* * * * * Đề tài triết học
VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG
QUAN NIỆM PHÁP TRỊ CỦA
HÀN PHI VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG QUAN NIỆM PHÁP TRỊ CỦA HÀN PHI
TRIỆU QUANG MINH(*)
TRẦN THỊ LAN HƯƠNG(**)
Xuất phát từ quan niệm của Hàn Phi về bản chất con người, bài viết tập trung
phân tích phương pháp giáo hoá đạo làm người của ông. Nội dung của phương
như người đóng quan tài thì mong cho người ta chết, người làm cỗ xe thì mong
cho người ta được sang, thầy thuốc thì mong người ta bị bệnh nhiều còn trong
quan hệ vua tôi: “Làm hại đến thân mình mà có lợi cho nước, bầy tôi không
làm… Tình cảm của bề tôi là không thấy cái lợi ở chỗ thân mình bị thiệt hại”(2).
Cho nên, với Hàn Phi, các quan hệ giữa người với người đều bị quyết định bởi
cái lợi ích thiết thân; cái lợi ở đâu thì người ta theo đó mà làm, cái hại đến thân ở
đâu thì người ta theo đó mà tránh, mọi giá trị nhân, nghĩa đều chỉ là giả dối.
Thẳng thắn nhìn vào con người với tư cách một sinh vật mang bản chất hám lợi
và ích kỷ, Hàn Phi chấp nhận sự tồn tại một cách tự nhiên và phổ biến của dạng
người này như một sản phẩm tất yếu của quá trình phát triển. Theo ông, đã có
thời kỳ lịch sử con người không đặt cái lợi ích lên hàng đầu, đó là thời thượng
cổ. Lúc đó, “đàn ông không cày vì các sản phẩm của cây, cỏ đủ để ăn; đàn bà
không dệt vì da của chim muông đủ để mặc: Không phải vất vả mà việc nuôi
dưỡng có đủ, số người thì ít mà tài sản thì có thừa. Vì vậy cho nên nhân dân
không phải tranh giành. Bởi vậy không cần phải thưởng hậu, không phải dùng
hình phạt nặng mà nhân dân tự nhiên trị an”(3). Về sau, con người đông lên còn
của cải ít đi, nên mặc dù họ đã cố gắng, vất vả làm việc nhưng vẫn không đủ
sống. Lúc này, xã hội bắt đầu nảy sinh sự tranh giành của cải, cướp bóc lẫn
nhau, và xã hội vì thế mà loạn.
Hàn Phi đã giải thích mâu thuẫn xã hội bắt đầu từ lợi ích kinh tế trên cơ sở phân
tích sự biến đổi của điều kiện dân số, tình trạng dân cư, trình độ của công cụ lao
động… Có thể nói, khi khẳng định ảnh hưởng mang tính quyết định của yếu tố
kinh tế đối với mỗi cá nhân và từng xã hội, Hàn Phi đã động chạm đến gốc rễ
của vấn đề - cái gốc rễ mà nhiều người đương thời đã che đậy, không dám
thẳng thắn thừa nhận. Hơn thế, Hàn Phi còn nhận ra tác dụng hai chiều của yếu
tố kinh tế đối với con người. Một mặt, cái lợi là yếu tố căn bản thúc đẩy con
người hành động, tranh giành của cải và là nguyên nhân gây ra mâu thuẫn;
nhưng, mặt khác, nó cũng là yếu tố liên kết con người với nhau. Theo đó, hành
động vì cái lợi là lẽ bình thường, vấn đề là cần đặt cái lợi riêng trong cái lợi
chung, không vì cái lợi riêng mà đi ngược lại cái lợi chung. Đây là tư tưởng
quan trọng hơn cả, đó là hiểu được lẽ tự nhiên để đề phòng và tận dụng. Nói
cách khác, bằng cách nhìn thẳng vào các quan hệ bất biến với lối tư duy độc
đáo, Hàn Phi đã đặt mọi vật, mọi việc, mọi cá thể vào mối quan hệ tất yếu để từ
đó khẳng định đạo làm người là cái phải được chấp nhận như lẽ tất nhiên. Thực
chất, quan niệm này có tiền đề từ chính tồn tại xã hội và ý thức xã hội của
Trung Quốc cổ đại.
Sống trong thời đại tranh bá, tranh vương, mua danh, bán tước, Hàn Phi nhận ra và
thấu hiểu các mánh khoé của tất cả các hạng người trong xã hội. Nhưng, ông
không vì thế mà bi quan trước thế cục để ảo tưởng mơ về một thời đại huy hoàng
như thời đại trước. Đối với Hàn Phi, các đời Nghiêu, Thuấn, Thang, Vũ đều làm
trái cái nghĩa thông thường, làm cho việc giáo hoá đời sau bị rối loạn. Cho rằng,
đức dày không đủ để ngăn cấm điều loạn nhưng uy thế thì có thể, ông phản đối
cách đề cao các bậc đế vương theo lối học thuật để dạy người. Theo Hàn Phi, hình
phạt là gốc của lòng thương, xét cái đạo hiếu đễ, trung thuận cho kỹ mà thi hành.
Chính vì thế, quan niệm của Hàn Phi không quá khó hiểu nhưng cũng không hẳn
là dễ áp dụng. Mặc dù vậy, chúng ta vẫn có thể nhận thấy, đằng sau những nội
dung xử thế tưởng như khá cực đoan là một Hàn Phi với cách nhìn khách quan,
thẳng thắn, biện chứng về mối quan hệ giữa người với người mà không phải nhà tư
tưởng nào cũng có được và dám nhắc đến. Tuy nhiên, dưới chế độ quân chủ, trong
xã hội chỉ có một cá thể có quyền cao nhất, đó là nhà vua. Vì thế, về nguyên tắc,
đạo là nguyên lý chung để con người tồn tại, nhưng trên thực tế, thi hành đạo chỉ
có nhà vua và chỉ có đạo của vua chúa. Nhà vua phải thông qua hệ thống pháp
luật, dựa vào thế và thuật của mình để vận hành bộ máy quan lại và cai trị nhân
dân. Nói cách khác, nội dung phương pháp giáo hoá đạo làm người cho mọi
thành viên trong xã hội theo tư tưởng của Hàn Phi tập trung vào ba phạm trù
căn bản: pháp, thế, thuật.
Thứ nhất, bàn về “pháp”, Hàn Phi quan niệm: “Pháp luật là mệnh lệnh ban bố rõ
ràng ở nơi cửa công, hình phạt chắc chắn đối với lòng dân, thưởng cho những kẻ
cẩn thận giữ pháp luật, nhưng phạt những kẻ làm trái lệnh”(5). Theo ông, nội
dung chủ yếu của pháp luật là những quy định thưởng và phạt. Pháp luật đã đặt
quy phục đạo nghĩa. Ông viện dẫn đến như Khổng Tử là bậc thánh nhân về mặt
tu dưỡng đạo đức, lấy nhân nghĩa làm trọng, đến sau cùng cũng chỉ có bẩy
mươi người nối nghiệp; đem con số bẩy mươi đó ra mà so sánh với số người
trong thiên hạ thì thấy rằng, số người mến trọng nhân nghĩa là rất bé nhỏ. Trong
khi đó, “bậc thánh nhân trị nước không cậy ở chỗ người ta yêu mình mà dùng
cái thế khiến người ta không thể làm điều sai. Trông cậy người ta làm điều hay
cho mình thì trong một nước không đến mười người, nhưng dùng cái thế khiến
người ta không thể làm bậy thì có thể trị được cả một nước”(8).
Theo Hàn Phi, pháp luật là công cụ để trị dân, ổn định xã hội, nhưng để mọi
người tuân thủ theo pháp luật thì người cầm đầu chính thể phải có “thế”. Nếu
cái danh của nhà vua bị hạ thấp và địa vị bị nguy thì người dưới nhất định
không theo pháp lệnh. Hàn Phi cho rằng, “Uy thế là cái thống trị thiên hạ, là
chỗ dựa để sai khiến quần thần. Có quyền thế thì sẽ có được sự tôn quý, còn
nếu bị mất quyền thế thì sẽ bị mất luôn quốc gia, sẽ có nguy cơ bị giết hại. Cho
nên nhà vua nhất định phải tự mình giữ lấy quyền thế, không để lơ là lọt vào
tay kẻ khác”(9). Tư tưởng này của Hàn Phi hoàn toàn phù hợp với thời kỳ của
xã hội quân chủ, thời kỳ tôn quân quyền. Hơn thế, Hàn Phi còn nhận ra hai mặt
của một vấn đề: một mặt, nhà vua cần phải giữ lấy cái quyền thưởng phạt của
người cầm đầu chính thể thông qua “thế” của mình với tư cách là cái độc tôn;
mặt khác, nhà vua không thể tự mình làm tất cả các công việc, mà phải cắt đặt
các chức quan và trao quyền cho họ theo nguyên tắc minh chủ trị lại bất trị dân,
điều này cũng có nghĩa là để cai trị xã hội có hiệu quả thì nhà vua phải xác lập vị
thế nhất định cho quan lại. Cho nên, nếu bề tôi có thể mượn được và lợi dụng
quyền thế của vua thì họ có nhiều sức mạnh để làm lợi, nhà vua sẽ dần bị che lấp.
Chính vì vậy, nhà vua vẫn phải quản lý công việc thông qua hệ thống quan lại,
nhưng khoanh vùng lại để cái thế của quan chỉ đủ để thi hành pháp luật. Các
quan đại thần vẫn được phân cấp bậc, vẫn có bổng lộc và trách nhiệm cụ thể,
song họ chỉ có quyền hạn trong phạm vi nhất định, việc họ làm là để đề cao nhà
vua, mỗi người làm một chức quan, không thể chuyên quyền và lấn át người khác.
Tuy nhiên, làm thế nào để sử dụng và phát huy được “thế” thì Hàn Phi không chỉ
bày ra những chuyện dối trá, mượn sức nước ngoài để thực hiện điều riêng tư
của mình, quên mất cái lợi của xã tắc; bọn thân tín của nhà vua tụ tập ở các nhà
riêng, hối lộ kẻ có quyền thế để khỏi phải vất vả nơi chiến trận; bọn thương
nhân, bọn thợ chế tạo những vật vô dụng, chứa chất của cải để giành cái lợi gấp
đôi người cày.
Tất nhiên, đối với các hạng người khác nhau thì cần có cách trừng trị và nuôi
dưỡng khác nhau. Song, trong thuật cai trị, Hàn Phi nhấn mạnh nguyên tắc dùng
công việc để sử dụng người, đó là cái then chốt của sự còn hay mất, trị hay loạn.
Cụ thể hơn, ông chỉ ra bảy thuật vua chúa cần dùng, đó là: xem xét và so sánh các
đầu mối; phạt chắc chắn nêu cao uy quyền; thưởng chắc chắn để dùng hết năng
lực; nghe mọi người và bắt người dưới chịu trách nhiệm về điều đã nói; ra những
mệnh lệnh đáng ngờ và dùng mánh khoé để sai khiến; tập hợp những người hiểu
biết sự thực; đảo ngược lời nói và đảo ngược công việc. Ông còn yêu cầu phải có
sự khảo sát, điều tra và khi có kết quả lại phải tiếp tục kiểm tra kỹ lưỡng. Có thể
thấy, quan niệm này của Hàn Phi rất chặt chẽ, toàn diện và gần với những quan
điểm hiện đại về cách quản lý và sử dụng nhân lực.
Theo Hàn Phi, trong dùng “thuật”, nhà vua cần thực hiện theo cơ chế: bên trong thì
có biện pháp đề phòng, thay đổi luôn luôn, bên ngoài thì cứ chiếu theo phép tắc mà
xử. Vua biết tập hợp cái khôn của nhiều người thì không giỏi cũng thành giỏi.
Song, “người tài trí chưa chắc có đạo đức, họ thường xuyên mưu mô để hại nhà
vua. Còn người tu thân, liêm khiết thì không đa mưu, túc trí, phán quyết công việc
thường tự cho là mình đúng, làm cho sự việc rối tung lên”(12). Điều đó cũng có
nghĩa là việc sử dụng con người cái chính là căn cứ vào thế mạnh của họ,
nhưng bổ nhiệm những chức quan trọng thì nhất định phải xem xét nhiều mặt.
Cách tốt nhất là để cho bề tôi tự trình bày, theo đó giao việc, xét kết quả công
việc và lời nói ban đầu mà thưởng phạt theo quy định của pháp lệnh.
Có thể nói, nhờ có “thuật” trị nước mà nhà vua tuy ở trong cung nhưng vẫn
nắm được mọi tình hình, không làm gì mà thực chất lại đang chi phối tất cả, lấy
cái tĩnh của mình để khống chế cái động của lòng người. Cho nên, theo Hàn
Phi, cái đạo bất biến của việc cai trị là lấy cái danh (tức tên gọi) làm đầu. Danh
không thấy con người còn có rất nhiều lý tưởng cao đẹp để phấn đấu và hy
sinh. Đồng thời, ở một khía cạnh nhất định, mục tiêu xây dựng lý luận của ông
là nhằm tạo ra một công cụ phục vụ cho nhà vua củng cố địa vị và quyền lực
độc tôn của mình. Cho nên, con người trong học thuyết của ông luôn ở địa vị
thấp hèn và bị phụ thuộc. Sự bình đẳng của con người trước pháp luật là sự
bình đẳng về thân phận người nô lệ dưới ngai vàng của nhà vua.
Cuối cùng, có thể nói, để bao quát hết được nội dung và đánh giá được một
cách khách quan cũng như đến được tầng sâu của vấn đề con người trong triết
thuyết của Hàn Phi là một việc không hề đơn giản. Song, việc trở lại một vài
khía cạnh cơ bản của vấn đề này sẽ thêm một lần nữa khẳng định vị trí và giá trị
tư tưởng của Hàn Phi - một trong những nhà tư tưởng lỗi lạc của Trung Quốc
và của nhân loại.r
(*) Thạc sĩ, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I.
(**) Thạc sĩ, Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội.
(1) Nguyễn Hiến Lê - Giản Chi. Tuân Tử. Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1994, tr.50.
(2) Phan Ngọc (dịch). Hàn Phi Tử. Nxb Văn học, Hà Nội, 2005, tr.167.
(3) Phan Ngọc (dịch). Hàn Phi Tử. Sđd., tr.540.
(4) Phan Ngọc (dịch). Hàn Phi Tử. Sđd., tr17.
(5) Phan Ngọc (dịch). Hàn Phi Tử. Sđd., tr.478 - 479.
(6) Hàn Thế Chân (dịch). Hàn Phi Tử - sự phát triển của tư tưởng Pháp gia.
Nxb. Đồng Nai,1995, tr.102
(7) Hàn Thế Chân (dịch). Hàn Phi Tử - sự phát triển của tư tưởng Pháp gia.
Sđd., tr.84.
(8) Phan Ngọc (dịch). Hàn Phi Tử. Sđd., tr.568.
(9) Hàn Thế Chân (dịch). Hàn Phi Tử - sự phát triển của tư tưởng Pháp gia.
Sđd., tr.197-198.
(10) Hàn Thế Chân (dịch): Hàn Phi Tử - sự phát triển của tư tưởng Pháp gia.
Sđd., tr.81
(11) Hàn Thế Chân (dịch): Hàn Phi Tử - sự phát triển của tư tưởng Pháp gia.