vụ của một
nước thành viên khác (tiêu dùng ở nước ngoài)
- Bởi một người cung cấp dịch vụ của một nước thành viên thông qua hiện
diện thương mại trong lãnh thổ của một nước thành viên khác (hiện diện thương mại)
- Bởi một người cung cấp dịch vụ của một nước thành viên thông qua sự
Do việc tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời với việc cung cấp trên lãnh thổ
của một quốc gia nên Nhà nước có thể can thiệp vào hoạt động thương mại dịch vụ
thông qua việc làm cản trở khả năng cung cấp của người cung cấp dịch vụ hoặc
khả năng tiêu dùng của người tiêu dùng dịch vụ. Giao dịch về dịch vụ trong
thương mại quốc tế được thực hiện thông qua 4 phương thức cung cấp dịch vụ do
đó các quy định trong nước của một quốc gia cũng ảnh hưởng khác nhau theo 4
phương thức đó:
Trong phương thức i) thì các quy định trong nước chỉ ảnh hưởng đến sự
tiêu dùng của bản thân người tiêu dùng dịch vụ của nước mình. Nhà nước có thể
ra các quy định giám sát và ngăn chặn các loại dịch vụ bất hợp pháp như dịch
vụ sử dụng dịch vụ viễn thông không qua hệ thống truyền dẫn trong nước, dịch 9
vụ cung cấp các thông tin có nội dung xấu. Nhà nước có thể thừa nhận hoặc
không thừa nhận một giao dịch là hợp pháp để ra các quy định cho phép hoặc
không cho phép thực hiện thanh toán quốc tế để từ đó hạn chế sự phát triển của
một số loại dịch vụ mà Nhà nước không khuyến khích
Trong phương thức ii) thì các quy định trong nước chỉ ảnh hưởng đến sự
tiêu dùng của bản thân người tiêu dùng dịch vụ của nước mình. Nhà nước có thể
can thiệp sự tiêu dùng của người tiêu dùng dịch vụ của nước mình bằng các quy
định hạn chế việc sử dụng ngoại tệ đối với người tiêu dùng nước mình tại nước
ngoài hay ngược lại là khuyến khích người nước ngoài phát triển tiêu dùng tại
nước mình.
Trong phương thức iii) và iv): Đây là phương thức quan trọng nhất để dịch
vụ có thể được sản xuất và tiêu dùng có hiệu quả. Do đó, các quy định trong nước
có thể ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cung cấp và khả năng tiêu dùng dịch vụ.
Trong phương thức iii), Nhà nước có thể hạn chế khả năng cung cấp của các nhà
cung cấp dịch vụ nước ngoài thông qua các quy định về hình thức hiện diện
thương mại, về địa lý, về phạm vi kinh doanh và giấy phép của các nhà cung cấp
đã đạt đến 1000 tỷ USD và đến năm 2004 đạt 2100 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng
thương mại hàng năm của các ngành dịch vụ luôn cao hơn (7,7%/năm) so với tốc
độ tăng trưởng kim ngạch hàng hoá (3-4%/năm).
* Tính đa dạng của các hình thức thương mại dich vụ
Đối tượng của thương mại hàng hoá là hàng hoá cụ thể được trao đổi. Trái
lại, thương mại dịch vụ hay thương mại các hàng hoá vô hình không được thể hiện
một cách đơn giản là sự trao đổi đơn thuần mà là việc trao đổi đó được thể hiện
dưới nhiều hình thức khác nhau. GATS đã đưa ra 4 hình thức cung cấp dịch vụ,
theo đó mô tả các khả năng cung cấp của nhà cung cấp dịch vụ. Các hình thức này
đều được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới.
* Vai trò của doanh nghiệp độc quyền trong ngành dich vụ
Trong lĩnh vực dịch vụ, nhiều ngành dịch vụ có mức tập trung tư bản cao,
sử dụng công nghệ hiện đại và quy mô lớn. Do vậy, nhiều ngành dịch vụ đã hình
thành độc quyền tự nhiên của Nhà nước hoặc chịu sự chi phối của một số doanh
nghiệp độc quyền như ngân hàng, viễn thông, hàng không, vận tải biển. Tại hầu 11
hết các quốc gia, những doanh nghiệp dịch vụ lớn nhất trong những ngành này là
do một hoặc một số doanh nghiệp chủ đạo nắm giữ. Tính chất độc quyền trong
hoạt động thương mại dịch vụ là cần thiết và khách quan. Sự phát triển của dịch vụ
nhờ đó mới có những thành tựu đáng kể trong việc đảm bảo cung ứng dịch vụ một
cách rộng rãi, với qui mô và chất lượng ngày một tăng. Một trong những yêu cầu
quan trọng của hoạt động cung ứng dịch vụ là việc đảm bảo một hệ thống cơ sở hạ
tầng tốt cho nền kinh tế, trong đó nhiều loại nhu cầu mang tính chất xã hội mà Nhà
nước bắt buộc phải thực hiện qua hệ thống độc quyền mới đảm bảo hiệu quả. Ví
dụ, việc xây dựng các bến cảng, sân bay, hệ thống viễn thông, trạm xá, bệnh viện
đều là những loại dịch vụ cần có sự phân bổ trực tiếp của Nhà nước mà thông
thường tính độc quyền mới có thể thực hiện được. Một ví dụ khác là những nhu
cầu dịch vụ đối với vùng sâu, vùng xa, khó khăn mà lợi ích kinh tế từ hoạt động
(2) Sự công nhận bằng cấp lẫn nhau đối với các ngành nghề chuyên môn,
điều này khá phức tạp ở các nước đang phát triển và cả đối với các nước phát triển.
Hầu hết các cam kết của các nước đều có quy định rất chặt chẽ về vấn đề công
nhận bằng cấp đối với việc sản xuất và cung cấp dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ
thương mại. Đây là vấn đề không dễ giải quyết. Cho đến nay, vấn đề này được xúc
tiến trong các Hiệp định khu vực, ở các tổ chức quốc tế và cả ở phạm vi toàn cầu
[48].
* Thống kê giá trị thương mại dịch vụ gặp nhiều khó khăn
Các nhà nghiên cứu đều cho rằng các số liệu về thương mại dịch vụ hiện
nay vẫn chưa phản ánh được đúng qui mô trao đổi dịch vụ trên thế giới. Các giao
dịch dịch vụ được ghi nhận trong tài khoản cán cân thanh toán của các nước theo
những nhóm rất rộng và theo những cách tính khác nhau như giá trị ròng và giá trị
gộp. Những cách tính này có xu hướng giảm giá trị dịch vụ trao đổi trong Tổng kết
cán cân thanh toán của IMF. Trong tài liệu này, dịch vụ chỉ được tách thành ba
nhóm: vận tải, đi lại và các dịch vụ khác. Cách tính này đã gộp rất nhiều dịch vụ
đa dạng vào một nhóm duy nhất, làm cho việc đánh giá các số liệu gặp rất nhiều
khó khăn. 13
1.1.2. Các hình thức cung cấp thƣơng mại dịch vụ
Phương thức ( 1 ): cung cấp qua biên giới (Cross border)
Dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một nước thành viên này vào lãnh
thổ của một nước thành viên khác. Dịch vụ di chuyển qua biên giới độc lập với nhà
cung cấp và người tiêu dùng, có nghĩa là khi giao dịch diễn ra từ lãnh thổ một
nước thành viên sang lãnh thổ một nước thành viên khác, chỉ có bản thân dịch vụ
di chuyển qua biên giới mà không có sự di chuyển của con người ví dụ như dịch
vụ tư vấn qua fax, email, điện thoại, chữa bệnh từ xa… Nhà cung cấp không thiết
lập bất cứ một hiện diện nào trên lãnh thổ nước thành viên.
Phương thức ( 2 ): tiêu dùng ở nước ngoài (Comsumption abroad)
chính, lắp đặt máy móc, hoàn thiện công trình…
- Dịch vụ phân phối bao gồm: đại lý hoa hồng, đại lý độc quyền, bán
buôn, bán lẻ…
- Dịch vụ đào tạo bao gồm: tiểu học, trung học, đại học, cao học, chuyên
sâu
- Dịch vụ môi trường bao gồm: thoát nước, xử lý chất thải, vệ sinh…
- Dịch vụ tài chính bao gồm: ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán…
- Dịch vụ liên quan đến sức khoẻ bao gồm: chữa bệnh, bệnh viện…
- Dịch vụ du lịch và lữ hành bao gồm: khách sạn và nhà hàng, đại lý và điều
hành du lịch, hướng dẫn viên du lịch…
- Dịch vụ giải trí, văn hoá, thể thao bao gồm: giải trí (nhà hát, rạp chiếu
phim, xiếc), thư viện, bảo tàng, thể thao…
- Dịch vụ vận tải bao gồm: vận tải đường biển, vận tải thuỷ nội địa, vận tải
hàng không, vận tải đường sắt, vận tải ô tô, vận tải đường ống, vận tải vũ trụ, các
dịch vụ phụ trợ liên quan
- Các dịch vụ khác 15
1.2 Tự do hoá thƣơng mại dịch vụ trong WTO
1.2.1 Hiệp định chung về thƣơng mại dịch vụ (GATS)
1.2.1.1 Sự ra đời của GATS:
Vòng đàm phán Uruguay là vòng đàm phán thương mại mang tính lịch sử, nó
không chỉ đề cập tới tự do hoá hơn nữa về thương mại hàng hoá mà còn đề cập tới
việc thiết lập khuôn khổ cho tự do hoá về thương mại dịch vụ, các biện pháp đầu
tư và sở hữu trí tuệ. Khi vòng đàm phán được khởi sự tại Punta del Este (Uruguay)
vào 9-1986, các cuộc thảo luận đều cho rằng kết quả của vòng đàm phán phải là sự
mở rộng của khuôn khổ Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT).
Khi vòng đàm phán kết thúc vào tháng 4-1994 tại Marrakesh (Ma rốc), WTO mới
ra đời với việc sửa đổi hiệp định GATT (về thương mại hàng hoá) và bổ sung hai
Các nước ngày càng phải lưu ý hơn đến tầm quan trọng của thương mại dịch vụ
quốc tế, vì đến thời điểm này những tiến bộ vượt bậc trong công nghệ đặc biệt là
công nghệ thông tin đã thúc đẩy khả năng thương mại hoá các hoạt động dịch vụ.
Các nước đi đến kết luận, việc xoá bỏ các rào cản đối với thương mại dịch vụ
quốc tế và tạo cho các nhà xuất khẩu dịch vụ khả năng dự doán được tình hình
thương mại, đầu tư quốc tế sẽ tạo ra những động lực xuất khẩu dịch vụ, đồng thời
sẽ hỗ trợ cho sự phát triển mà không gây ra lạm phát trong nước và giải quyết
vấn đề điều chỉnh cơ cấu kinh tế để bước vào kỷ nguyên của xã hội thông tin và
chuyển sang nền kinh tế có yếu tố trí tuệ ngày càng cao.
Mục tiêu lúc này rõ ràng là cần thiết phải có một thoả thuận riêng biệt về
thương mại dịch vụ chứ không nên đưa ra những sửa đổi bổ sung đơn giản trong
Hiệp định GATT. Hiệp định đó cần phải đề cập tới tất cả các biện pháp ảnh hưởng
tới thương mại dịch vụ.
Chính vì thế khi khởi xướng vòng đàm phán Uruguay năm 1986, các nước đã
nhất trí đưa thương mại dịch vụ vào đàm phán với tư cách một bộ phận trong cam
kết trọn gói và tin rằng điều đó sẽ cải thiện toàn bộ hệ thống thương mại thế giới.
Với những ý tưởng và quan niệm như vậy, các cuộc đàm phán tại vòng
Uruguay trở nên tham vọng và phức tạp. Trên thực tiễn, năm 1986 các Bộ trưởng
đã đồng ý thảo luận một loạt các vấn đề có tác động đến thương mại thế giới. Vòng
đàm phán này đã đặt ra mục tiêu giảm thuế quan và hàng rào phi thuế quan đối với 17
hàng hoá, mở rộng các quy tắc đa phương trong lĩnh vực nông nghiệp, cũng như
trong dệt may. Vòng đàm phán này cũng đề ra mục tiêu xây dựng một chế độ
thương mại tự do hơn cho thương mại dịch vụ thông qua việc hình thành một
khuôn khổ các nguyên tắc và quy định thương mại. Việc đưa thương mại dịch vụ
vào phạm vi đàm phán đã khắc phục được một khiếm khuyết nghiêm trọng của các
quy tắc thương mại đa biên. Kết quả của những nỗ lực đó là việc ra đời của GATS.
Tóm lại, GATS ra đời đã đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển thương mại
+ Điều 16: Tiếp cận thị trường
+ Điều 17: Đối xử quốc gia
+ Điều 18: Các cam kết bổ sung
+ Điều 19: Đàm phán các cam kết cụ thể
+ Điều 20: Lịch trình thực hiện các cam kết cụ thể
+ Điều 21: Sửa đổi lịch trình
+ Điều 22: Tham vấn
+ Điều23: Giải quyết tranh chấp và thi hành
+ Điều 24: Hội đồng thương mại dịch vụ
+ Điều 25: Hợp tác kỹ thuật
+ Điều 26: Quan hệ với các tổ chức quốc tế khác
+ Điều 27: Từ chối các lợi ích
+ Điều 28: Các định nghĩa
Phần III: là các phụ lục về một số loại hình dịch vụ bao gồm các phụ lục
thuộc điều 29 như sau:
+ Phụ lục về các miễn trừ đối với điều 2
+ Phụ lục về sự di chuyển của các tự nhiên nhân cung cấp dịch vụ theo hiệp định
+ Phụ lục về dịch vụ vận tải hàng không
+ Phụ lục về dịch vụ tài chính
+ Phụ lục thứ hai về dịch vụ tài chính
+ Phụ lục về các đàm phán về dịch vụ vận tải biển
+ Phụ lục về dịch vụ viễn thông
+ Phụ lục về các đàm phán về dịch vụ viễn thông cơ bản 19
GATS là một thoả thuận liên Chính phủ “thành lập nên một khuôn khổ đa
phương các nguyên tắc và quy định về thương mại dịch vụ với mục tiêu mở rộng
thương mại theo các điều kiện minh bạch hoá và tự do hoá hơn nữa”. Các nước
thành viên thông qua đàm phán để đưa ra các cam kết của mình trên cơ sở điều
cơ quan phi Chính phủ áp dụng khi thực hiện các quyền hạn mà các cơ quan Chính
phủ, trung ương, vùng hay địa phương giao cho”.
Mặc dù phạm vi của GATS rất rộng, đề cập đến tất cả các biện pháp có ảnh
hưởng đến thương mại dịch vụ, song một số vấn đề quan trọng có ảnh hưởng lớn
đến các nhà cung cấp dịch vụ vẫn nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của GATS như:
- Các quy định về nhập cảnh
- Các dịch vụ được cung cấp theo thẩm quyền của các cơ quan Chính phủ
- Các chính sách tài chính và các biện pháp thuế
- Quản lý tỷ giá ngoại hối
- Các vấn đề về tư nhân hoá
1.2.1.4 Các nguyên tắc cơ bản của GATS
GATS tuân thủ các nguyên tắc của thương mại truyền thống trong lĩnh vực
hàng hoá để điều chỉnh hoạt động thương mại dịch vụ. Mục tiêu của các nguyên
tắc này là nhằm đảm bảo sự đối xử công bằng thuận lợi cho mọi nhà đầu tư trong
nước và ngoài nước. Cụ thể là:
* Minh bạch hoá chính sách
Đây là nguyên tắc và nghĩa vụ vô điều kiện của GATS đối với các nước thành
viên. Nó cũng là nguyên tắc cốt yếu để tiến tới tự do hoá đa phương. Nguyên tắc
này giúp các thành viên và các doanh nghiệp xác định được những hạn chế và bảo
hộ từ đó đề ra các chính sách, chiến lược phù hợp. Các nghĩa vụ cơ bản của
nguyên tắc này là việc xuất bản và thông báo nhanh chóng các thay đổi pháp luật,
duy trì các điểm hỏi đáp và tiến hành rà soát pháp lý một cách công bằng.
“Tất cả các biện pháp được áp dụng một cách rộng rãi có liên quan hay ảnh
hưởng đến việc thực hiện GATS” phải được công bố nhanh chóng và “chậm nhất
là vào thời điểm các biện pháp này có hiệu lực”. Kể cả ở những lĩnh vực của một
Chính phủ thuộc “các Hiệp định quốc tế có liên quan hay có tác động đến thương
mại dịch vụ ” thì Chính phủ đó vẫn phải có nghĩa vụ thông báo. Việc công bố các