đổi mới tổ chức và hoạt động của chính phủ việt nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 21

1
LỜI NÓI ĐẦU
Chính phủ là cơ quan cấp cao nhất của hệ thống hành chính nhà nước
thực thi chức năng thống nhất quản lý hành chính nhà nước trên phạm vi toàn
quốc, trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, cùng
với cải cách kinh tế, việc đổi mới tổ chức và hoạt động Chính phủ giữ vai trò
quan trọng trong tiến trình xây dựng đất nước. Yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt
động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nói chung, Chính phủ nói riêng
nhằm “xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa,
bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực
nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc
thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”[21] được Đảng ta đề ra như
một tất yếu khách quan.
Trải qua hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước,
cải cách Chính phủ đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, thực tế
tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước ta trong những năm qua cho thấy bên
cạnh những thành tựu rất đáng khích lệ, còn tồn tại nhiều yếu kém. Tổ chức bộ
máy còn cồng kềnh; chức năng, quyền hạn của các cơ quan còn bị chồng chéo;
trách nhiệm của tập thể Chính phủ, của cá nhân các thành viên Chính phủ không
thật rõ ràng, tình trạng trì trệ, quan liêu vẫn còn là trở ngại rất lớn khó có thể
khắc phục trong một sớm một chiều. Điều này không những gây ảnh hưởng đến
tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mà còn có tác động tiêu cực đến
nỗ lực xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của chúng ta hiện nay. Chính
vì vậy, trước yêu cầu đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế cần phải tiếp tục đẩy mạnh đổi mới tổ chức và
phương thức hoạt động của Chính phủ. Để thực hiện nhiệm vụ này đòi hỏi cần
phải đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản và có tính hệ thống những vấn đề lý luận, đúc
rút thực tiễn, qua đó đề ra những giải pháp toàn diện có tính khả thi nhằm đổi
mới tổ chức và phương thức hoạt động của Chính phủ đáp ứng yêu cầu của đất
nước trong giai đoạn hiện nay. Do vậy, em xin chọn đề tài: “Đổi mới tổ chức và

luật Việt Nam
3
Chương 2. Thực trạng tổ chức và hoạt động của Chính phủ Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
Chương 3. Phương hướng và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của
Chính phủ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
4
Chương 1:
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ THEO QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Chính phủ trong lịch sử lập hiến
Việt Nam
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập.
Dưới ánh sáng của tư tưởng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì
dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hoạt động đối nội và đối ngoại của Chính phủ
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam,
Chính phủ kháng chiến (11/1946) trở đi đã được hoàn thiện theo tiến trình phát
triển thắng lợi của cuộc kháng chiến. Ủy ban dân tộc giải phóng và Chính phủ
lâm thời hoạt động trên cơ sở Nghị quyết của Quốc dân đại hội Tân Trào, Chính
phủ Liên hiệp kháng chiến hoạt động theo các quyết định của Quốc hội do cuộc
Tổng tuyển cử ngày 06 tháng 01 năm 1946 bầu ra. Chính phủ kháng chiến hoạt
động trên cơ sở các quyết định của kỳ họp Quốc hội thứ hai và Hiến pháp ngày
09 tháng 11 năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản Hiến pháp
này mới chỉ quy định Chính phủ là Cơ quan hành chính cao nhất; về quyền hạn
của Chính phủ chưa được quy định rõ; về nhiệm vụ, Hiến pháp chỉ ghi: “Chính
phủ thi hành các đạo luật và quyết nghị của nghị viện, có quyền trình dự án luật
và sắc luật”.
Sang giai đoạn mới, giai đoạn thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến
lược: xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam,

về Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, cuối tháng 11
đầu tháng 12 năm 1991, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ
hai để bàn nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế - xã hội những năm 1992 –
1995 và năm 1992, trong đó Hội nghị có đề cập đến nội dung xác định những
quan điểm cơ bản chỉ đạo việc sửa đổi Hiến pháp năm 1980, cải cách một bước
bộ máy nhà nước và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Tháng 12
6
năm 1991, Quốc hội khóa VIII đã tiến hành kỳ họp thứ 10, thực hiện Nghị quyết
kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa VIII, sau một thời gian lấy ý kiến nhân dân cả
nước đóng góp vào bản Hiến pháp sửa đổi, Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ 11 đã
thảo luận và thông qua hiến pháp mới – Hiến pháp năm 1992. Hiến pháp 1992
xác định: “Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam”. Việc trở lại chế định này thể hiện sự khẳng định quán
triệt nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa và trong chừng mực nhất định đã
vận dụng hạt nhân hợp lý của thuyết “phân quyền”, thừa nhận tính độc lập tương
đối của lĩnh vực hành chính nhà nước. Vì vậy, vị trí, vai trò của Chính phủ đã có
sự điều chỉnh quan trọng so với Hiến pháp 1980.
Nhìn chung, Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và của
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kể từ năm 1959 cho đến nay đang hiện
hành, đã chia hoạt động của Chính phủ ra thành hai hoạt động phân biệt giữa
chấp hành và hoạt động hành chính nhà nước cao nhất. Những bản Hiến pháp
này quy định: Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành
chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quy
định này về mặt ngôn ngữ, xem ra thì rất rạch ròi, phân định hoạt động hành
chính những trên thực tế quy định này lại làm cho các nhà chính trị, cũng như
các nhà điều hành rất khó hiểu. Họ không biết lúc nào thì Chính phủ trong vai
trò là người chấp hành của Quốc hội và khi nào thì Chính phủ lại trong vai trò là
cơ quan hành chính nhà nước cao nhất.
Vì những lẽ đó, mỗi lần thay đổi hay sửa đổi Hiến pháp nước Cộng hòa

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
1.2 Vị trí, tính chất, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ theo
pháp luật hiện hành
1.2.1 Vị trí, tính chất, chức năng của Chính phủ
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992, cơ quan hành chính Nhà nước ở
Trung ương đổi tên từ Hội đồng Bộ trưởng thành Chính phủ, với tinh thần được
xác định lại giống như quy định trong Hiến pháp 1959: “Chính phủ là cơ quan
chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước
8
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” - (Điều 109 Hiến pháp 1992). Tức là
Hiến pháp 1992 xác định rõ hai tính chất: Tính chất chấp hành của Chính phủ
đối với cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất và tính chất cơ quan hành chính
Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội: Chính phủ do Quốc hội
thành lập ra tại kỳ họp thứ nhất; Thủ tướng Chính phủ là đại biểu Quốc hội, các
thành viên khác không nhất thiết phải là đại biểu Quốc hội; Nhiệm kỳ của Chính
phủ theo nhiệm kỳ của Quốc hội, trong nhiệm kỳ Chính phủ triển khai các văn
bản do Quốc hội ban hành; Chính phủ phải tôn trọng và chấp hành tất cả các
luật, nghị quyết của Quốc hội và tất cả những văn bản pháp luật do Chính phủ
ban hành phải phù hợp với văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành; Chính phủ
chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; Thành viên Chính phủ bị
Quốc hội bãi nhiệm, miễn nhiệm (Thủ tướng), phê chuẩn việc miễn nhiệm và
cách chức (Phó thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác).
Là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất có nghĩa là Chính phủ đứng
đầu hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước, thực hiện hoạt động thực thi
pháp luật, quản lý điều hành đất nước. Quy định này một lần nữa cho chúng ta
thấy về cơ bản Hiến pháp 1992 quy định giống mô hình Chính phủ được quy
định tại Hiến pháp 1959. Tuân theo nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống
nhất, bảo đảm sự phân công phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp. Quy định của Hiến pháp 1992 vừa đảm bảo sự chủ động cho Chính phủ

Chính phủ để phù hợp với những yêu cầu quản lý trong quá trình đất nước ta
xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng một nhà
nước pháp quyền. Có thể thấy điều đó qua những quy định sửa đổi, bổ sung ở
một số lĩnh vực như:
Trong lĩnh vực kinh tế: Chính phủ được mở rộng thẩm quyền trong việc
quyết định chính sách cụ thể để phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế,
thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, quyết định chính sách cụ thể khuyến khích
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh tế đối
10
ngoại; khuyến khích đầu tư nước ngoài và tạo điều kiện thuận lợi để người Việt
Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước.
Trong lĩnh vực đối ngoại: Để thực hiện thành công hội nhập kinh tế quốc
tế, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế của Đảng, Chính phủ có
thêm nhiệm vụ, quyền hạn mới như: “Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự
chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng
có lợi”. “Quyết định chính sách cụ thể nhằm khuyến khích người Việt Nam định
cư ở nước ngoài đoàn kết cộng đồng, gìn giữ bản sắc văn hóa, truyền thống tốt
đẹp của dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình quê hương, thực
hiện các biện pháp bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở
nước ngoài” (Điều 15 Luật Tổ chức Chính phủ 2001).
Trong lĩnh vực tổ chức hệ thống hành chính nhà nước, Luật Tổ chức
Chính phủ năm 2001 đã bổ sung cho Chính phủ quyền hạn quyết định và chỉ đạo
thực hiện phân công, phân cấp quản lý ngành và lĩnh vực trong hệ thống hành
chính nhà nước; chỉ đạo thực hiện cải cách hành chính nhà nước, xây dựng nền
hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động
có hiệu lực, hiệu quả; quy định về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy
ban nhân dân và hướng dẫn về tổ chức một số cơ quan chuyên môn để Hội đồng
nhân dân cấp Tỉnh quyết định phù hợp với đặc điểm của địa phương; quy định

Chính phủ do Quốc hội thành lập ra tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa
Quốc hội. Theo quy định tại Điều 110 của Hiến pháp 1992, Điều 3 Luật Tổ chức
Chính phủ năm 2001 thì “Chính phủ gồm Thủ tướng, các Phó thủ tướng, các Bộ
trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ”. Trong đó, ngoài Thủ tướng, các
thành viên khác của Chính phủ không nhất thiết là đại biểu Quốc hội. Đây cũng
là điểm rất mới so với Hiến pháp 1980 (quy định Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
là đại biểu Quốc hội, các thành viên khác chủ yếu chọn trong số đại biểu Quốc
hội). Cách thức thành lập Chính phủ theo Hiến pháp 1992 hoàn toàn khác so với
Hiến pháp 1980. Theo Hiến pháp 1992 chỉ có Thủ tướng Chính phủ là do Quốc
hội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước, còn các Phó
thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ do Quốc hội phê
12
chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức theo đề nghị của Thủ tướng
Chính phủ. Việc Hiến pháp trao cho Thủ tướng Chính phủ quyền được đề nghị
bổ nhiệm các thành viên khác của Chính phủ trình Quốc hội phê chuẩn, đồng
thời còn có quyền đề nghị Quốc hội miễn nhiệm, cách chức các thành viên của
Chính phủ làm nổi bật vai trò của Thủ tướng Chính phủ. Có thể nói rằng đây là
một phương pháp hữu hiệu góp phần xây dựng một cơ quan hành chính nhà
nước mạnh mẽ.
Thành viên Chính phủ không đồng thời là thành viên Ủy ban thường vụ
Quốc hội. Đây là quy định kế thừa các Hiến pháp trước, đảm bảo tính khách
quan trong hoạt động giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội với Chính phủ.
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp 1992 và Luật Tổ chức Chính phủ năm
2001, Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII (2007 - 2011) bao gồm các thành
viên: Thủ tướng, 5 Phó thủ tướng, 22 Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang
bộ. Cơ cấu Chính phủ bao gồm 22 Bộ, trong đó có 18 Bộ và 04 cơ quan ngang
bộ.
Qua nhiệm kỳ 4 năm hoạt động (2007-2011), Chính phủ nhiệm kỳ Quốc
hội khóa XII nhận nhiệm vụ trong bối cảnh có nhiều thuận lợi, được kế thừa
những thành quả to lớn và kinh nghiệm quý báu của hơn 20 năm đổi mới, đặc

Có thể thấy, so với Chính phủ khóa 12, Chính phủ khóa 13 đã giảm 1 Phó
thủ tướng và giữ nguyên cơ cấu tổ chức 22 Bộ, ngành như Chính phủ khóa 12.
1.4 Hình thức hoạt động của Chính phủ theo pháp luật hiện hành
Để thực hiện chức năng là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất, Điều 6
Luật Tổ chức Chính phủ 2001 quy định: “Hiệu quả hoạt động của Chính phủ
được đảm bảo bằng hiệu quả hoạt động của tập thể Chính phủ, của Thủ tướng
Chính phủ và từng thành viên của Chính phủ”. Khẳng định hiệu quả hoạt động
thực tế của Chính phủ thể hiện qua 3 hình thức: Thông qua phiên họp của Chính
phủ, thông qua hoạt động của Thủ tướng Chính phủ và thông qua hoạt động của
các thành viên Chính phủ.
1.4.1 Thông qua phiên họp Chính phủ
Các phiên họp của Chính phủ là hình thức hoạt động quan trọng của
Chính phủ, có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ hoạt động của Chính phủ.
14
Phiên họp là nơi tập trung trí tuệ của cả tập thể Chính phủ, những người
trực tiếp nằm quyền quản lý hành chính trên phạm vi một ngành hoặc một lĩnh
vực nhất định đồng thời có sự đóng góp ý kiến của các cơ quan nhà nước, các tổ
chức đoàn thể khi tham dự phiên họp.
Theo quy định hiện hành, Chính phủ họp thường kì mỗi tháng một lần,
ngoài ra có thể họp bất thường theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặc
theo yêu cầu của ít nhất 1/3 tổng số thành viên Chính phủ.
Tham dự phiên họp gồm: thành viên Chính phủ, nếu vắng mặt trong phiên
họp thì phải được sự đồng ý của Thủ tướng, Thủ tướng có thể cho phép thành
viên vắng mặt được cử người phó của mình tham dự phiên họp Chính phủ.
Ngoài các thành viên Chính phủ, Chủ tịch nước có quyền tham dự phiên họp của
Chính phủ khi xét thấy cần thiết, Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hôi,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và người đứng đầu các tổ chức đoàn
thể khác có thể được mời tham dự các phiên họp của Chính phủ khi bàn về vấn
đề có liên quan. Khi cần thiết Chính phủ có thể mời Thủ trưởng cơ quan thuộc

trò của Thủ tướng Chính phủ. Phiên họp Chính phủ là hình thức hoạt động tập
thể duy nhất của Chính phủ, trên cơ sở bàn bạc dân chủ công khai, nghị quyết
của phiên họp vừa thể hiện nội dung nguyên tắc tập trung dân chủ đồng thời để
cao vai trò của cá nhân Thủ tướng. Đây được xem là điểm mới phù hợp với quan
niệm xây dựng bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1992.
Để đảm bảo hiệu quả cho phiên họp của Chính phủ, ngoài việc hoàn thiện
các quy định pháp luật, sự cần thiết phải mở rộng thành phần phiên họp, làm tốt
công tác chuẩn bị (đặc biệt là chuẩn bị dự án và các nội dung đưa ra phiên họp),
phiên họp cần tập trung giải quyết tốt những nhiệm vụ quan trọng của Chính
phủ.
1.4.2 Thông qua hoạt động của Thủ tướng Chính phủ
Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo, điều hành và chịu trách nhiệm về mọi
hoạt động của Chính phủ. Khắc phục những hạn chế trong quy định quyền hạn
của người đứng đầu Chính phủ mà Hiến pháp 1980 đã quy định, Hiến pháp 1992
và Luật Tổ chức Chính phủ 2001 có xu hướng đề cao vai trò, trách nhiệm của
16
Thủ tướng. Với vai trò là người đứng đầu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có
những quyền hạn: triệu tập, chủ tọa phiên họp Chính phủ; Quy định chế độ làm
việc của Thủ tướng với các thành viên Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan thuộc
Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
Lãnh đạo công tác của Chính phủ, thành viên của Chính phủ, Thủ trưởng cơ
quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp; Đề nghị Quốc hội
thành lập hoặc bãi bỏ các Bộ, cơ quan ngang bộ, trình Quốc hội phê chuẩn đề
nghị việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, cho từ chức đối với Phó Thủ tướng,
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; trong thời gian Quốc hội không họp
thì Thủ tướng Chính phủ có quyền trình Chủ tịch nước quyết định tạm đình chỉ
công tác của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Chỉ đạo
xây dựng các dự án trình Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội, các văn bản
quy phạm thuộc thẩm quyền của Chính phủ và Thủ tướng; Thành lập hội đồng
và ủy ban thường xuyên hoặc lâm thời khi cần thiết; Quyết định các biện pháp

quan ngang bộ đóng vai trò quan trọng, Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang
bộ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác
trong phạm vi cả nước.
Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là thành viên Chính phủ lãnh
đạo công tác của Bộ và cơ quan ngang bộ, phụ trách một số công tác của Chính
phủ, Bộ trưởng chịu trách nhiệm trước Thủ tướng và Quốc hội về hoạt động
quản lý nhà nước trong phạm ngành, lĩnh vực được phân công.
Để thực hiện tốt chức năng của mình, Bộ trưởng hoạt động với hai tư
cách:
Vừa là thành viên Chính phủ, tham gia giải quyết những vấn đề thuộc
thẩm quyền của Chính phủ tại phiên họp. Tham gia các phiên họp Chính phủ,
các Bộ trưởng có quyền thảo luận và biểu quyết các vấn đề quan trọng của
Chính phủ; chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác theo sự phân
công của Chính phủ; Trình bày trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội báo
cáo của Bộ theo yêu cầu của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; Trả lời chất
vấn của đại biểu Quốc hội; Thực hiện những nhiệm vụ khác do Thủ tướng
Chính phủ ủy nhiệm.
18
Vừa là người đứng đầu Bộ, lãnh đạo, quản lý điều hành Bộ theo chế độ
thủ trưởng. Với tư cách này, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ lãnh đạo,
quyết định và chịu trách nhiệm quản lý về ngành, lĩnh vực mình phụ trách như:
Trình Chính phủ kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm của ngành, lĩnh vực; tổ
chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch trong phạm vi cả nước; quyết định các tiêu
chuẩn, quy trình, quy phạm và các định mức kinh tế - kĩ thuật của ngành thuộc
thầm quyền; Đề nghị Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức
Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng và tương đương,… (Điều 23 Luật Tổ chức Chính phủ
năm 2001).
Trong phạm vi quản lý của mình, Bộ trưởng có quyền ban hành các loại
văn bản pháp luật gồm quyết định, chỉ thị, thông tư, Bộ trưởng căn cứ vào các
Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban

chung như trước đây.
20
Chương 2:
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1 Những thành tựu đạt được
Trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã có rất nhiều thành tựu
trong việc thay đổi cả về nhận thức, vị trí, vai trò lẫn cách thức điều hành. Đó là
một trong những biểu hiện thành công của công cuộc đổi mới và mở cửa của đất
nước Việt Nam nói chung và của Chính phủ Việt Nam nói riêng.
Xuất phát từ nội dung, phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Chính
phủ với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất ngày càng được quan
tâm. Chính phủ đã đổi mới phương thức hoạt động, phát huy sức mạnh tổng hợp
của bộ máy Chính phủ, làm rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và
quyền hạn của các Bộ, nâng cao vai trò và hiệu lực chỉ đạo đối với chính quyền
địa phương, vừa bảo đảm sự điều hành, tập trung thống nhất, vừa phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo của chính quyền địa phương với sự phân cấp cần
thiết, hợp lý.
Việc điều chỉnh, sắp xếp cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ được thực
hiện theo nguyên tắc Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Trong vòng 8 năm, tổng
số các đầu mối của Chính phủ từ 48 cơ quan đến năm 2007 chỉ còn 30 cơ quan,
bao gồm 22 Bộ, cơ quan ngang bộ và 8 cơ quan thuộc Chính phủ. Đến năm
2007, không còn loại cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà
nước. Chức năng quản lý nhà nước đối với các ngành, lĩnh vực được tập trung
về các Bộ, cơ quan ngang bộ. Hiện nay, cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ
cũng được sắp xếp phù hợp với sự điều chỉnh chức năng quản lý nhà nước của
Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước. Chính phủ có nhiều đổi mới
trong tổ chức bộ máy, hợp lý hóa và gọn nhẹ hơn qua việc sáp nhập một số Bộ
để chỉ còn 22 Bộ và cơ quan ngang bộ; giải thể một số tổ chức không cần thiết,

thuận lợi cho sự vận hành thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
22
nghĩa, xóa bỏ nhiều quy định mang tính quan liêu, bao cấp, gây phiền hà cho
doanh nghiệp và nhân dân. Phương thức quản lý một dấu, một cửa đã được thí
điểm và vận dụng ở hầu hết các ngành và địa phương.
Những thành tựu mới của khoa học quản lý và công nghệ hiện đại đã đang
từng bước được ứng dụng vào hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ và
các ngành. Năng lực chuyên môn, trình độ kĩ thuật hành chính, phẩm chất và
năng lực thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy Chính
phủ đã được nâng cao một bước.
Trong công tác điều hành vĩ mô các lĩnh vực cụ thể, về phát triển kinh tế,
Chính phủ đã chú trọng đề ra các giải pháp thúc đẩy nền kinh tế phát triển
nhanh, nhưng luôn quán triệt quan điểm tăng trưởng kinh tế phải gắn kết chặt
chẽ với kiểm soát và ổn định kinh tế vĩ mô, coi ổn định kinh tế vĩ mô là điều
kiện hàng đầu để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và bền vững. Trên
tinh thần đó, Chính phủ đã phân bổ hợp lý các nguồn lực và quản lý chặt chẽ
việc sử dụng theo hướng bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, tạo cơ sở cho
việc triển khai các nhiệm vụ trọng tâm.
Công tác quản lý, điều hành giá cả, Chính phủ chỉ đạo thực hiện hệ thống
các giải pháp tạo hiệu ứng mạnh cho việc giảm áp lực tăng giá. Khống chế mức
tăng giá của một số mặt hàng thiết yếu trong biên độ nhất định, tập trung ổn định
thị trường tiền tệ, giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, điều hành linh hoạt cơ
chế tỉ giá; chỉ đạo các giải pháp đẩy mạnh sản xuất, lưu thông, không để thiếu
hụt nguồn hàng; tăng cường chống đầu cơ, buôn lậu; giá cả phù hợp trên nguyên
tắc của nền kinh tế thị trường không mở rộng và đã có dự kiến dần chấm dứt
việc nhà nước bù lỗ về giá.
Đồng thời với chỉ đạo phát triển kinh tế, các lĩnh vực xã hội cũng được
Chính phủ chú trọng điều hành để đưa đời sống nhân dân ngày càng được nâng
cao. Với chủ trương phát triển kinh tế bền vững là lấy người nghèo làm trung
tâm: xóa đói, giảm nghèo là nâng cao kiến thức, giúp họ học nghề tự vươn lên

làm rõ các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực mà báo chí và nhân dân
phản ánh.
24
Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã tập trung xem xét và giải quyết dứt
điểm nhiều vụ khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài; chỉ đạo các cơ
quan chức năng đổi mới công tác tiếp dân, trọng tâm là đổi mới nhận thức, tổ
chức và hoạt động của cơ quan tiếp dân, phối hợp chặt chẽ để giải quyết kịp
thời, dứt điểm các vụ việc ngay tại địa phương, cơ sở bảo đảm tính dân chủ công
khai, minh bạch.
Các lĩnh vực quốc phòng, an ninh được tăng cường, củng cố. Chính trị, xã
hội ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho những bước đi lên mạnh mẽ của đất
nước.
Công tác đối ngoại cũng giành được những thành tựu to lớn, thực hiện
đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng, Nhà nước ta tích cực, chủ động thiết lập
quan hệ ngoại giao, củng cố quan hệ hữu nghị, mở rộng quan hệ hợp tác với
nhiều nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị khác nhau.
2.2 Những tồn tại, hạn chế
Những thành tựu trong việc xây dựng tổ chức, bộ máy cũng như hoạt
động chỉ đạo, điều hành của Chính phủ trong những năm gần đây là hết sức to
lớn, tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được đó, tổ chức bộ máy, hoạt động
của Chính phủ vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế cần khắc phục.
2.2.1 Về cơ sở pháp lý đối với tổ chức và hoạt động của Chính phủ
Hiện nay tổ chức và hoạt động của Chính phủ được điều chỉnh trong Hiến
pháp 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001, Quy
chế làm việc của Chính phủ; hàng loạt các Nghị định về chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các Quyết
định của Thủ tướng Chính phủ. Những văn bản này là cơ sở pháp lý quan trọng
cho tổ chức và hoạt động của các cơ quan thuộc hệ thống hành pháp. Các văn
bản được ban hành gần đây đã thể hiện tư tưởng tăng cường hiệu quả của bộ
máy hành pháp như tinh thần cải cách hành chính, phân công và phân cấp quản

năng của Chính phủ trong mối quan hệ giữa Nhà nước với thị trường, giữa Nhà
nước với doanh nghiệp, giữa Nhà nước với xã hội chưa được thể chế một cách
đầy đủ, rõ ràng. Vai trò, chức năng của Chính phủ trong mối quan hệ phân công,

Trích đoạn Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong hoạt động của Chính phủ Những nguyên tắc và yêu cầu đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của Chính phủ ở nước ta hiện nay Nhận thức đầy đủ, đúng đắn về vị trí, vai trò của Chính phủ trong giai đoạn hiện nay Tích cực đẩy mạnh công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong Chính phủ. Quản lý và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status