LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng bản thân tôi,
không sao chép từ bất cứ tài liệu nào. Các số liệu đưa ra trong khóa luận là
trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nghiên
cứu nào khác.
Nếu có sự không trung thực nào trong công trình nghiên cứu này, tôi
xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Sinh viên
Nguyễn Thị Phú
1
LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập và nghiên cứu hết sức nghiêm túc, tôi đã hoàn
thành đề tài khóa luận tốt nghiệp “Hôn nhân đồng tính nhìn từ góc độ quyền
con người”. Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc của mình đến Ban chủ nhiệm
khoa Luật đã gợi ý cho tôi lựa chọn đề tài này, cơ sở nơi tôi thực tập cũng như
bạn bè và người thân trong gia đình đã tạo điều kiện để tôi hoàn thiện bài
khóa luận này. Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến
giảng viên Nguyễn Thị Phương Thảo, người đã chia sẻ kinh nghiệm, giúp đỡ
và hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình làm và hoàn thiện khóa
luận này.
Do hạn chế về thời gian và trình độ nghiên cứu, khóa luận này chắc
chắn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy
cô giáo cũng như các bạn sinh viên để giúp tôi có những kinh nghiệm và hoàn
thiện hơn nữa những nghiên cứu sau này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày 10 tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Thị Phú
2
PHẦN MỤC LỤC
2.2.1.1. Các quan điểm về hôn nhân đồng tính ở Việt Nam 30
2.2.1.2. Hôn nhân đồng tính trong quy định của pháp luật Việt Nam 33
2.2.2. Thực trạng về hôn nhân đồng tính ở Việt Nam 37
2.2.3. Một số đánh giá, nhận xét về vấn đề hôn nhân đồng tính ở Việt
Nam 42
3
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM GIẢI QUYẾT HÀI HÒA
VẤN ĐỀ HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH DƯỚI GÓC ĐỘ QUYỀN CON
NGƯỜI VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 44
3.1. Quan điểm của tác giả về hôn nhân đồng tính 44
3.2. Một số kiến nghị nhằm định hướng đối với các quy định của pháp
luật Việt Nam 52
KẾT LUẬN 55
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Giải thích
CEDAW Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với
phụ nữ
CRC Công ước quốc tế về quyền trẻ em
ICCPR Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị
INE Viện Thống kê Quốc gia Tây Ban Nha
iSEE Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường
Là từ viết tắt của cụm từ lesbian, gay, bisexual, và
4
LGBT transgender/transsexual people (những người đồng tính nữ,
người đồng tính nam, lưỡng giới, hoán tính/chuyển đổi giới
tính).
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
nhiều nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của đồng tính. Tuy nhiên đã có
một số công trình nghiên cứu phân tích vấn đề này một cách sâu sắc và toàn
diện dưới góc độ tâm lý học và xã hội học.
Tính đến thời điểm hiện nay, Việt Nam có một số bài viết cũng như
những công trình nghiên cứu về vấn đề hôn nhân đồng tính, trong đó phải kể
đến như: Xu hướng và tác động xã hội của hôn nhân cùng giới: xu hướng thế
6
giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam - TS. Nguyễn Thu Nam – Khoa
Dân số và Phát triển, Viện chiến lược và chính sách y tế, Bộ Y Tế; Hôn nhân
cùng giới: xu hướng thế giới, tác động xã hội và bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam - Tổng hợp tài liệu từ các nghiên cứu khác nhau do Viện nghiên cứu xã
hội kinh tế và môi trường (iSEE) thực hiện với sự đóng góp của nhiều tác giả
và một số tạp chí, công trình nghiên cứu khác.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm sáng tỏ một cách toàn diện,
có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề hôn nhân đồng tính;
phân tích, đánh giá đúng thực trạng những quy định về việc kết hôn đồng
tính, những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng. Trên cơ sở đó, đề xuất hệ
thống các giải pháp hoàn thiện những quy định của pháp luật.
Nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận:
Để đạt được những mục đích trên, tác giả khóa luận đã đặt ra và giải
quyết các nhiệm vụ sau: làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm kết hôn đồng giới,
phân tích làm rõ sự hình thành và phát triển của các quy định của pháp luật về
hôn nhân đồng giới, nghiên cứu, làm rõ các quy định của hôn nhân đồng tính
của một số nước trên thế giới, làm sáng tỏ các quy định của pháp luật hiện
hành và thực tiễn áp dụng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những vấn đề xung quanh hôn
nhân đồng tính: thực trạng hôn nhân đồng tính và những tác động của nó, dư
luận xã hội về hôn nhân đồng tính, quy định của pháp luật Việt Nam và của
về hôn nhân đồng tính ở Việt Nam và quy định của pháp luật Việt Nam về
hôn nhân đồng tính; thực tiễn về hôn nhân đồng tính ở Việt Nam; một số đánh
giá, nhận xét về vấn đề hôn nhân đồng tính ở Việt Nam;
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm giải quyết hài hòa vấn đề hôn nhân
đồng tính dưới góc độ quyền con người và quy định của pháp luật về hôn
nhân đồng tính ở Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của bài khóa luận
Kết cấu của bài khóa luận gồm có 3 chương, 7 tiết, bao gồm:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về hôn nhân đồng tính
1.1. Lý luận chung về quyền con người
1.2. Lý luận chung về đồng tính
8
1.3. Hôn nhân đồng tính nhìn từ góc độ quyền con người.
Chương 2: Thực tiễn về hôn nhân đồng tính
2.1. Hôn nhân đồng tính ở các nước trên thế giới
2.2. Vấn đề hôn nhân đồng tính ở Việt Nam.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm giải quyết hài hòa vấn đề hôn
nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người và quy định của pháp luật
về hôn nhân đồng tính ở Việt Nam hiện nay.
3.1. Quan điểm của tác giả về hôn nhân đồng tính
3.2. Một số kiến nghị nhằm định hướng đối với các quy định của pháp
luật Việt Nam
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH
VÀ QUYỀN CON NGƯỜI
1.1. Lý luận chung về quyền con người
1.1.1. Khái niệm quyền con người
Quyền con người là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định nghĩa
khác nhau. Theo một tài liệu của Liên hợp quốc, có đến gần 50 định nghĩa về
quyền con người đã được công bố. Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc
độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào
nhiên cho rằng quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá
nhân sinh ra đều được hưởng chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của gia đình
nhân loại. Do đó các quyền con người không phụ thuộc vào phong tục, tập
quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ
chức, cộng đồng hay nhà nước nào; và không một chủ thể nào, kể cả các nhà
nước, có thể ban phát hay tước bỏ các quyền con người bẩm sinh, vốn có của
các cá nhân. Học thuyết về quyền tự nhiên được đề cập rất sớm và bởi nhiều
học giả. Từ thời Hy lạp cổ đại, nhà triết học Zeno (333-264 TCN) đã phát
10
biểu rằng, không ai sinh ra đã là một nô lệ hết cả, địa vị nô lệ là do họ bị tước
đoạt tự do vốn có của con người. Tư tưởng này sau đó được nhiều triết gia tái
khẳng định và phát triển, trong đó tiêu biểu nhất là Thomas Hobbes (1588–
1679), John Locke (1632-1704) và Thomas Paine (1731–1809).
Ngược lại với học thuyết về quyền tự nhiên là học thuyết về các quyền
pháp lý, trong đó cho rằng các quyền con người không phải là những gì bẩm
sinh, vốn có một cách tự nhiên mà phải do các nhà nước xác định và pháp
điển hóa thành các quy phạm pháp luật hoặc xuất phát từ truyền thống văn
hóa. Như vậy, theo học thuyết về quyền pháp lý, phạm vi, giới hạn và ở góc
độ nhất định, cả thời hạn hiệu lực của các quyền con người phụ thuộc vào ý
chí của tầng lớp thống trị và các yếu tố như phong tục, tập quán, truyền thống
văn hóa của các xã hội. Ở đây, trong khi các quyền tự nhiên có tính đồng
nhất trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, thì các quyền pháp lý mang tính
chất khác biệt tương đối về mặt văn hóa và chính trị. Tiêu biểu cho tư tưởng
của học thuyết về quyền pháp lý là Edmund Burke trong tác phẩm Suy nghĩ
về Cách mạng Pháp 1770 và Jeremy Bentham, trong tác phẩm Phê phán học
thuyết về các quyền tự nhiên, không thể chuyển nhượng 1843.
Cho đến nay, cuộc tranh luận về tính đúng đắn của hai học thuyết này
vẫn còn tiếp tục. Việc phân định tính chất đúng, sai, hợp lý và không hợp lý
của hai học thuyết này là không đơn giản do chúng liên quan đến một phạm vi
rộng lớn các vấn đề triết học, chính trị, xã hội, đạo đức, pháp lý…Mặc dù vậy,
dựa trên những cơ sở và yêu cầu thực tế của việc bảo đảm các quyền đó chứ
không phải dựa trên sự đánh giá về giá trị của các quyền đó. Ví dụ, trong bối
cảnh dịch bệnh đe dọa hoặc với những người bị bệnh tật, quyền được ưu tiên
12
thực hiện là quyền được chăm sóc y tế. Hoặc ở phạm vi rộng hơn, các Công
ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) và
Công ước về quyền trẻ em (CRC) đặt ra một số quyền ưu tiên cần được bảo
đảm với phụ nữ, trẻ em. Những ưu tiên như vậy không có nghĩa là bởi các
quyền được ưu tiên thực hiện có giá trị cao hơn, mà là bởi các quyền đó trong
thực tế thường bị bỏ qua, có nguy cơ bị đe doạ hoặc bị vi phạm nhiều hơn so
với các quyền khác.
1.1.3.4. Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau
Thể hiện ở chỗ việc bảo đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc một
phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Sự vi phạm một
quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm
các quyền khác, và ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực
tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác.
Thực tế cho thấy, trong hầu hết các trường hợp, rất khó, thậm chí là
không thể thực sự thành công trong việc bảo đảm riêng một quyền con người
nào đó mà bỏ qua các quyền khác. Ví dụ như, để thực hiện tốt các quyền bầu
cử, ứng cử (các quyền chính trị cơ bản), cần bảo đảm một loạt quyền kinh tế,
xã hội, văn hóa khác có liên quan như quyền được giáo dục, quyền được
chăm sóc y tế, quyền có mức sống thích đáng vì nếu không, các quyền bầu
cử, ứng cử rất ít có ý nghĩa với những người đói khổ, bệnh tật hay mù chữ.
1.2. Lý luận chung về đồng tính
Đồng tính luyến ái, hay đồng tính chỉ việc bị hấp dẫn trên phương diện
tình yêu hay tình dục hoặc việc yêu đương hay quan hệ tình dục giữa những
người cùng giới tính với nhau trong hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dài.
Đồng tính luyến ái cũng chỉ nhận thực của cá nhân dựa trên những hấp dẫn đó
và sự tham gia vào một cộng đồng có chung điều này. LGBT là từ viết tắt của
Người đồng tính không phải là những người chuyển giới, mà những
người chuyển đổi giới tính được công nhận giới tính của họ. Chuyển đổi giới
tính chỉ những thủ tục y khoa dùng để thay đổi giới tính của một người trong
đó có thể bao gồm phẫu thuật chuyển đổi giới tính hay không. Người chuyển
14
đổi giới tính là người đã được chuyển đổi giới tính. Do đó thuật ngữ này
không hoàn toàn đồng nhất với thuật ngữ transexual trong tiếng Anh dùng để
chỉ những người có cảm nhận rằng mình có giới tính khác với giới tính bẩm
sinh của mình bất kể rằng người này có thực hiện chuyển đổi giới tính hay
không.
Chưa có một kết luận khoa học nào xác đáng về đồng tính là do bẩm
sinh, di truyền. Người đồng tính xuất hiện ở mọi nền văn hóa, mọi tầng lớp,
làm việc bình thường trong mọi ngành nghề và chiếm tỉ lệ ổn định từ 3%-5%
dân số. Các nghiên cứu khoa học đều khẳng định đồng tính không phải là
bệnh mà là một xu hướng tính dục tự nhiên như xu hướng dị tính và song
tính.
Đối với vấn đề hôn nhân đồng tính, hiện nay vẫn chưa có một nguồn
chính thống nào nói về hôn nhân đồng tính, tuy nhiên, hiểu một cách khái
quát thì hôn nhân đồng tính là hôn nhân của hai người có cùng giới tính sinh
học hoặc giới tính xã hội được chấp nhận về mặt luật pháp hay xã hội. Nói
cách khác, hôn nhân đồng tính là việc xác lập quan hệ vợ chồng giữa hai
người đều là nam hoặc đều là nữ.
Theo nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, đồng tính có thể xếp thành 3
nhóm:
+ Nhóm thứ nhất là do bẩm sinh, di truyền, rối loạn nhiễm sắc thể gồm
46 xxy hoặc 46 xo. Do mẹ khi mang thai dùng thuốc hoocmon dẫn đến bộ
phận sinh dục của con khi sinh ra bất thường. Những đứa trẻ này sinh ra
chúng không biết rõ mình là giới tính nào.
Những nhóm người này, nên được gia đình quan tâm và phát hiện sớm
nhờ y học quan tâm giúp đỡ, can thiệp như: Phẫu thuật tiết niệu, sinh dục…
Theo truyền thống chung dựa trên các nền văn hóa thì quan niệm đồng
tính và sinh hoạt đồng tính luôn được coi là quan niệm và sinh hoạt bất bình
thường, bệnh hoạn. Tâm lý và tâm thần học cũng xếp xu hướng và hành động
đồng tính vào danh sách bệnh lý. Không những thế, xét về mặt luân lý và đạo
đức khuynh hướng và hành động này còn được coi như một trọng tội.
16
Tuy nhiên, do ảnh hưởng của nền văn minh hiện đại, và do những tư
duy đổi mới, phóng khoáng hiện nay, theo sau quyết định của Hiệp Hội Các
Nhà Tâm Thần Học vào năm 1973, năm 1975 Hiệp Hội Các Nhà Tâm Lý Học
Hoa Kỳ cũng đã loại khỏi danh sách tâm bệnh những suy nghĩ và hành động
đồng tính. Như vậy, từ sau năm 1975 cả tâm thần học và tâm lý học không
còn xếp quan niệm và hành động đồng tính trong danh sách những hội chứng
tâm bệnh hay tâm lý nữa. Sau đó, năm 1990 Cơ Quan Y Tế Thế Giới cũng
công nhận rằng đồng tính không phải là “bệnh”. Và gần đây nhất năm 2001,
Hiệp Hội Các Nhà Tâm Thần Học Trung Hoa cũng đã loại bỏ đồng tính khỏi
danh sách tâm bệnh.
Trong cộng đồng xã hội, người đồng tính cũng là Con Người, như mọi
Con Người khác, cũng không nên nói là Con Người bình thường hay Con
Người dị thường. Như vậy, họ có mọi quyền và nghĩa vụ làm Người như mọi
người khác. Tổ chức Y tế Thế giới coi họ là một nhóm người, nhưng không
có nghĩa là Tổ chức này đặt họ là một nhóm đối lập với “nhóm” còn lại là
những người có tình yêu và tình dục khác giới. Hơn nữa, người đồng tính
cũng là công dân, họ có mọi quyền và nghĩa vụ của một công dân theo quy
định của pháp luật. Do đó, họ cũng có những quyền bình đẳng như mọi công
dân khác.
Quyền bình đẳng, vừa là một quyền, vừa là một nguyên tắc của Luật
Nhân quyền Quốc Tế. Mọi cá nhân, không phân biệt giới tính, tôn giáo, sắc
tộc, địa vị đều được quyền đó, trong mọi lĩnh vực của đời sống, kể cả lĩnh vực
hôn nhân. Tuy vậy, cho đến nay, do chịu sự chi phối của yếu tố truyền thống
nên Luật Nhân quyền Quốc Tế dường như chưa thể được vận dụng để bảo vệ
quan hệ được thừa nhận (ví dụ như hôn nhân) là chuẩn mực. Quan hệ đồng
giới về mặt tình cảm hoặc tình dục đôi khi cũng được xét tới. Vài tôn giáo đặc
biệt là các tôn giáo Abraham lên án hành vi và quan hệ đồng tính luyến ái,
nhiều trường hợp trừng phạt rất nặng. Từ thập niên 1970, nhiều nơi trên thế
giới bắt đầu công nhận quan hệ đồng giới giữa những người đủ tuổi. Thống kê
18
về thái độ toàn cầu năm 2003 của Trung tâm nghiên cứu Pew cho thấy Châu
Phi và Trung Đông chống đối đồng tính một cách mạnh mẽ. Trong khi người
ở Mỹ Latin như Mexico, Argentina, Bolivia và Brasil thì cởi mở hơn rất
nhiều. Quan niệm ở châu Âu thì nằm giữa phương Tây và phương Đông. Đa
số các nước Tây Âu trong cuộc thăm dò cho rằng xã hội nên chấp nhận đồng
tính trong khi người Nga, người Ba Lan và người Ukraina phản đối. Người
Mỹ thì chia làm hai nhóm: 51% ủng hộ và 42% phản đối.
Như vậy có thể thấy hiện nay hiện tượng đồng giới hầu như đã rất phổ
biến ở tất cả các nước trên thế giới. Tuy nhiên, vấn đề hôn nhân đồng giới vẫn
còn nhiều tranh cãi và ở mỗi nước khác nhau lại có những quy định khác
nhau, tùy thuộc vào vấn đề đạo đức, thuần phong mỹ tục cũng như mức độ
tiếp cận vấn đề của mỗi quốc gia.
2.1.2. Một số quy định của pháp luật của các nước trên thế giới về
hôn nhân đồng tính
* Ở khu vực Trung Đông:
Vốn tập trung nhiều nước đạo Hồi, đồng tính luyến ái bị pháp luật cấm
nghiêm khắc. Duy nhất ở Israel, quyền của người đồng tính được pháp luật hỗ
trợ. Israel là nước có tỉ lệ ủng hộ hôn nhân đồng giới cao nhất thế giới với
61% người dân ủng hộ.
* Ở các nước Châu Âu:
Mặc dù đồng tính luyến ái đã không còn bị coi là phạm pháp nhiều nơi
ở phương Tây, chẳng hạn như Ba Lan 1932, Đan Mạch 1933, Thụy Điển
1944 và Anh 1967, cộng đồng đồng tính vẫn chưa có quyền hợp pháp dẫu chỉ
là hạn chế cho đến giữa những năm 70. Một bước ngoặt quan trọng là vào
quốc gia khác, những người cùng giới có thể kết hợp dân sự với nhau.
Bỉ: Tháng 1/2003, Bỉ là quốc gia thứ hai thừa nhận hôn nhân loại này.
Các cặp đôi đồng tính có mọi quyền như các cặp vợ chồng bình thường, trừ
quyền nhận con nuôi. Tuy nhiên, phải 3 năm sau, sự hạn chế đó mới được gỡ
bỏ.
Tây Ban Nha: Bất chấp những ý kiến phản đối mạnh mẽ từ phía nhà
thờ thiên chúa La Mã, Tây Ban Nha trở thành quốc gia thứ ba chấp nhận hôn
nhân giữa những người cùng giới tính, bao gồm cả quyền nhận con nuôi.
20
Hôn nhân đồng giới ở Tây Ban Nha được hợp pháp hóa từ ngày 3 tháng
7 năm 2005. Năm 2004, chính phủ dân chủ xã hội vừa được bầu cử, được dẫn
dắt bởi Thủ tướng José Luis Rodríguez Zapatero, bắt đầu chiến dịch hợp pháp
hóa hôn nhân đồng tính bao gồm quyền nhận con nuôi của các cặp đồng tính.
Sau nhiều tranh luận, luật cho phép hôn nhân đồng tính được Quốc hội Tây
Ban Nha thông qua vào ngày 30 tháng 6 năm 2005 và công bố vào ngày 2
tháng 7 năm 2005. Hôn nhân đồng tính bắt đầu hợp pháp từ Chủ nhật, ngày 3
tháng 7 năm 2005. Tây Ban Nha trở thành quốc gia thứ ba trên thế giới hợp
pháp hóa hôn nhân đồng tính theo sau Hà Lan và Bỉ và trước Canada 17 ngày.
Không những cho phép những người đồng tính trong nước kết hôn với
nhau, luật này còn cho phép một công dân Tây Ban Nha cưới một người
ngoại quốc bất kể đất nước của người đó có cho phép hay không. Ít nhất một
trong hai người phải là công dân Tây Ban Nha, hai người ngoại quốc có thể
cưới nhau nếu họ định cư hợp pháp tại Tây Ban Nha.
Tiếp sau đó, một số quốc gia khác cũng coi hình thức hôn nhân này là
hợp pháp, bao gồm Nam Phi (quốc gia đầu tiên ở châu Phi), Na Uy, Thụy
Điển, Bồ Đào Nha, Iceland, Argentina và New Zealand.
Mặc dù đến năm 2005, luật pháp Canada mới chính thức công nhận hôn
nhân giữa các cặp gay (lesbian), nhưng đám cưới đầu tiên giữa hai người
Canada đồng giới đã diễn ra còn trước cả khi Hà Lan thông qua đạo luật này.
Theo chân các quốc gia trên, nước Anh cũng đồng ý cho các cặp đồng
nỗ lực chống lại mọi sự dị biến hôn nhân khác giới. Những dị biến như thế
làm mất ổn định tính tự nhiên của hôn nhân, che lấp bản chất vốn có của hôn
nhân và làm phai nhạt vai trò quan trọng của nó đối với xã hội. Nguyên tắc
hôn nhân này không phải là chân lý đức tin mà đơn giản là hệ quả tất yếu của
quyền tự do tôn giáo, thể hiện bản chất của con người và là một thành quả
phát triển của nhân loại". Giáo hoàng tiếp tục quan điểm này khi cho rằng,
hôn nhân đồng tính cấu thành hành vi chống lại sự thật bản chất của con
người. Thái độ chống lại hôn nhân đồng tính của Vatican càng ngày càng kiên
quyết. Một nỗ lực không mệt mỏi của Vatican nhằm cố gắng thức tỉnh Hoa
Kỳ và một loạt các nước châu Âu đang nỗ lực công nhận hôn nhân đồng tính
trong thời gian qua.
Bên cạnh nhiều nước chấp nhận hôn nhân đồng tính thì hiện nay đồng
tính luyến ái có thể bị xử tội chết ở 8 nước là: Iran, Mauritania, Nigeria,
22
Pakistan, Saudi Arabia, Sudan, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, và
Yemen.
* Ở Châu Phi:
Ở một số quốc gia tại Châu Phi, đồng tính luyến ái được xem như một
lối sống xấu xa, những người đồng tính bị khinh bỉ, dè bỉu và có thể mất
mạng. Tuy nhiên, trong số rất nhiều quốc gia ở Châu Phi thì chỉ có quốc gia
tân tiến nhất châu Phi là Nam Phi cho phép hôn nhân đồng tính. Vào năm
2005, cả hai Nghị Viện của Nam Phi đã đồng ý công nhận đám cưới đồng
tính.
* Ở các nước Châu Á:
Thực tế, châu Á bảo thủ hơn nhiều so với châu Âu và châu Mỹ. Tính
tới năm 2012, không có quốc gia Châu Á nào công nhận hôn nhân đồng tính
hoặc đăng ký sống chung. Ở nhiều quốc gia, vấn đề chính không phải là liệu
các cặp gay có được cưới nhau hợp pháp hay không, mà là liệu họ có được
quyền sống mà không sợ bị ngược đãi hay không.
Ở một số quốc gia đạo Hồi châu Á, đồng tính không chỉ là bất hợp
Ở những quốc gia Hồi giáo như Indonesia đã ban hành luật cấm nghiêm
khắc chống lại người đồng tính. Quan hệ tình dục đồng tính có thể bị phạt 20
năm tù và bị đánh roi ở Malaysia. Còn ở Singapore, quan hệ tình dục đồng
tính nam là bất hợp pháp tuy nhiên luật này thường không được thực thi.
Tại Ấn Độ, hôn nhân đồng tính vẫn chưa được chấp thuận, mặc dù năm
ngoái, một phiên tòa ở vùng Gurguon đã chính thức thừa nhận việc kết hôn
của một cặp lesbian.
Còn tại Việt Nam, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 hiện hành
đang có quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính. Tuy nhiên,
Bộ Tư pháp vẫn đang trong quá trình nghiên cứu sửa đổi luật hôn nhân và gia
đình, trong đó vấn đề kết hôn đồng tính đang được xem xét một cách thấu đáo
trên nhiều phương diện.
2.1.3. Thực trạng hôn nhân đồng tính ở các nước trên thế giới
Trong tình hình phát triển kinh tế chung toàn cầu, việc tiếp xúc và ảnh
hưởng của các nền văn hóa giữa các nước trên thế giới cũng là một xu thế tất
yếu, trong đó có cả hiện tượng hôn nhân đồng tính. Theo sau sự mở cửa của
khoa tâm thần và tâm lý học, những người đồng tính như vùng lên, đặc biệt là
trong những thập niên gần đây họ đã tiến xa hơn về việc đòi quyền được kết
hôn.
24
Hôn nhân đồng tính đến nay vẫn đang còn là một vấn đề hết sức phức
tạp và nhạy cảm đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tính tới năm 2012,
trong tổng số 207 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, có 11 quốc gia chấp
nhận hôn nhân đồng tính, công nhận việc để hai người cùng giới gọi nhau là
vợ – chồng. Đám cưới đồng tính cho đến nay vẫn còn là vấn đề gây nhiều
tranh cãi trên toàn thế giới. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều đám cưới đồng
tính đã diễn ra, bao gồm cả những nước cho phép hôn nhân đồng tính và
những nước chưa cho phép hôn nhân đồng tính.
Ở các nước sau khi chấp nhận hôn nhân đồng tính, hàng loạt các đám
cưới đồng tính đã diễn ra: