“VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI” VÀ BI KỊCH VỠ MỘNG CỦA VŨ NHƯ TÔ - Pdf 21



www.hoc360.vn “
VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI

VÀ BI KỊCH
VỠ MỘNG
CỦA VŨ NHƯ TÔ
1. Hồi thứ năm, hồi cuối bi kịch lịch sử VŨ NHƯ TÔ xoay quanh một sự kiện chính:
Sự kiện đốt phá Cửu trùng đài, bắt, giết những người đã sáng tạo ra nó, chôn vùi họ trong
tro tàn Cửu Trùng đài và trong tro tàn của lịch sử một triều đại mục ruỗng của hôn quan
bạo chúa. Bao trùm hồi kịch là một nỗi đau và một niềm hoang mang lớn thấm đượm một ý
vị triết mỹ sâu xa.
Hành động, sự kiện chính của hồi này có thể tóm tắt như sau:
Lợi dụng tình hình rối ren và mâu thuẫn giữa nhân dân, thợ xây đài với Vũ Như Tô
và bạo chúa Lê Tương Dực, Trịnh Duy Sản cầm đầu một phe cánh đối nghịch trong triều
đình đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ thuyền làm phản.

Biết tin có binh biến, bạo loạn trong phủ chúa, nguy hiểm đến tính mạng Vũ Như Tô,
Đan Thiềm hết lời khuyên và giục chàng đi trốn. Nhưng Vũ khăng khăng không nghe vì tự
tin mình “quang minh chính đại”, “không làm gì nên tội” và hi vọng ở chủ tướng An Hòa
Hầu.

Tình hình càng lúc càng nguy kịch. Lê Tương Dực bị giết; đại thần, hoàng hậu, cung
nữ của y cũng vạ lây; Đan Thiềm bị bắt, .… Kinh thành điên đảo.

nghĩa mang tính biểu tượng nghệ thuật cần phải nói đến trước tiên là Cửu Trùng Đài. www.hoc360.vn

Một mặt, Cửu Trùng Đài – như cái tên của nó – là một công trình kiến trúc mà tầm
vóc không thể chỉ tính đếm bằng lượng gỗ cây, đá khối, cho dù đó là những con số nghe
qua cũng đã đủ kinh hoàng (“
hai trăm vạn cây gỗ chất đống cao như núi, toàn những gỗ
quý vô ngần
”,“
hai mươi vạn phiến đá lớn, bốn mươi vạn phiến đá nhỏ, từ Chân Lạp tải ra
”).
Tầm vóc của nó, phải hình dung bằng chính tầm vóc ý tưởng, khát vọng đầy ngạo nghễ của
người sẽ tạo ra nó: một công trình độc nhất vô nhị, vượt xa tất cả những kỳ quan ở Trung
Quốc, An Độ, Chiêm Thành,… và những công trình mà người đời từng biết đến, từng truyền
tụng. Lại là một kỳ quan bền vững, bất diệt. Xây công trình, tác giả của nó không thèm
“tranh tinh xảo” với người, chỉ “
tranh tinh xảo với Hóa công
”! Đó là hiện thân của cái Đẹp,
không phải cái Đẹp nó chung mà là cái Đẹp “siêu đẳng”. Với những nhà kiến trúc tài cao,
đây là dịp thi thố tài năng, thực hiện “mộng lớn”, khẳng định thiên tài kỳ vĩ của mình.
Mặt khác, Đài Cửu Trùng còn là hiện thân cho cái Đẹp xa hoa. Xây nên kỳ quan ấy,
tất nhiên cực kỳ tốn kém, một sự tốn kém không chỉ tính bằng tiền của ngân khố quốc gia,
mà còn phải tính bằng cả mồ hôi, nước mắt và máu nữa. Đánh đổi bằng tất cả những thứ
đó, Đài Cửu Trùng được xây lên với mục đích gì? Chưa biết trong tương lai thế nào, còn
trước mắt, nhất là nhìn từ lợi ích của hôn quân Lê Tương Dực, thì “xây đài” chỉ là để “cho 2. Trong hồi kịch này, Vũ Như Tô - Đan Thiềm, cũng là cặp hình tượng bi kịch mang
tính biểu tượng nghệ thuật cao.
Vũ Như Tô hiện lên như một tính cách bi kịch, vừa bướng bỉnh vừa mềm yếu vừa
kiên định vừa dễ hoang mang.
Nhân vật bi kịch thường mang trong mình không chỉ những say mê khát vọng lớn lao
mà còn mang cả những lầm lạc trong hành động và tư duy của chính nó. Nhưng, không bao
giờ khuất phục hoàn cảnh, nhân vật bi kịch bướng bỉnh vùng lên chống lại và thách thức số
phận.
Tính cách nổi bật nhất của Vũ Như Tô: là tính cách của người nghệ sĩ tài ba, hiện
thân cho niềm khát khao và đam mê sáng tạo Cái Đẹp. Nhưng trong một hoàn cảnh cụ thể
cái đẹp ấy thành ra phù phiếm, nó sang trọng, siêu đẳng, thậm chí, “cao cả và đẫm máu”
như một “bông hoa ác”. Vì thế, đi tận cùng niềm đam mê khao khát ấy Vũ Như Tô tất phải
đối mặt với bi kịch đau đớn của đời mình. Chàng trở thành kẻ thù của dân chúng, thợ
thuyền mà không hay biết.
Cái tài ba được nói đến chủ yếu ở các hồi, lớp trước thông qua hành động của anh
và nhất là lời của các nhân vật khác nói về anh: thiên tài “ngàn năm chưa dễ có một”. Nghệ
sĩ ấy có thể “
sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân, có thể xây những lâu đài cao cả,
nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ
”. Anh “
chỉ vẩy bút là chim hoa đã
hiện trên mảnh lụa thần tình biến hóa như cảnh hóa công
”. Nhưng chính vì quá đam mê
khao khát đắm chìm trong sáng tạo mà Vũ càng dễ xa rời thực tế đời sống; càng sáng suốt
trong sáng tạo nghệ thuật thì càng mê muội trong những toan tính âu lo đời thường. Hồi
thứ V không nói nhiều đến tài năng của nhân vật (chỉ duy nhất có Đan Thiềm nhắc đến),

hành động – khuyên can này.
Ở hồi cuối cả Vũ Như Tô và Đan Thiềm đều lâm vào trạng thái khủng hoảng với một
nỗi đau chung: sự “vỡ mộng” thê thảm. Nhưng diễn biến tâm trạng của họ có chiều hướng
vận động và biểu hiện khác nhau.
Đan Thiềm cũng đau đớn nhận ra thất bại của giấc “mộng lớn” xây Cửu Trùng Đài,
nhưng nhạy bén, sớm sủa, kịp thời hơn Vũ Như Tô. Tâm trí của nàng giờ đây không còn
hướng vào thành bại của việc xây Cửu Trùng Đài mà hướng vào sự sống còn của Vũ Như
Tô, người nghệ sĩ “tài trời” nghìn năm có một. Nàng khẩn khoản khuyên Vũ đi trốn, và thấy
lời khuyên của mình vô hiệu thì hốt hoảng đau đớn tột cùng. Trong mấy lớp liên tiếp của hồi
V, Đan Thiềm đã năm lần bảy lượt khuyên Vũ Như Tô “trốn đi” (15 lần khuyên trốn, điệp
khúc trốn đi, lánh đi, chạy đi vang lên đến 14 lần; 4 lần nàng van lạy phe nổi loạn “tha cho
ông cả”). Điệu bộ nàng “hớt hơ hớt hải” “mặt cắt không còn một giọt máu”. Giọng nàng
“thở hổn hển”, đứt đoạn trong âm vang kinh hoàng điên đảo của bạo loạn chốn cung đình,
trong khi mà chính nàng bị sỉ vả bắt bớ rất bất công, oan nghiệt. Lời nói của nàng khẩn
khoản như đẫm máu và nước mắt (ĐAN THIỀM: –
Tướng quân nghe tôi. Bao nhiêu tội tôi
xin chịu hết. Nhưng xin tướng quân tha cho ông Cả. Ông ấy là một người tài…
). Đến lúc
nhận ra đến cả việc đổi mạng sống của mình để cứu Vũ Như Tô cũng không được nữa thì
Đan Thiềm đành buông lời vĩnh biệt tất cả. (Nàng nói: “
Đài lớn tan tành! Ong Cả ơi! Xin
cùng ông vĩnh biệt!
”, mà không nói: “
Vĩnh biệt ông Cả!
”). Đó cũng là lời vĩnh biệt mãi mãi
Cửu trùng đài, vĩnh biệt một “giấc mộng lớn” trong máu và nước mắt.
Vũ Như Tô, trái lại, vẫn không thể thoát ra khỏi trạng thái mơ màng, ảo vọng của
chính mình. Chàng không thể tin rằng cái việc cao cả mình làm lại có thể bị xem là tội ác,
cũng như không thể tin sự quang minh chính đại của mình lại bị rẻ rúng, nghi ngờ. Sự “vỡ
mộng” của Vũ vì thế đau đớn, kinh hoàng gấp bội so với Đan Thiềm. Nỗi đau ấy bộc lộ


Sắc
(hay là sự bạc bẽo của thân phận nghệ sĩ và giai nhân, được thâu tóm
cô đúc trong chữ
Lụy
).
3. Bằng một ngôn ngữ kịch có tính tổng hợp rất cao, nhất là trong hồi cuối
Vũ Như

, nhà văn đã đồng thời khắc họa tính cách, miêu tả tâm trạng, dẫn dắt hành động, xung
đột kịch rất thành công, tạo nên một bức tranh đời sống bi kịch rất hoành tráng trong nhịp
điệu bão tố của nó.
Nhịp điệu được tạo ra thông qua nhịp điệu của
lời nói – hành động
(nhất là qua khẩu
khí, nhịp điệu, sắc thái
lời nói – hành động
của Đan Thiềm – Vũ Như Tô đối đáp với nhau và
với phe đối nghịch;
qua lời nói – hành động
của những người khác trong vai trò đưa tin,
nhịp điệu “ra”, “vào” của các nhân vật đầu và cuối mỗi
lớp
– các lớp đều ngắn, có những lớp
rất ngắn: chỉ dăm ba lượt thoại nhỏ; những tiếng reo, tiếng thét, tiếng động dội từ hậu
trường phản ánh cục diện, tình hình nguy cập, điên đảo trong các lời chú thích nghệ thuật
hàm súc của tác giả).
Với một ngôn ngữ có tính tổng hợp (kể, miêu tả, bộc lộ…) và tính hành động rất cao
như vậy, người ta dễ dàng hình dung cả một không gian bạo lực kinh hooàng trong một
nhịp điệu chóng mặt: Lê Tương Dực bị Ngô Hạch giết chết, Hoàng hậu nhảy vào lửa tự vẫn

đan Thiềm
”. www.hoc360.vn

Cho đến khi bi kịch hạ màn, người xem vẫn chưa thấy đâu câu trả lời dứt khoát của
tác giả. Nói đúng hơn ông nhường câu trả lời cho người đọc người xem. Mâu thuẫn và tính
không dứt khoát trong cách giải quyết mâu thuẫn này được thể hiện tập trung trong hồi
cuối của vở kịch. Cửu Trùng Đài sụp đổ và bị đốt cháy, nhân dân trước sau vẫn không hiểu
gì việc sáng tạo của nghệ sĩ, không hiểu nổi Đan Thiềm, Vũ Như Tô cũng như “mộng lớn”
của hai nhân vật hiện thân cho tài sắc này. Về phía khác, Đan Thiềm không cứu được Vũ
Như Tô và Họ Vũ vẫn không thể, không bao giờ hiểu được việc làm của quần chúng và của
phe cánh nổi loạn.
Mâu thuẫn mà vở bi kịch nêu lên thuộc loại mâu thuẫn không bao giờ và không ai
giải quyết cho thật dứt khoát, ổn thỏa được, nhất là trong thời đại Vũ Như Tô. Mâu thuẫn
này may ra có thể giải quyết được phần nào thỏa đáng khi mà đời sống vật chất của nhân
dân thật bình ổn, đời sống tinh thần nhu cầu về cái đẹp trong xã hội được nâng cao lên rõ
rệt.
Mặc dầu vậy, chủ đề và định hướng tư tưởng của vở kịch vẫn được phát triển tương
đối sáng tỏ.
Một mặt, trên quan điểm nhân dân, vở kịch lên án bạo chúa tham quan, đồng tình
với việc dân chúng nổi dậy trừ diệt chúng; nhưng mặt khác, trên tinh thần nhân văn, vở kịch
đã ca ngợi những nhân cách nghệ sĩ chân chính và tài hoa như Vũ Như Tô, những tấm lòng
yêu quý nghệ thuật đến mức quên mình như Đan Thiềm.
Đây là chủ đề được thể hiện chủ yếu qua mâu thuẫn thứ hai của vở kịch:
mâu thuẫn


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status