Những luận cứ về khấu hao tài sản cố định - Pdf 21

Lời nói đầu
Từ trớc đến nay việc tính và trích khấu hao TSCĐ luôn là một vấn đề bức
xúc. Tính khấu hao TSCĐ ngoài việc phân bổ phần khấu hao trích vào chi phí kinh
doanh của doanh nghiệp thì khấu hao TSCĐ còn là cơ sở để tính thuế thu nhập
doanh nghiệp. Việc quản lý sử dụng và trích khấu hao TSCĐ nh thế nào luôn là
vấn đề đợc bàn tới trong các doanh nghiệp. Làm sao quy định mức khấu hao và tỉ
lệ khấu hao cụ thể cho từng loại TSCĐ để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phân bổ
giá trị hao mòn TSCĐ vào trong chi phí kinh doanh trong doanh nghiệp là hợp lý
nhất. Hơn nữa khấu hao TSCĐ nói chung khấu hao cơ bản nói riêng hình thành
nên một bộ phận quỹ của doanh nghiệp, nó liên quan đến quá trình tái sản xuất,
TSCĐ là tiềm năng vốn khá lớn trong doanh nghiệp cần đợc quan tâm, nhằm
khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng và sử dụng có hiệu quả. Tăng cờng tính
chủ động sáng tạo trong việc sử dụng quỹ khấu hao, chống lại tác động của hao
mòn hữu hình và vô hình. Chính vì vậy ngày 30/12/1999 Bộ Tài chính ra Quyết
định số 166 QĐ/BTC về chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ. Việc
hiểu rõ về chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ là rất quan trọng. Điều
đó giúp cho doanh nghiệp tận dụng đợc mọi tiềm lực sẵn có của mỗi TSCĐ mà
doanh nghiệp đầu t. Vì vậy trong bài viết này em xin đa ra một cách nhìn nhận về
vấn đề khấu hao TSCĐ. Với chủ đề bài viết là:
Những luận cứ về khấu hao TSCĐ
Vấn đề về khấu hao TSCĐ đợc rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Với
những tài liệu thu thập đợc cùng với những kiến thức về lý thuyết hạch toán kế
toán đã đợc học. Em xin đánh giá về vấn đề này theo cách riêng của mình nhằm
mục đích giúp ngời quan tâm đến khấu hao TSCĐ hiểu rõ hơn về tính tất yếu của
khấu hao TSCĐ và các quy định, công cụ quản lý khấu hao TSCĐ hiện nay.
Bài viết này đợc chia là 3 chơng:
Chơng I: Những vấn đề lý luận cơ bản về khấu hao TSCĐ
Chơng II: Hạch toán khấu hao TSCĐ
Chơng III: Thực trạng ở Việt Nam hiện nay - Giải pháp kiến nghị.
Do khả năng và trình độ có hạn nên không thể tránh khỏi những sai sót. Em
rất mong nhận đợc sự đánh giá, góp ý của thầy để bài viết đợc hoàn thiện.

độc lập.
2
Đó là tính tất yếu và khách quan. TSCĐ tồn tại trong mối liên hệ qua lại hữu
cơ với các hình thái vật chất và phi vật chất khác tạo thành một hệ thống các tác
động qua lại giữa chúng. Sự thay đổi của hệ thống tác động qua lại tất yếu dẫn đến
sự thay đổi của bản thân TSCĐ và trong những điều kiện thích hợp còn làm cho
TSCĐ mất đi và biến thành sự vật khác. Lênin đã ghi nhận: Muốn thực sự hiểu đ-
ợc sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối
liên hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó. Thông qua phản ánh là một thuộc
tính của vật chất, một nguyên tắc nền tảng của phơng pháp duy vật biện chứng để
thể hiện sự thay đổi của bản thân TSCĐ. Sự hao mòn của TSCĐ là sự phản ánh sự
vận động và biến đổi của TSCĐ trong quan hệ hữu cơ với các hình thái vật chất
khác. Hao mòn thể hiện sự giảm dần giá trị của TSCĐ trong quá trình sử dụng do
tham gia vào quá trình kinh doanh, bị ăn mòn hoặc do tiến bộ của khoa học kỹ
thuật làm TSCĐ bị lạc hậu. Do đó hao mòn TSCĐ là một phạm trù mang tính
khách quan, muốn xác định giá trị hao mòn của một TSCĐ thì cơ sở có tính khách
quan nhất là thông qua giá cả trên thị trờng, tức là phải so sánh giá cả của TSCĐ
cũ với TSCĐ mới cùng loại. Tuy nhiên TSCĐ đợc đầu t mua sắm để sử dụng lâu
dài cho quá trình kinh doanh nên không thể xác định giá trị hao mòn nh thế đợc.
Nhận thức đợc hao mòn có tính khách quan nh vậy nên khi sử dụng TSCĐ
các doanh nghiệp phải tính toán và phân bố lại một cách có hệ thống nguyên giá
của TSCĐ vào chi phí kinh doanh trong từng kỳ hạch toán và đó là khấu hao
TSCĐ. Mục đích của việc tính khấu hao TSCĐ là hết sức cần thiết, thông qua khấu
hao doanh nghiệp có thể biết chính xác về chi phí sử dụng TSCĐ và thu hồi vốn để
tái đầu t TSCĐ khi chúng bị hỏng hóc. Nh vậy khấu hao TSCĐ là một hoạt động
trong quá trình sử dụng. Giữa hao mòn và khấu hao có mối quan hệ biện chứng,
đó là mối quan hệ giữa chất và lợng đó là sự biến đổi lợng thành chất và ngợc lại
TSCĐ dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chúng vận động không ngừng và
thờng xuyên nên mọi sự biến hoá đều là sự đổi lợng thành chất, là kết quả của sự
biến đổi về lợng của số lợng vận động - vận động bất kỳ dới hình thức nào - sở

TSCĐ cho dễ dàng trong công việc hạch toán và quản lý TSCĐ cũng nh dễ dàng
cho việc tính và quản lý khấu hao TSCĐ thì ta xét TSCĐ theo hình thái mà nó biểu
hiện. Theo hình thái biểu hiện TSCĐ đợc phân chia ra làm hai loại đó là TSCĐ
hữu hình và TSCĐ vô hình. Theo các khái niệm chung nhất thì TSCĐ hữu hình là
những t liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất (từng đơn vị tài sản có kết cấu
độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực
hiện một hay một số chức năng nhất định) có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu
dài, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhng vẫn giữ nguyên đợc hình thái vật
chất ban đầu. Còn TSCĐ vô hình là những TSCĐ nhng không có hình thái vật
chất, thể hiện một lợng giá trị đã đợc đầu t có liên quan trực tiếp đến nhiều kỳ kinh
doanh của doanh nghiệp. Những quyền lợi về TSCĐ vô hình mà ngời chủ tài sản
đợc hởng có thể đợc chứng minh một cách hữu hình bằng các hoá đơn, khế ớc
hoặc các văn kiện liên hệ khác. Giá trị của TSCĐ tuỳ thuộc vào những quyền lợi
hoặc lợi ích mà tài sản đó đóng góp và phần lợi tức của doanh nghiệp khi nó đợc
sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải
4
ớc tính khả năng có thể đem lại lợi ích kinh tế trong tơng lai của mỗi TSCĐ nào
đều phải có giá trị của nó: đó là nguyên giá TSCĐ. Nguyên giá TSCĐ chính là cơ
sở để tính khấu hao của tài sản thông qua thời gian sử dụng của nó. Vậy nguyên
giá TSCĐ chính là toàn bộ các chi phí thực tế đã chi ra để có TSCĐ cho đến khi đa
TSCĐ đi vào hoạt động bình thờng nh giá mua thực tế của TSCĐ, các chi phí vận
chuyển bốc dỡ thuế và lệ phí trớc bạ (nếu có),...
Hiểu rõ về TSCĐ tính toán chính xác nguyên giá TSCĐ không những rất tiện
lợi trong công việc bảo quản, sử dụng tài sản đó trong doanh nghiệp mà nó còn là
cơ sở để việc tính và trích khấu hao TSCĐ đợc đúng đắn, chính xác. Nguyên giá
TSCĐ là căn bản tính khấu hao. Tuy nhiên thực tế nguyên giá TSCĐ thờng không
ổn định do những nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan mang lại. Chúng có thể
bị hao mòn về vật chất, lạc hậu về kỹ thuật và hỏng hóc trong quá trình sử dụng.
Những chi phí để tân trang lại một phần cũng đợc tính vào nguyên giá TSCĐ.
2. Vai trò của khấu hao TSCĐ.

phù hợp với khả năng trang trải chi phí của từng doanh nghiệp.
3. Những quy định chung về trích khấu hao TSCĐ.
Cũng nh thông lệ của các nớc trên thế giới việc trích khấu hao TSCĐ đợc tính
toán trên cơ sở có hệ thống trong một thời gian hữu dụng của nó: đó là khoảng
thời gian doanh nghiệp dự kiến sử dụng TSCĐ vào mục đích hoạt động kinh doanh
trong điều kiện bình thờng, phù hợp với các thông số kỹ thuật, kinh tế của TSCĐ
và các tiêu thức khác có liên quan. Thông thờng thời gian sử dụng của TSCĐ đợc
xác định theo tiêu thức nh: tuổi thọ kỹ thuật của TSCĐ theo thiết kế, hiện trạng
TSCĐ,... tuổi thọ kinh tế của TSCĐ,... Tuy nhiên đối với TSCĐ vô hình có những
nét đặc thù riêng nên việc xác định thời gian sử dụng phải dựa theo những quy
định và chế độ của luật pháp ban hành là từ 5 đến 40 năm. Đối với những TSCĐ
vô hình vô hạn định về thời gian hữu ích thì không trích khấu hao trong thời gian
sử dụng. Còn với những TSCĐ vô hình có thời gian hữu ích hạn định thì việc trích
khấu hao đợc tính nh khấu hao TSCĐ hữu hình khác.
a. ở Việt Nam : theo văn bản hiện hành của Bộ Tài chính (Quyết định số 166
QĐ/BTC ra ngày 30/12/1999) về chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ
đợc áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp ở Việt Nam và tuỳ từng loại hình doanh
nghiệp mà chế độ này là bắt buộc hay hớng dẫn thì đợc quy định nh sau:
- Thời gian sử dụng của từng TSCĐ của doanh nghiệp đợc thống nhất trong
năm tài chính đúng theo quy chế hiện hành và đó là cơ sở để xác định chi phí tính
thuế thu nhập doanh nghiệp. Và nếu có sự thay đổi so với chế độ đã ban hành thì
doanh nghiệp phải giải trình rõ căn cứ để xác định thời gian sử dụng của TSCĐ Bộ
Tài chính sẽ xem xét và quyết định trờng hợp đặc biệt (nh: nâng cấp hay tháo dỡ
một hay một số bộ phận của TSCĐ) thì doanh nghiệp phải lập biên bản nêu rõ các
căn cứ làm thay đổi thời gian sử dụng và đăng ký lại thời gian sử dụng với cơ quan
tài chính quản lý trực tiếp. Đối với TSCĐ hình thành bằng vốn vay và kết quả hoạt
6
động kinh doanh của doanh nghiệp không bị lỗ thì đợc phép xác định thời gian sử
dụng TSCĐ theo thời gian trong khế ớc vay, nhng tối đa không đợc giảm quá 30%
so với thời gian sử dụng tối thiểu của TSCĐ đã đợc quy định trong Quyết định

ở Việt Nam hiện nay theo quy định của Bộ Tài chính thì doanh nghiệp phải trích
khấu hao theo phơng pháp đờng thẳng hay phơng pháp khấu hao bình quân.
7
Theo phơng pháp này mức khấu hao hàng năm của một TSCĐ đợc tính theo
công thức:
= x
= x 100
Tuy nhiên công thức trên chỉ áp dụng để tính tổng mức khấu hao TSCĐ khi
doanh nghiệp mới bớc vào hoạt động hoặc tính khấu hao của những TSCĐ mới
tăng, giảm trong kỳ. Thông thờng việc tính tổng khấu hao TSCĐ trong một tháng
nào đó đợc dựa vào tổng mức khấu hao của tháng trớc đó:
= + -
b. Theo quy định quốc tế:
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế về TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình là IAS
16 và IAS 18.
Theo IAS 16 và IAS 18 yêu cầu một bất động sản nhà nởng đất đai, một tài
sản vô hình phải đợc khấu hao trên cơ sở có hệ thống trong một thời gian hữu
dụng của tài sản. Các phơng pháp bao gồm: phơng pháp khấu hao theo đờng
thẳng, khấu hao theo số d giảm dần và phơng pháp khấu hao theo đơn vị sản
phẩm. Phơng pháp khấu hao sử dụng phản ánh cách thức các lợi ích kinh tế của tài
sản đó mà doanh nghiệp thu đợc và đợc áp dụng thống nhất qua các thời kỳ, trừ
khi có một thay đổi cách thức giả định về việc tận dụng các lợi ích kinh tế phát
sinh từ tài sản đó. Nếu cách thức đó không thể xác định một cách chắc chắn đợc
thì doanh nghiệp sẽ khấu hao theo phơng pháp đờng thẳng. Nhìn chung chuẩn mực
quốc tế thờng không đi sâu vào một vấn đề cụ thể mà mang tính bình diện chung,
phù hợp với mọi đối tợng áp dụng, nên các quy định đa ra trên đây không thể áp
dụng hoàn toàn vào tình hình nớc ta đợc. Đơn cử việc sử dụng phơng pháp khấu
hao ở Việt Nam hiện nay thì chỉ sử dụng phơng pháp đờng thẳng để tính, đôi khi
tạo ra sự cứng nhắc trong khi áp dụng theo thông lệ quốc tế thì việc sử dụng phơng
pháp nào ở doanh nghiệp là tuỳ thuộc những việc sử dụng phơng pháp đó phải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status