Một số nhiệm vụ và biện pháp cần thực hiện trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 21

MỘT SỐ NHIỆM VỤ VÀ BIỆN PHÁP CẦN THỰC HIỆN
TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Hội nhập kinh tế quốc tế có thể mang lại nhiều lợi ích kinh tế. Việc nhập khẩu
các sản phẩm trung gian và thu hút đầu tư mà trong nước không thể cung cấp với
giá tương ứng, việc chuyển giao công nghệ và các ý tưởng từ những nước phát
triển hơn, và việc tiếp cận thị trường vốn và hàng hóa quốc tế có thể giúp chúng ta
giải quyết một số hạn chế cố hữu để tăng trưởng và phát triển nhanh hơn. Nhưng
đó là những lợi ích tiềm năng chỉ có thể phát huy đầy đủ tác dụng khi trong nước
chúng ta có nội lực vững mạnh với những chính sách và thể chế bổ trợ. Kinh
nghiệm của những nước đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao từ sau Chiến
tranh thế giới thứ hai đến nay là phải kết hợp tốt giữa việc mở cửa tự do hóa với
việc duy trì mức tiết kiệm - đầu tư cao, ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển nguồn
nhân lực và quản lý nhà nước tốt.
Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị đã đề ra chín nhiệm vụ quan trọng cần được
thực hiện trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế:
1. Tiến hành rộng rãi công tác tư tưởng, tuyên truyền, giải thích trong các tổ
chức đảng, chính quyền, đoàn thể, trong các doanh nghiệp và các tầng lớp nhân
dân để đạt được nhận thức và hành động thống nhất và nhất quán về hội nhập kinh
tế quốc tế, coi đó là nhu cầu vừa bức xúc, vừa cơ bản và lâu dài của nền kinh tế
nước ta, nâng cao niềm tin vào khả năng và quyết tâm của nhân dân ta chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Căn cứ vào Nghị quyết của Đại hội IX, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2001-2010 cũng như các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước ta
tham gia, xây dựng chiến lược tổng thể về hội nhập với một lộ trình cụ thể để các
ngành, các địa phương, các doanh nghiệp khẩn trương sắp xếp lại và nâng cao hiệu
quả và khả năng cạnh tranh, bảo đảm cho hội nhập có hiệu quả. Trong khi hình
thành chiến lược hội nhập, cần đặc biệt quan tâm đảm bảo sự phát triển của các
ngành dịch vụ như tài chính, ngân hàng, viễn thông là những lĩnh vực quan trọng
mà ta còn yếu kém.
3. Chủ động và khẩn trương trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế , đổi mới công

thần kỷ luật cao. Trong phát triển nguồn nhân lực theo những tiêu chuẩn chung nói
trên, cần chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và kinh doanh hiểu biết sâu về
luật pháp quốc tế và nghiệp vụ chuyên môn, nắm bắt nhanh những chuyển biến
trên thương trường quốc tế để ứng xử kịp thời, nắm được kỹ năng thương thuyết
và có trình độ ngoại ngữ tốt. Bên cạnh đó, cần hết sức coi trọng việc đào tạo đội
ngũ công nhân có trình độ tay nghề cao.
Cùng với việc đào tạo nguồn nhân lực, cần có chính sách thu hút, bảo vệ và sử
dụng nhân tài; bố trí, sử dụng cán bộ đúng với ngành nghề được đào tạo và với sở
trường năng lực từng người.
6. Kết hợp chặt chẽ hoạt động chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại . Cũng
như trong lĩnh vực chính trị đối ngoại, trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và hội nhập
kinh tế quốc tế cần giữ vững đường lối độc lập tự chủ, thực hiện đa phương hóa,
đa dạng hóa thị trường và đối tác, tham gia rộng rãi các tổ chức quốc tế. Các hoạt
động đối ngoại song phương và đa phương cần hướng mạnh vào việc phục vụ đắc
lực nhiệm vụ mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế. Tích cực tham gia đấu tranh vì một hệ thống quan hệ kinh tế quốc tế bình đẳng,
công bằng, cùng có lợi, bảo đảm lợi ích của các nước đang phát triển và chậm phát
triển.
Các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài cần coi việc phục vụ công cuộc
xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước là một nhiệm vụ hàng đầu.
7. Gắn kết chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế với nhiệm vụ củng cố an ninh
quốc phòng ngay từ khâu hình thành kế hoạch, xây dựng lộ trình cũng như trong
quá trình thực hiện, nhằm làm cho hội nhập không ảnh hưởng tiêu cực tới nhiệm
vụ bảo vệ an ninh quốc gia và an toàn xã hội; mặt khác, các cơ quan quốc phòng
và an ninh cần có kế hoạch chủ động hỗ trợ tạo môi trường thuận lợi cho quá trình
hội nhập.
8. Tích cực tiến hành đàm phán để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) theo các phương án và lộ trình hợp lý, phù hợp với hoàn cảnh của nước ta
là một nước đang phát triển ở trình độ thấp và đang trong quá trình chuyển đổi cơ
chế kinh tế. Gắn kết quá trình đàm phán với quá trình đổi mới mọi mặt hoạt động

dịch vụ về thông tin, chuyển giao công nghệ. Phát triển nhanh thị trường vốn, nhất
là vốn dài hạn và trung hạn; vận hành thị trường chứng khoán an toàn và hiệu quả;
hình thành đồng bộ thị trường tiền tệ; tăng khả năng chuyển đổi của đồng tiền Việt
Nam. Tổ chức, phát triển thị trường bất động sản; Nhà nước giao quyền sử dụng
đất dài hạn cho người sản xuất, kinh doanh và cho phép chuyển nhượng quyền sử
dụng đất trên thị trường theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, hình thành đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục những yếu kém hiện nay, gỡ bỏ những vướng
mắc cản trở sự phát triển. Cơ chế quản lý kinh tế cần được đổi mới sâu rộng, phát
huy những yếu tố tích cực của cơ chế thị trường, triệt để xóa bỏ bao cấp trong kinh
doanh, tăng cường vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước, đấu tranh có
hiệu quả chống các hành vi tiêu cực, lãng phí, tham nhũng, gây phiền hà. Nhà
nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh
và hợp tác để phát triển; định hướng phát triển kinh tế - xã hội; duy trì ổn định
kinh tế vĩ mô; điều tiết thu nhập; kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh
theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền
kinh tế. Cơ chế thị trường kết hợp với cơ chế kế hoạch, quy hoạch; tăng cường
công tác thông tin kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế, công tác thống kê; ứng
dụng các thành tựu khoa học - công nghệ trong công tác dự báo; kiểm tra tình hình
thực hiện ở cả cấp vĩ mô và doanh nghiệp. Chi ngân sách nhà nước cần bảo đảm
tính minh bạch, công bằng; gắn chi ngân sách với tốc độ tăng trưởng kinh tế và
hiệu quả quản lý kinh tế, tài chính. Nhà nước đầu tư vốn phát triển từ ngân sách
nhà nước căn cứ vào hiệu quả kinh tế - xã hội thông qua các công ty đầu tư;
chuyển cơ chế phân bổ nguồn vốn vay nhà nước mang tính hành chính sang có chế
cho vay theo nguyên tắc thị trường, xóa bỏ bao cấp thông qua tín dụng đầu tư. Hệ
thống thuế tiếp tục được cải cách phù hợp với tình hình đất nước và các cam kết
quốc tế; đơn giản hóa các sắc thuế; từng bước áp dụng hệ thống thuế thống nhất
không phân biệt đầu tư trong nước và nước ngoài; hiện đại hóa công tác quản lý
thuế. Cải tổ các ngân hàng thương mại quốc doanh thành những doanh nghiệp làm

cấu ngành, hàng và cơ cấu vùng), xác định được những ngành mũi nhọn, những
ngành cần ưu tiên phát triển trong một thời gian nào đó, những ngành ta nên
chuyên môn hóa để làm cơ sở xây dựng các lộ trình mở cửa và các chính sách
bảo hộ cụ thể theo phương châm có chọn lọc, hợp lý và có thời hạn. Ngược lại, sự
chuyển dịch cơ cấu xuất nhập khẩu về hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động với
nước ngoài cũng sẽ tác động tích cực tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước.
Xây dựng chương trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế phải gắn với việc thành lập cơ
chế rà soát và điều chỉnh các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung và dài hạn,
các hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2010 và năm 2020 cho phù hợp
hơn với các lợi thế so sánh tĩnh và động của ta nhằm nâng cao sức cạnh tranh của
nền kinh tế Việt Nam để cuối cùng xác định rõ các ngành, hàng, lĩnh vực nào sẽ
mở, mặt hàng, lĩnh vực nào cần được bảo hộ và lịch trình của quá trình mở cửa đối
với từng lĩnh vực, từng mặt hàng đó. Trước mắt, chính sách đầu tư và phát triển
kinh tế cần phải khai thác mọi nguồn lực hiện có (lợi thế so sánh tĩnh), đặc biệt lao
động dôi dư để đẩy mạnh xuất khâut và tạo thêm công ăn việc làm là một yêu cầu
cấp bách, có ý nghĩa quan trọng không chỉ về kinh tế mà cả về chính trị - xã hội.
Về trung và dài hạn, sự chuyển dịch cơ cấu cần thuận chiều với sự chuyển dịch
của cơ cấu kinh tế thế giới, bám sát với tín hiệu của thị trường, phù hợp với nhu
cầu không ngừng biến đổi của người tiêu dùng trong và ngoài nước. Theo đó,
chính sách chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nước phải làm cho tỷ trọng hàng thô
hoặc sơ chế không ngừng giảm tương đối, sản phẩm công nghiệp chế biến và chế
tạo tăng mạnh, dịch vụ và sản phẩm của các ngành có công nghệ cao, hàm lượng
chất xám nhiều chiếm vị trí ngày một tăng. Hơn nữa, biện pháp để thực hiện sự
chuyển dịch này là phải không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất, chất lượng thiết
bị vật tư nội địa chứ không thể trông chờ vào sự bảo hộ quá mức.
3. Đẩy mạnh cải cách các doanh nghiệp nhà nước theo hướng nâng cao tính
chủ động, hiệu quả và khả năng cạnh tranh
Việc đẩy mạnh cải cách các doanh nghiệp nhà nước có một ý nghĩa rất quan
trọng đối với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và việc nâng cao khả
năng cạnh tranh hội nhập của bản thân các doanh nghiệp nhà nước. Điều này thể

phần cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Thực hiện việc bán, khoán, cho thuê
các DNNN loại nhỏ mà Nhà nước không cần nắm giữ. Sáp nhập, giải thể, phá sản
các DNNN hoạt động không có hiệu quả.
Thứ ba , xúc tiến thành lập cơ quan mua bán nợ để giải phóng nợ đọng cho
doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp lành mạnh hóa tài chính và bảo đảm
sản xuất kinh doanh bình thường; nghiêm cấm các doanh nghiệp đi vay các khoản
vay ngắn hạn để đầu tư cho các dự án trung, dài hạn; nghiên cứu lại thời hạn cho
vay trung, dài hạn phù hợp với thời gian thu hồi vốn của dự án.
Thứ tư, xây dựng hệ thống chính sách để hoàn thiện, nâng cao hiệu quả và khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp có 100% vốn Nhà nước; từng bước tạo khung
pháp lý bình đẳng giữa DNNN với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
khác, tiến tới xây dựng một luật chung cho các loại hình doanh nghiệp. Chuyển
các doanh nghiệp kinh doanh sang hoạt động theo cơ chế công ty trách nhiệm hữu
hạn hoặc công ty cổ phần; phân biệt quyền của chủ sở hữu và quyền kinh doanh
của doanh nghiệp; bảo đảm cho các doanh nghiệp có quyền tự chủ và tự chịu trách
nhiệm đầy đủ trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như khi quyết định đầu
tư, quyết định phương án kinh doanh, tự chủ về tài chính, tự quyết về nhân sự và
tự chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Thứ năm, về đầu tư cho DNNN, thẩm định, kiểm tra thật chặt chẽ, nghiêm ngặt
việc thành lập mới các DNNN; thực hiện đầu tư cho DNNN thông qua công ty đầu
tư tài chính của Nhà nước và thông qua thị trường vốn; giảm dần sự ưu đãi, bao
cấp và bảo hộ đối với các DNNN, đồng thời tạo điều kiện khuyến khích và bảo
đảm cho khu vực tư nhân phát triển trong sự cạnh tranh lành mạnh và được đối xử
bình đẳng như các doanh nghiệp quốc doanh;
Thứ sáu , bồi dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển doanh nghiệp
nhà nước; hoàn thiện hệ thống đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ quản lý
doanh nghiệp, đặc biệt là giám đốc; thực hiện chế độ tuyển chọn, bổ nhiệm, gắn
quyền lợi, nghĩa vụ của giám đốc với kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
4. Giải quyết vấn đề mất việc làm và thay đổi ngành nghề của người lao động

của chế độ này sang qũy của chế độ khác, hoặc bị thất thoát. Vì mỗi cá nhân đều
có tài khoản nên ngân hàng và bưu điện chịu trách nhiệm chi trả các khoản bảo
hiểm xã hội, không cần đến một hệ thống chi trả đông người. Người lao động biết
được mình có bao nhiêu tiền trong các tài khoản bảo hiểm xã hội, số tiền đó trước
sau họ cũng được hưởng toàn bộ (nhất là tài khoản hưu trí) nên tự họ có sự điều
chỉnh sử dụng thế nào cho có hiệu quả, do đó tránh được tình trạng đóng ít hưởng
nhiều hoặc đóng nhiều mà không hưởng. Đồng thời, người lao động sẽ tích cực
đóng góp hơn do họ biết là tiền trong tài khoản cá nhân thực chất là tiền tích cóp
và còn được hưởng phần qũy chung.
5. Tăng cường cải cách hành chính
Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã phân tích sâu sắc nội dung vấn đề cải cách
hành chính. Mặc dù công cuộc cải cách hành chính ở nước ta trong những năm
qua đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhưng vẫn còn một số tồn tại chủ yếu
sau:
1. Thể chế hành chính vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi của phát triển kinh tế, xây
dựng nhà nước, mở cửa hội nhập và phục vụ nhân dân, thể hiện ở thể chế pháp
luật không đồng bộ, chậm đi vào cuộc sống, trật tự kỷ cương bị vi phạm nghiêm
trọng; cải cách thủ tục hành chính chưa được tiến hành thường xuyên, chậm tổng
kết việc thực hiện "một cửa, một dấu", chậm công bố những văn bản pháp luật hết
hiệu lực hoặc không còn phù hợp; số vụ khiếu nại, tố cáo hành chính vẫn còn tồn
đọng nhiều; những phiền hà, sách nhiễu trong thực thi công vụ chưa được khắc
phục triệt để;
2. Tổ chức bộ máy hành chính còn cồng kềnh, nhiều đầu mối, tầng lớp trung
gian, chất lượng hoạt động và hiệu quả thấp. Đặc biệt, sự phân cấp thẩm quyền
trách nhiệm giữa Chính phủ với các bộ, ngành, giữa Trung ương và địa phương
chưa cụ thể, thiếu nhất quán, dẫn đến tranh chấp thẩm quyền, đùn đẩy trách nhiệm
và thiếu sự phối hợp giữa các ngành, các cấp;
3. Đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập. Đội ngũ đông nhưng không
mạnh, không đồng bộ, vừa thừa vừa thiếu; trình độ kiến thức, năng lực lãnh đạo và

chỉ đạo của các cơ quan nhà nước để nâng cao chất lượng, hiệu quả và đáp ứng
những biến động của cơ chế thị trường và những thách thức của quá trình hội
nhập;
4. Xây dựng và hoàn chỉnh thể chế, hệ thống văn bản tiêu chuẩn nghiệp vụ, làm
cơ sở pháp lý và khoa học cho việc xây dựng, quản lý đội ngũ cán bộ, công chức
theo tinh thần của chiến lược cán bộ trong thời kỳ mới. Công tác cán bộ, công
chức cần được đổi mới từ khâu quy hoạch, thi tuyển, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá
sử dụng, quản lý, đến xây dựng các chế độ chính sách. Chính sách tiền lương cần
được cải cách theo hướng: trả tương xứng với nhiệm vụ, gắn với sự phát triển kinh
tế - xã hội; trả đúng là thực hiện đầu tư phát triển.
5. Cải cách tài chính công trên cơ sở phân cấp mới theo luật định, nguyên tắc
công khai, minh bạch trong thu chi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status