Chính sách cổ tức của các công ty niêm yết ở việt nam - Pdf 21



1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
Ở VIỆT NAM Sinh viên thực hiện : Trần Thị Thƣơng
Lớp : Anh 3
Khoá : K43A - KT&KDQT
Giáo viên hƣớng dẫn : Th.S. Nguyễn Thị Hoàng Anh


CỔ PHẦN 22
1.3.1. CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ TÀI SẢN CỦA CÁC CỔ ĐÔNG 22
1.3.2. CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ CỦA
CÔNG TY 24
1.3.3. CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CỔ
ĐÔNG VÀ CÁC CHỦ NỢ CỦA CÔNG TY 25
1.3.4. CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ CƠ CẤU VỐN CỦA CÔNG TY 26
1.4. CÁC CĂN CỨ LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC 27
1.4.1. CÁC YẾU TỐ CHỦ QUAN 28 2
1.4.1.1. CHU KỲ KINH DOANH CỦA NGÀNH VÀ CÁC CƠ HỘI
ĐẦU TƢ 28
1.4.1.2. KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN TRÊN CÁC THỊ TRƢỜNG
THỊ TRƢỜNG TÀI CHÍNH 30
1.4.1.3. TÌNH HÌNH LUỒNG TIỀN CỦA CÔNG TY 31
1.4.1.4. QUYỀN KIỂM SOÁT CÔNG TY 31
1.4.2. CÁC YẾU TỐ KHÁCH QUAN 32
1.4.2.1. CHI PHÍ PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ
TRƢỜNG TÀI CHÍNH 32
1.4.2.2. SỰ ƢA THÍCH CỔ TỨC CỦA NHÀ ĐẦU TƢ 32
1.4.2.3. THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 33
1.4.2.4. PHẢN ỨNG CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƢ ĐỐI VỚI NHỮNG
THAY ĐỔI CỦA CÁC THÔNG BÁO LIÊN QUAN ĐẾN CỔ TỨC 34
1.4.2.5. NHỮNG RÀNG BUỘC VÀ QUY ĐỊNH MANG TÍNH PHÁP
LÝ 34
CHƢƠNG 2 37
CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở
VIỆT NAM 37

ĐẾN LỢI ÍCH LÂU DÀI 58
2.3.1.2. TRÌNH ĐỘ PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CÁC QUYẾT ĐỊNH
CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CỔ ĐÔNG CÒN HẠN CHẾ 59
2.3.1.3. CÁC CỔ ĐÔNG CÒN THIẾU THÔNG TIN TRÊN TTCK. 60
2.3.1.4. HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH CÔNG TY YẾU KÉM
60
2.3.1.5. TRÌNH ĐỘ CỦA ĐỘI NGŨ QUẢN LÝ CÒN YẾU KÉM 61
2.3.2. NGUYÊN NHÂN KHÁCH QUAN 62
2.3.2.1. THIẾU KHUNG PHÁP LÝ CHO VIỆC THỰC HIỆN CHI
TRẢ CỔ TỨC 62
2.3.2.2. DIỄN BIẾN CỦA TTCK VÀ TÂM LÝ CỦA CÁC CỔ ĐÔNG
63
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA
CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM 65
3.1. DỰ BÁO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
65
3.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÁC
CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM 66 4
3.2.1. VỀ PHÍA CÁC CÔNG TY 66
3.2.1.1. CHÍNH SÁCH CỔ TỨC PHẢI DỰA TRÊN MỘT CƠ CẤU
VỐN HỢP LÝ 68
3.2.1.2. CHÍNH SÁCH CỔ TỨC PHẢI PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN
CỤ THỂ CỦA TỪNG DOANH NGHIỆP 68
3.2.1.3. DUY TRÌ MỘT MỨC CỔ TỨC ỔN ĐỊNH HÀNG NĂM 69
3.2.1.4. THEO ĐUỔI MỘT TỶ LỆ CHI TRẢ CỔ TỨC MỤC TIÊU 70
3.2.1.5. TĂNG CƢỜNG GIÁO DỤC, NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ
QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP CHO CÁC NHÀ QUẢN LÝ 71

Chí Minh
6. HaSTC : Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội
7. TTCK : Thị trƣờng chứng khoán
8. UBCKNN : Uỷ ban Chứng khoán Nhà nƣớc
6
DANH MC BNG, BIU

Bng 1.1: Quy trỡnh tr c tc 7
Bng 2.1: Quy mụ niờm yt trờn TTCK Vit Nam qua mt s nm 38
Bng 2.2: Tỡnh hỡnh chi tr c tc qua cỏc nm ca cỏc cụng ty niờm yt trờn
Trung tõm giao dch chng khoỏn TP H Chớ Minh. 41
Bng 2.3: T l c tc v thay i giỏ c phiu ca mt s cụng ty niờm yt
trờn sn HOSE sau khi chi tr c tc bng c phiu 46
Bng 2.4: T l c tc v thay i giỏ c phiu ca mt s cụng ty niờm yt
trờn HOSE sau khi chi tr c tc tin mt 48

Biểu đồ 1: Tỷ lệ trả cổ tức của một số cổ phiếu qua các năm 43 1
LỜI NÓI ĐẦU

- Đánh giá chung về tình hình chi trả cổ tức của các công ty niêm yết ở
Việt Nam: những hiệu quả và bất cập trong việc thực hiện chính sách cổ tức
của các công ty niêm yết.
- Đƣa ra một số gợi ý cho việc xây dựng và hoàn thiện chính sách cổ
tức của các công ty niêm yết ở Việt Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài: Các công ty niêm yết trên TTCK Việt
Nam, xét cụ thể tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chính
Minh.
Phạm vi nghiên cứu: Chính sách cổ tức của các công ty niêm yết trên
Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm
gần đây (2005-2007), đặc biệt là đánh giá tới các yếu tố tác động chủ yếu
chính sách cổ tức của công ty, cũng nhƣ ảnh hƣởng của việc thực hiện chính
sách cổ tức đó.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp chung đƣợc sử dụng cho quá trình cho quá trình nghiên
cứu là phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, các quan điểm của Đảng
và Nhà nƣớc về hội nhập kinh tế quốc tế.
Những phƣơng pháp cụ thể đƣợc sử dụng là phƣơng pháp thống kê so
sánh phân tích tổng hợp, nghiên cứu lý thuyết tổng hợp thực tiễn để đƣa ra
quyết định. 3
5. Kết cấu:
Phù hợp với mục đích đối tƣợng, phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài,
ngoài lời mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục viết tắt,
bài khoá luận bao gồm ba chƣơng:
Chƣơng 1: Tổng quan về cổ tức và chính sách cổ tức
Chƣơng 2: Chính sách chi trả cổ tức của các công ty niêm yết ở Việt Nam

Thông thƣờng lợi nhuận sau thuế của công ty đƣợc chia làm 2 phần:
Một phần giữ lại để tái đầu tƣ và một phần dùng để chi trả cho các cổ đông
của công ty.
Nhƣ vậy, cổ tức là phần lợi nhuận sau thuế của công ty dùng để trả cho
những ngƣời chủ sở hữu (cổ đông). Cổ tức có thể đƣợc trả bằng tiền mặt,
hoặc trả bằng cổ phiếu.
Việc có trả cổ tức hay không, tỷ lệ và hình thức chi trả cổ tức cho cổ
đông tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động, chính sách của công ty và quyết định
của HĐQT. Về cơ bản, các công ty có những chính sách khác nhau trong việc
phân chia lợi nhuận của công ty mình. Nếu lợi nhuận giữ lại nhiều thì phần
dùng để trả cổ tức sẽ ít và ngƣợc lại. Tỷ lệ lợi nhuận phân bổ cho hai mục
đích giữ lại và chia cổ tức nhƣ thế nào là tuỳ thuộc vào chiến lƣợc của từng
công ty.
1.1.2. Các hình thức trả cổ tức
Sau khi đƣa ra quyết định về việc chi trả cổ tức trong cuộc họp HĐQT
và thông qua tại ĐHCĐ, HĐQT sẽ công bố thông tin về quy mô trả cổ tức vào 5
ngày công bố. Thông thƣờng, hầu hết các công ty kinh doanh có lãi sẽ chia sẻ
lợi nhuận cho các nhà đầu tƣ của họ bằng cách trả cổ tức. Tuy nhiên, không
có quy định nào về mặt pháp lý bắt buộc các công ty phải trả cổ tức cho các
cổ đông khi công ty làm ăn có lãi. Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể, HĐQT của
công ty có thể tăng, giảm, hoặc từ bỏ việc chi trả cổ tức.
Thông thƣờng, các công ty đang trong giai đoạn tăng trƣởng thƣờng
giữ lại phần lớn hoặc thậm chí toàn bộ lợi nhuận của họ để tái đầu tƣ vào
công ty nên họ sẽ trả cổ tức rất thấp hoặc thậm chí không trả cổ tức. Các công
ty lâu đời và đã trƣởng thành thƣờng chi trả cổ tức rất ổn định do các công ty
này khi đã tăng trƣởng đến một mức nào đó, họ đã trở thành những công ty
đầu ngành, thì nhịp độ tăng trƣởng chậm lại nhƣng tỷ lệ tăng trƣởng thu nhập

- Các công ty đang trong giai đoạn tăng trƣởng, có nhiều cơ hội đầu tƣ,
thƣờng thực hiện chi trả cổ tức bằng cổ phiếu để giữ lại nguồn vốn nhằm tăng
khả năng đầu tƣ, mở rộng sản xuất, kinh doanh đem lại lợi tức thu nhập cao
hơn trƣớc cho các cổ đông.
Ngoài những lý do trên, công ty sử dụng hình thức trả cổ tức bằng cổ
phiếu có thể nhằm mục tiêu che đậy việc công ty thiếu khả năng trả cổ tức
bằng tiền mặt. Đây là cách thức hợp lý để nhà quản lý giấu đi sự quản lý
không hiệu quả của họ về luồng tiền.
Trả cổ tức bằng cổ phiếu không phải là chi trả cổ tức theo đúng nghĩa,
vì nó không làm cho tài khoản tiền mặt của công ty giảm đi. Trả cổ tức bằng
cổ phiếu cũng tƣơng tự nhƣ chia tách cổ phiếu (stock split). Khi công ty chia
tách cổ phiếu sẽ làm gia tăng số cổ phần đang lƣu hành và mỗi cổ phần bây
giờ đƣợc tham gia chia một phần ngân lƣu của công ty nên giá cổ phiếu sẽ 7
giảm đi tuy nhiên vốn cổ phần của cổ đông không thay đổi. Còn với việc trả
cổ tức bằng cổ phiếu, vốn điều lệ của công ty tăng lên và cổ đông sẽ nhận
đƣợc nhiều cổ phiếu hơn tuy nhiên giá thị trƣờng của cổ phiếu giảm đi.
1.1.3. Quy trình trả cổ tức
Quyết định về việc chi trả cổ tức đƣợc đặt trong tay của HĐQT công ty.
Việc chi trả cổ tức của công ty đƣợc ghi nhận vào một ngày cụ thể. Khi cổ tức
đƣợc công bố, nó trở thành một trách nhiệm tài chính đối với công ty và công
ty không thể dễ dàng thay đổi đƣợc.
Cơ chế chi trả cổ tức của công ty có thể đƣợc minh họa nhƣ sau:
Bảng 1.1: Quy trình trả cổ tức

Thứ năm
15/01
Thứ tƣ

- Ngày giao dịch không hƣởng quyền cổ tức: Do việc mua bán và
chuyển quyền sở hữu cổ phiếu mất một số ngày nên sẽ không công bằng nếu
ngƣời nào mua cổ phiếu vào ngày 29/01 nhƣng hoàn tất đƣợc thủ tục vào
ngày 30/01 và đƣợc hƣởng cổ tức trong khi ngƣời khác mua cổ phiếu cùng
ngày nhƣng mãi đến ngày 2/02 mới hoàn tất thủ tục và nhƣ vậy không đƣợc
hƣởng cổ tức. Để tránh vấn đề này, các công ty môi giới ấn định mốc thời
gian là 3 ngày làm việc trƣớc ngày chốt danh sách cổ đông, gọi là ngày giao
dịch không hƣởng quyền cổ tức (ex- dividend date), trong ví dụ đang xem xét
là vào ngày 28/01. Nếu ai mua cổ phiếu vào hoặc sau ngày này sẽ không đƣợc
hƣởng cổ tức.
- Ngày chi trả: Vào ngày này cổ tức sẽ đƣợc trả cho cổ đông bằng tiền
mặt hoặc bằng chuyển khoản (đối với cổ tức tiền mặt). Trƣờng hợp trả cổ tức
bằng cổ phiếu, cổ đông sẽ nhận đƣợc số cổ phiếu tƣơng ứng với số cổ phiếu
hiện họ đang nắm giữ và tỷ lệ chi trả cổ tức mà công ty công bố.
Quy trình chi trả cổ tức nhƣ trình bày trên hình trên cho thấy ngày giao
dịch không hƣởng quyền rất quan trọng bởi vì cá nhân nào mua cổ phiếu
trƣớc ngày này sẽ đƣợc hƣởng cổ tức năm hiện tại trong khi cá nhân nào mua
cổ phiếu đúng vào ngày này hoặc sau ngày này sẽ không đƣợc hƣởng cổ tức.
Ngoài ra, vào lúc mở cửa của thị trƣờng của ngày giao dịch không hƣởng
quyền cổ tức, giá cổ phiếu sẽ giảm một khoản bằng hoặc xấp xỉ bằng cổ tức
(nếu có thuế thu nhập đối với cổ tức).
1.2. Chính sách cổ tức và các lý thuyết về chính sách cổ tức
1.2.1. Chính sách cổ tức 9
Chính sách cổ tức là một trong những chính sách tài chính quan trọng
ảnh hƣởng đến sự tồn tại, phát triển và thịnh vƣợng của một công ty, nó liên
quan tới việc xác định lƣợng tiền và phƣơng thức dùng để trả cổ tức cho các
cổ đông thƣờng của công ty.

giảm giá do các nhà đầu tƣ bán cổ phiếu mà họ đang nắm giữ sẽ đặt công ty
trƣớc tình huống đe dọa bị thao túng mua. Còn nếu tiếp tục duy trì việc trả cổ
tức cao, công ty sẽ phải huy động vốn từ các nguồn khác nhƣ vay nợ hoặc
phát hành thêm cổ phiếu mới. Nếu vay nợ bên ngoài, công ty sẽ phải chịu một
khoản lãi vay; còn nếu phát hành cổ phiếu mới công ty sẽ phải đối diện với
các vấn đề sau:
- Tốn kém phát sinh do chi phí phát hành cổ phiếu mới (trung bình bằng
15% tổng giá trị phát hành).
- Quyền kiểm soát của cổ đông hiện hành có thể bị đe dọa.
Nhƣ vậy, tuỳ vào từng trƣờng hợp cụ thể mà công ty nên lựa chọn
phƣơng án nào mang lại lợi ích cao nhất cho các bên tham gia CTCP.
1.2.2. Các lý thuyết về chính sách cổ tức
Tầm quan trọng cũng nhƣ ý nghĩa của chính sách cổ tức hiện vẫn là vấn
đề gây nhiều tranh cãi. Một số nhà nghiên cứu cho rằng việc công ty có trả cổ
tức hay không không có ý nghĩa quan trọng vì nó không ảnh hƣởng gì đến giá
trị của công ty. Một số khác lại chỉ ra rằng quyết định chi trả cổ tức sẽ ảnh
hƣởng đến các nhà đầu tƣ, làm thay đổi giá cổ phiếu do đó làm thay đổi giá trị
công ty.
 Quan điểm chính sách cổ tức không tác động đến giá trị của công ty
của Merton Miller và Franco Modigliani (M&M dividend irrelevance
proposition) 11
Theo Merton Miller và Franco Modigliani (1961) thì trong một thị
trƣờng hoàn hảo (không có thuế, không có chi phí phát hành, chi phí giao dịch
chứng khoán và chi phí thông tin, ), chính sách cổ tức không ảnh hƣởng đến
tổng thu nhập của cổ đông hay nói cách khác mọi chính sách cổ tức đều nhƣ
nhau. Lý thuyết này của M&M đối lập với quan điểm truyền thống là cổ đông
đều thích trả cổ tức cao, nghĩa là đề cao chính sách cổ tức; cổ tức trả càng cao

chứa đựng bên trong chính sách cổ tức. Việc tăng cổ tức có thể là một tín hiệu
cho rằng các nhà quản trị công ty rất lạc quan về dòng thu nhập trong tƣơng
lai của công ty. Vì thông thƣờng các công ty rất ngại cắt giảm cổ tức nên họ
chỉ quyết định tăng cổ tức nếu tin rằng có thể duy trì mức cổ tức cao đó trong
tƣơng lai. Do vậy mà tăng cổ tức sẽ dẫn đến giá cổ phiếu tăng lên do nhà đầu
tƣ tin rằng dòng thu nhập trong tƣơng lai sẽ tăng lên.
Nhƣ vậy, theo các nhà nghiên cứu này thì chính sách cổ tức có chứa
đựng thông tin và có thể đƣợc coi là một tín hiệu về khả năng phát triển trong
tƣơng lai của công ty. Tuy nhiên quan điểm này chỉ có ý nghĩa khi thoả mãn
hai điều kiện: Thứ nhất, các nhà đầu tƣ coi trọng thông tin này; thứ hai, cổ tức
là một tín hiệu về triển vọng phát triển của công ty và là một tín hiệu đáng tin
cậy hơn các tín hiệu khác. Quan điểm này cho rằng cả hai điều kiện trên đều
tồn tại. Thực tế, nếu công ty tuyên bố tăng cổ tức mà không có đủ thu nhập để
trả thì sẽ phải huy động vốn từ bên ngoài hoặc phải hy sinh các khoản đầu tƣ
trong tƣơng lai. Vì thế, tăng cổ tức là một tín hiệu có độ tin cậy cao hơn và
ràng buộc trách nhiệm của nhà quản lý công ty nhiều hơn các tín hiệu khác.
Mặc dù quan điểm này vẫn còn nhiều tranh cãi nhƣng có một điểm mà
các nhà đầu tƣ không nhận thấy rõ ràng, đó là việc cắt giảm cổ tức nói chung
sẽ gây ra phản ứng tiêu cực trên TTCK. Tuy nhiên, mức độ ảnh hƣởng còn
phụ thuộc vào kỳ vọng của các nhà đầu tƣ. Chẳng hạn nhƣ khi IBM công bố
giảm 55% cổ tức vào ngày 26/1/1993 thì giá cổ phiếu IBM lại tăng nhẹ, điều 13
này là do việc giảm cổ tức đã đƣợc dự đoán và phản ánh vào giá cổ phiếu từ
trƣớc đó. Giá cổ phiếu của IBM giảm mạnh từ trƣớc đó 1 tháng, khi IBM
tuyên bố rằng công ty đang cân nhắc về việc cắt giảm cổ tức. Cũng có trƣờng
hợp mức cổ tức tăng nhƣng không cao nhƣ dự kiến làm cho giá cổ phiếu giảm
vì các nhà đầu tƣ cho rằng dòng thu nhập trong tƣơng lai của công ty sẽ thấp
hơn mong đợi.

quyết định trả cổ tức thì điều đó chứng tỏ việc trả cổ tức mang lại một số lợi
ích cho cổ đông. Các lợi ích đó bao gồm: Việc trả cổ tức có lợi cho những cổ
đông đang cần thu nhập và tránh cho họ khỏi việc phải bán cổ phiếu và chịu
phí môi giới; Giúp các cổ đông đánh giá đƣợc rủi ro của công ty, nhất là khi
công ty do trả cổ tức cao phải huy động vốn từ bên ngoài. Điều này sẽ phần
nào làm giảm sự bất đối xứng về thông tin giữa nhà quản lý công ty và các cổ
đông.
Với một mức thuế nhất định, chính sách cổ tức cũng tác động khác
nhau đến từng nhóm các nhà đầu tƣ. Các nhà kinh tế chia các nhà đầu tƣ làm
ba nhóm: Nhóm một là những ngƣời thích cổ tức; Nhóm hai là những ngƣời
bàng quan với cổ tức; Nhóm ba là những ngƣời không thích cổ tức. Các cổ
phiếu trả cổ tức cao sẽ thu hút những ngƣời thích cổ tức, chẳng hạn nhƣ các
nhà đầu tƣ có tổ chức ở Mỹ, vì họ chỉ phải chịu thuế đối với 30% cổ tức nhận
đƣợc từ một công ty khác, hoặc thu hút những nhà đầu tƣ cá nhân có mức
thuế thu nhập thấp. Ngƣợc lại, những cổ phiếu trả cổ tức thấp sẽ thu hút
những ngƣời không thích cổ tức, ví dụ nhƣ nhà đầu tƣ cá nhân phải chịu mức
thuế thu nhập cao. Khi công ty chọn một chính sách cổ tức nhất định, công ty
sẽ thu hút một nhóm nhà đầu tƣ nhất định. Khi thay đổi chính sách thì công ty
sẽ thu hút nhóm nhà đầu tƣ khác. Giả sử 40% các nhà đầu tƣ thích cổ tức cao,
nhƣng chỉ có 20% các công ty trả mức cổ tức cao. Khi đó, các công ty trả mức 15
cổ tức cao sẽ không đáp ứng đƣợc nhu cầu và giá cổ phiếu của họ sẽ tăng. Kết
quả là các công ty trả cổ tức thấp sẽ chuyển sang trả cổ tức cao, và đến khi số
công ty trả cổ tức cao chiếm 40%, thì thị trƣờng cổ tức cân bằng và lúc này
chính sách cổ tức không ảnh hƣởng đến giá cổ phiếu nữa.
- Thứ hai, tác động của chi phí phát hành và sự pha loãng quyền sở
hữu
Việc trả cổ tức cao cũng có nghĩa công ty phải huy động vốn bên ngoài

khi phải cắt giảm cổ tức.
- Yêu cầu của cổ đông của công ty: Thông thƣờng cổ đông sẽ chọn
công ty có chính sách cổ tức phù hợp với họ. Nếu cổ đông là các cá nhân có
mức thuế thu nhập cao và mong muốn đƣợc nhận lãi vốn thì họ sẽ không chọn
những công ty có tỷ lệ chi trả cổ tức cao và ngƣợc lại.
- Tính thanh khoản và khả năng huy động vốn của công ty: Khối lƣợng
tài sản có tính thanh khoản cao và khả năng huy động vốn trên thị trƣờng tài
chính cũng là yếu tố quyết định mức chi trả cổ tức của công ty. Một công ty
có tốc độ tăng trƣởng nhanh với thu nhập cao có thể không muốn trả cổ tức
cao nếu phần lớn vốn của công ty đƣợc tái đầu tƣ vào các tài sản cố định và
các khoản tài sản lƣu động có tính thanh khoản thấp nhƣ hàng tồn kho và tài
khoản phải thu. Khả năng huy động vốn trên thị trƣờng càng thấp thì càng
khiến công ty muốn giữ thu nhập để tái đầu tƣ thay vì trả cổ tức cho cổ đông.
- Khả năng mất quyền kiểm soát công ty: Nếu các nhà quản lý công ty
e ngại về khả năng mất quyền kiểm soát công ty thì họ sẽ rất ngại phát hành
thêm cổ phiếu mới. Trong trƣờng hợp này thì giữ lại thu nhập để phục vu nhu
cầu đầu tƣ, và do đó duy trì mức cổ tức thấp, là chính sách hợp lý, đặc biệt là
khi tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần của công ty đã ở mức tối đa cho phép. 17
1.2.3. Các chính sách trả cổ tức phổ biến trên thế giới
1.2.3.1. Hai lý thuyết cơ bản về việc xác định mức chi trả cổ tức
Các công ty cổ phần tuỳ theo tình hình kinh doanh và tình hình tài
chính mà có cách lựa chọn chính sách cổ tức khác nhau. Tuy nhiên, các công
ty cổ phần đều dựa vào một trong hai lý thuyết trả cổ tức chủ yếu là lý thuyết
chi trả cổ tức dựa trên phần lợi nhuận còn lại và lý thuyết ổn định cổ tức.
 Lý thuyết chi trả cổ tức dựa trên phần lợi nhuận còn lại (Residual
Dividend Policy)
Theo lý thuyết này thì công ty chỉ tiến hành chi trả cổ tức sau khi đã

tƣ. Do đó, bên cạnh việc xác định mức chi trả cổ tức theo lý thuyết chi trả cổ
tức dựa trên phần lợi nhuận còn lại, công ty còn chi trả cổ tức dựa trên lý
thuyết ổn định cổ tức.

 Lý thuyết ổn định cổ tức (Stability Dividend Policy)
Mục tiêu của lý thuyết ổn định cổ tức là nhằm duy trì cổ tức ở một mức
độ nhất định và chỉ tăng cổ tức lên mức cao hơn khi công ty có thể đạt đƣợc
sự gia tăng lợi nhuận một cách vững chắc, đủ khả năng cho phép tăng cổ tức
và một khi đã tăng cổ tức thì công ty cố gắng duy trì cổ tức ở mức đã định cho
đến khi công ty thấy rõ không thể hi vọng ngăn chặn đƣợc sự giảm sút lợi
nhuận kéo dài trong tƣơng lai.
Nhƣ vậy sự ổn định cổ tức ở đây không có nghĩa là cố định. Điều trƣớc
tiên cần phải thấy là cổ tức đƣợc trả không bị gián đoạn, tiếp đó, mức độ tăng
(hoặc bất đắc dĩ phải giảm) của cổ tức thƣờng không có nhiều sự đột biến nhƣ
tăng giảm lợi nhuận.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status