54 Giải pháp hoàn thiện hệ thống chế độ kế toán doanh nghiệp - Pdf 21

- 1 -

CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP

1.1/- Tổng quan về kế toán
1.1.1- Đònh nghóa kế toán:
Từ khi được phôi thai hình thành cho đến nay đã có rất nhiều đònh nghóa về kế
toán tùy theo từng giai đoạn phát triển của lòch sử kinh tế xã hội, tùy theo điều kiện
môi trường pháp lý của từng quốc gia. Tham khảo về kế toán, đã có nhiều tác giả hay
tổ chức đề cập đến đònh nghóa về kế toán như sau:
• Trong thời kỳ còn phôi thai, người ta quan niệm kế toán là một phương tiện tính
toán và phân tích kết quả về những sự giao dòch liên quan đến tiền bạc của tư nhân, tập
thể và các phương pháp theo dõi diễn biến của giao dòch ấy.
• Một số đònh nghóa hiện đại về kế toán được hiểu rộng hơn :
ß Theo đònh nghóa của Viện kế toán công chứng Hoa Kỳ (AICPA) năm 1970:
"Kế toán là quá trình nhận diện, đo lường và truyền đạt thông tin kinh tế để cho phép
người sử dụng thông tin đó đánh giá và ra quyết đònh". Đònh nghóa này hướng vào đối
tượng sử dụng thông tin kế toán và chức năng của kế toán.
Nhìn chung, quan điểm hiện đại trên cho rằng không nên nhầm lẫn giữa việc ghi
sổ kế toán với kế toán. Ghi sổ với công việc kỹ thuật đơn thuần là việc ghi chép các
thông tin về quá trình hoạt động kinh doanh của đơn vò. Kế toán ngoài công việc ghi sổ
còn bao gồm các chức năng khác, người làm công việc kế toán còn phải phân tích, diễn
giải các thông tin tài chính, lập các báo cáo tài chính, thực hiện kiểm toán, thiết lập hệ
thống kế toán, lập kế hoạch dự báo và cung cấp các dòch vụ về kế toán- kiểm toán-
thuế.
- 2 -

ß Theo đònh nghóa của Việt Nam:
; Theo Điều lệ Tổ chức kế toán nhà nước ban hành theo quyết đònh số
25/HĐBT ngày 18/03/1989 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) : "Đối với Nhà

nắm được các thông tin kinh tế cần thiết về hoạt động của doanh nghiệp (tình hình sản
nghiệp, công nợ, vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh . . . ); các
thông tin kinh tế liên quan chặt chẽ đến lợi ích kinh tế của doanh nghiệp (thông tin thò
trường, giá cả, khả năng cung cấp nguyên vật liệu, vật tư, hàng hóa, sức mua của thò
trường về sản phẩm, hàng hóa mà doanh nghiệp sản xuất kinh doanh . . .); hoặc các
thông tin về hoạt động kinh tế tài chính của một số tổ chức để có những quyết đònh
kinh tế đúng đắn và có hiệu quả.
Những thông tin nói trên do nhiều nguồn cung cấp, nhưng khả năng cung cấp
những thông tin này một cách đầy đủ nhất, toàn diện, kòp thời, đáng tin cậy đó là thông
tin của kế toán. Đối với doanh nghiệp, thông tin kế toán giúp cho điều hành, chỉ đạo
sản xuất, kinh doanh một cách nhanh nhạy, đạt hiệu quả kinh tế cao nhằm thực hiện tốt
nguyên tắc tự chủ tài chính và tự trang trãi, nâng cao doanh lợi hợp lý, đảm bảo tăng
tích lũy. Đối với người sử dụng thông tin khác nằm ngoài tổ chức, đơn vò, thông tin kinh
tế, tài chính do kế toán cung cấp là những căn cứ quan trọng để đưa ra các quyết đònh
kinh tế như: Mua hay bán hàng hóa, dòch vụ này của ai? Có nên cho vay vốn đối với
doanh nghiệp này hay không? Có nên đầu tư vốn vào doanh nghiệp này hay không? . . .
1.1.2.2- Kế toán là công cụ có hiệu lực để bảo vệ tài sản, tăng cường và phát triển
tài sản của doanh nghiệp, của tổ chức.
- 4 -

Đối với doanh nghiệp, tài sản bao gồm: tài sản lưu động và tài sản cố đònh.
Trong quá trình sản xuất, kinh doanh các tài sản này luôn có sự vận động, chuyển hóa
liên tục với mục đích sinh lời. Mặc khác, nói về nguồn hình thành các tài sản này được
hình thành bởi nhiều nguồn vốn khác nhau: Vốn của chủ sở hữu (Nhà nước, cổ phần,
liên doanh, cá nhân . . .), khoản nợ chiếm dụng, khoản vay tín dụng ngắn hạn, dài hạn .
. . Như vậy, đối với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Một mặt, phải sử
dụng và khai thác các loại tài sản, vật tư, tiền vốn, nguồn lực để chủ động phát triển
sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhất trên cơ sở năng suất, chất lượng, lợi nhuận. Mặt
khác, phải có trách nhiệm bảo toàn nguồn vốn chủ sở hũu, cũng như có trách nhiệm với
các đối tượng có liên quan về các khoản công nợ. Đối với một tổ chức, tài sản bao gồm

• Mục đích của kế toán ngày càng được khẳng đònh là một hoạt động được hoạch
đònh để phục vụ thu thập, đo lường và truyền đạt những thông tin kinh tế nhằm cung
cấp những thông tin để có được quyết đònh sáng suốt về việc sử dụng mọi nguồn nhân,
tài, vật lực một cách hữu hiệu trong hoạt động của một tổ chức, hoặc trong các giao
dòch kinh tế có liên quan, hoặc tương hỗ nhau.
• Đối tượng và phạm vi mà kế toán phản ảnh là các hoạt động kinh tế, tài chính
của các thực thể kinh tế là các doanh nghiệp. . .
• Tính chất của thông tin hạch toán kế toán: Phải có tính tổng hợp và hệ thống
hóa; tính tối ưu, đầy đủ và chính xác; tính kòp thời và linh hoạt; tính có ích và có giá trò
mới mẻ. Thông tin kinh tế tài chính phải có tính so sánh không những trong phạm vi
quốc gia, khu vực mà còn phải có khả năng so sánh mang tính toàn cầu. Vấn đề này,
- 6 -

đòi hỏi thông tin kinh tế tài chính này phải được xây dựng trên các chuẩn mực kế toán
mang tính thống nhất, hài hòa trong khu vực và phạm vi quốc tế.
• Trình bày và công bố thông tin kinh tế tài chính do kế toán cung cấp: Báo cáo
kế toán là sản phẩm quan trọng nhất của quá trình kế toán. Báo cáo kế toán cung cấp
thông tin kinh tế tài chính đáng tin cậy về hoạt động của một thực thể kinh tế và phục
vụ rộng rãi các đối tượng sử dụng các thông tin này ở bên trong và bên ngoài của thực
thể kinh tế. Việc trình bày và công bố các thông tin kinh tế tài chính phải tuân thủ
nguyên tắc: Trình bày một cách chính xác, khách quan, vô tư nhất về tình hình tài chính
của một tổ chức để phục vụ cho việc ra các quyết đònh quản lý của nhà quản lý bên
trong cũng như bên ngoài của tổ chức đó. Đối với thông tin kinh tế tài chính cung cấp
cho các đối tượng sử dụng bên ngoài thực thể kinh tế được trình bày và công bố theo
các chuẩn mực của quốc gia ngày càng được xây dựng hài hòa với các chuẩn mực kế
toán quốc tế.
1.1.4- Đối tượng sử dụng thông tin kế toán:
Thông tin kế toán là một trong những nguồn thông tin kinh tế quan trọng nhất
đối với những người sử dụng thông tin kế toán. Những thông tin đó sẽ quyết đònh đến
việc thành hay bại của một doanh nghiệp, một tổ chức hoặc một cá nhân, thậm chí ở

nghiệp.
• Các đối tượng sử dụng thông tin kế toán ở bên ngoài doanh nghiệp: gồm các
đối tượng còn lại như cổ đông, chủ nợ, nhà nước . . . họ cần thông tin làm cơ sở cho các
quyết đònh đầu tư, cho vay . . . liên quan đến lợi ích kinh tế của họ.

- 8 -

1.2/- Môi trường kế toán:
Môi trường kế toán là tập hợp các yếu tố thuộc môi trường quốc tế và môi trường
quốc gia ảnh hưởng đến sự thay đổi và phát triển của kế toán, chúng tác động mạnh mẽ
đến việc hình thành các quan điểm, chuẩn mực, nguyên tắc và phương thức thực hành
kế toán. Tác động của 2 loại môi trường này đối với kế toán như sau:
1.2.1- Môi trường quốc tế:
Các yếu tố thuộc môi trường quốc tế như: xu hướng hội nhập, sự phát triển thò
trường tài chính quốc tế; sự mở rộng các dòch vụ tài chính và kinh doanh quốc tế, sự
phát triển kế toán trên thế giới. . . dẫn đến nhu cầu cần hài hòa các chuẩn mực, nguyên
tắc kế toán quốc tế. Tất cả những điều đó tác động đến sự thay đổi của kế toán.
Liên Xô, các nước Đông u, Trung Quốc và Việt Nam đã và đang thay đổi
theo hướng tiếp cận với kinh tế thò trường, đẩy mạnh xu hướng cổ phần hóa doanh
nghiệp đã mở ra nhiều cơ hội mới cho đầu tư nước ngoài, liên doanh, liên kết. Do đó,
cũng phần nào tác động đến sự thay đổi của kế toán.
Mặc khác, sự toàn cầu hóa thò trường vốn đòi hỏi cần có ngôn ngữ kế toán
chung cho sự kết nối các thông tin tài chính, tạo thuận lợi cho khả năng hợp tác quốc tế
và đánh giá hiệu quả kinh doanh, đã dẫn đến xu hướng các quốc gia chú trọng việc
hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho kế toán trong nước, điều đó cũng ảnh hưởng đến sự
thay đổi của kế toán.
1.2.2- Môi trường quốc gia:
Chủ yếu là sự ràng buộc về kinh tế- chính trò: yếu tố này ảnh hưởng đến sự
phát triển kế toán của mỗi quốc gia, thông qua việc chi phối đến vấn đề xác lập các
kiểu mẫu kế toán của mỗi nước. Nói đến tác động của môi trường kinh tế- chính trò đối


Hiện nay đang có 2 khuynh hướng:
+ Khuynh hướng phá vỡ mối quan hệ giữa kế toán và thuế: phát sinh ở các
nước trong đó thò trường chứng khoán giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, có kế
hoạch chính thống, có kế toán thuế tách biệt.
+ Khuynh hướng liên kết các quy đònh về thuế và kế toán: phát sinh tại các
nước mà thò trường chứng khoán giữ vai trò khiêm tốn, có kế toán chính thống có thể
trở thành kế toán thuế.
• Ngoài ra còn có một số các yếu tố khác: thò trường chứng khoán, lạm phát,
giải thể, các loại hình kinh doanh . . .
1.3/- Tổng quan về hệ thống chế độ kế toán:
1.3.1- Hệ thống khuôn khổ pháp lý về kế toán:
Để hoạt động kế toán được lành mạnh và phát huy hiệu quả thực tế của nó thì
một yêu cầu cần thiết phải đặt ra đó là một môi trường pháp lý lành mạnh, phù hợp với
tình hình thực tiễn. Môi trường pháp lý là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà
nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động kinh tế, tài chính
thuộc về lónh vực kế toán, giữa các đơn vò kế toán hoặc giữa đơn vò kế toán với các cơ
quan quản lý Nhà nước về kinh tế tài chính.
Môi trường pháp lý này xác đònh đòa vò pháp lý cho các đơn vò kế toán và nâng
cao tính pháp lý (hay tạo ra cơ sở pháp lý) cho hoạt động kế toán ở các đơn vò kế toán.
Môi trường pháp lý sẽ điều chỉnh mọi hành vi liên quan đến công tác kế toán
của đơn vò kế toán và những người làm công tác kế toán. Môi trường pháp lý lành
mạnh sẽ đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong công tác kế toán, kiểm toán, nâng cao vò
trí, vai trò của kế toán trong quản lý kinh tế. Nhờ đó Nhà nước đảm bảo được kỷ luật,
trật tự trong hoạt động kinh tế tài chính. Nhìn chung ở các quốc gia những quy đònh
pháp lý về kế toán được thể hiện ở những văn bản pháp quy, đó là những quy đònh
- 11 -

mang tính bắt buộc, cưỡng bức của nhà nước được thể hiện trong các bộ luật hoặc văn
bản pháp quy. Văn bản pháp quy cao nhất về kế toán là Luật Kế toán. Trong Luật Kế

trong một khuôn khổ nhất đònh.
Chuẩn mực đảm bảo tính thống nhất trong việc đánh giá tài sản, trình bày
thông tin kinh tế, tài chính của doanh nghiệp. Các nghiệp vụ kinh tế liên quan, tài sản,
nợ phải trả, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp được đánh giá, xử lý và trình bày theo
những nguyên tắc kế toán phổ biến, được chấp nhận trong chuẩn mực kế toán sẽ đảm
bảo tính thống nhất trong việc đánh giá thực trạng tài chính, tình hình và kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp, đảm bảo sự trung thực, hợp lý, công khai và lợi ích kinh tế
cho các bên liên quan.
Sự thống nhất trong cách đánh giá, trình bày các khoản mục sẽ cung cấp
thông tin có thể so sánh được về tình hình tài chính của một doanh nghiệp giữa các giai
đoạn với nhau, cũng như giữa các doanh nghiệp khác nhau, đồng thời tạo thuận lợi cho
việc tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế tài chính phục vụ cho quản lý vó mô của Nhà nước.
Chuẩn mực kế toán sẽ đảm bảo độ tin cậy và sự an tâm cho những người sử
dụng thông tin kế toán, thông tin kế toán cung cấp không chỉ quan trọng đối với nhà
nước, đối với doanh nghiệp, mà còn vô cùng cần thiết đối với mọi đối tượng có quan hệ
kinh tế với doanh nghiệp. Chuẩn mực kế toán đưa ra các nguyên tắc đánh giá, những
khuôn mẫu về phương pháp kế toán để thiết lập báo cáo tài chính hợp lý và có căn cứ
khoa học, chỉ có trên cơ sở đó, các thông tin kế toán đưa ra mới đảm bảo khách quan,
- 13 -

đầy đủ, tin cậy. Và như vậy, người sử dụng thông tin có thể tin tưởng và đưa ra các
quyết đònh đúng đắn.
Chuẩn mực kế toán tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ kế toán thực hiện công
tác kế toán một cách thuận tiện, có căn cứ, phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp
trong môi trường pháp lý chung. Mặt khác, thuận lợi cho công tác đào tạo, huấn luyện
cán bộ kế toán trong phạm vi từng quốc gia, cũng như khu vực hoặc toàn thế giới.
Có thểà nói, chuẩn mực kế toán là vô cùng cần thiết cho việc thực hiện công
tác kế toán, là yêu cầu không thể thiếu trong việc quản lý, điều hành thống nhất công
tác kế toán ở mỗi quốc gia, cũng như trong tiến trình hội nhập thế giới.
Hiện nay, trên thế giới khuôn khổ chung nhất trong hoạt động kế toán là “hệ

• Chuẩn mực số 22: “Trình bày bổ sung báo cáo tài chính của các ngân hàng
và tổ chức tài chính tương tự”.
• Chuẩn mực số 23: “Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm”
• Chuẩn mực số 24: “Báo cáo lưu chuyển tiền tệ”.
• Chuẩn mực số 25: “Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào
công ty con”.
• Chuẩn mực số 26: “Thông tin về các bên liên quan”.
• Chuẩn mực số 27: “Báo cáo tài chính giữa niên độ”.
• Chuẩn mực số 28: “Báo cáo bộ phận”.
• Chuẩn mực số 29: “Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và các sai
sót”.

- 15 -

1.3.2- Hệ thống chế độ kế tốn doanh nghiệp
Hệ thống chế độ kế tốn là hệ thống các phương pháp kế tốn trong cơng tác hạch
tốn kế tốn, hệ thống chế độ kế tốn thường bao gồm: chứng từ kế tốn, hệ thống tài
khoản kế tốn, sổ kế tốn, báo cáo tài chính.
Điểm khác biệt rất lớn giữa các nước trên thế giới là có ban hành thống nhất hệ
thống chế độ kế tốn cụ thể làm căn cứ để các đơn vị kế tốn thực hiện hoặc khơng ban
hành hệ thống chế độ kế tốn cụ thể.
Ở đại bộ phận các nước trên thế giới chỉ có Luật, Chuẩn mực kế tốn; Ở các nước
này Nhà nước và các tổ chức nghể nghiệp khơng ban hành các chế độ kế tốn cụ thể như
chứng từ kế tốn, hệ thống tài khoản kế tốn, sổ kế tốn, báo cáo tài chính. Các đơn vị căn
cứ vào các quy định của Luật, các chuẩn mực kế tốn tự thiết lập hệ thống kế tốn của
mình nhằm mục đích quản lý được q trình hoạt động và lập các báo cáo tài chính theo
đúng u cầu của luật pháp.
Nhưng ở một số ít nước, Nhà nước có ban hành các chế độ thể lệ kế tốn cụ thể để
đảm bảo sự quản lý thống nhất của nhà nước và là căn cứ để các đơn vị tổ chức thực hiện
cơng tác kế tốn của mình.

• Chế độ chứng từ kế toán doanh nghiệp hiện nay bao gồm hai hệ thống chứng
từ: chứng từ kế toán bắt buộc và chứng từ kế toán hướng dẫn.
ß Chứng từ bắt buộc là chứng từ phản ánh quan hệ kinh tế giữa các pháp
nhân hoặc có yêu cầu quản lý chặt chẽ, mang tính chất phổ biến rộng rãi và do Nhà
nước tiêu chuẩn hóa về qui cách, biểu mẫu, cách ghi chép, phương pháp lập và áp dụng
thống nhất cho tất cả các doanh nghiệp.
ß Chứng từ hướng dẫn chủ yếu là chứng từ áp dụng trong nội bộ đơn vò, Nhà
nước chỉ hướng dẫn các chỉ tiêu đặc trưng để doanh nghiệp vận dụng, hiện nay đã được
quy đònh rõ theo Luật kế toán.
- 17 -

Chứng từ kế toán hiện nay bao gồm 5 chỉ tiêu, trong mỗi chỉ tiêu có quy đònh số
loại chứng từ và được bắt buộc hoặc hướng dẫn cùng với phạm vi áp dụng dành cho
doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp khác
{Xem phụ lục số 1.1}
Tổng hợp hệ thống chứng từ như sau:
SỐ
TT
TÊN GỌI
CHỈ TIÊU
Số lượng
chứng từ
DNNN
Bắt buộc
DNNN
Hướng dẫn
DN khác
Bắt buộc
DN khác
Hướng dẫn

của hình thức sổ kế toán này là khối lượng ghi sổ nhiều, nếu tổ chức không khéo sẽ dễ
bò trùng lắp về nội dung của nghiệp vụ giữa các sổ nhật ký. Nhược điểm này có thể
được khắc phục được nhờ khả năng xử lý của máy tính.
ß
Hình thức kế toán Nhật ký sổ cái
Hình thức này bao gồm sổ nhật ký-sổ cái và các sổ kế toán chi tiết
khác. Ưu điểm của hình thức sổ kế toán này là ghi chép đơn giản, rõ ràng, dễ đối chiếu
và kiểm tra nhưng khó phân công lao động kế toán, không thích hợp cho các doanh
nghiệp lớn, kết cấu sổ sách không thích hợp cho việc cơ giới hóa kế toán. Do vậy, hình
thức này chỉ thích hợp cho các doanh nghiệp qui mô nhỏ.
ß
Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ
Hình thức này bao gồm sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, sổ cái và các sổ chi
tiết khác. Ưu điểm của hình thức chứng từ ghi sổ là gọn nhẹ, kết cấu mẫu sổ đơn giản,
rõ ràng, dễ làm, dễ phân công công việc kế toán, thuận lợi cho việc sử dụng các
phương tiện tính toán hiện đại với qui mô nhỏ. Nhược điểm của hình thức này là việc
ghi chép dễ bò trùng lấp, việc đối chiếu và kiểm tra gặp khó khăn, công việc kế toán
thường tập trung vào một số thời điểm làm cho việc cung cấp thông tin không kòp thời,
mối liên hệ giữa hạch toán chi tiết và hạch toán tổng hợp không rõ ràng. Hình thức này
có thể phù hợp với nhiều loại hình doanh nghiệp.
- 19 -

ß Hình thức kế toán Nhật ký chứng từ
Hình thức này bao gồm các nhật ký chứng từ, các bảng kê, bảng phân
bổ, sổ cái và các sổ kế toán chi tiết khác. Hình thức này có ưu điểm là giảm nhẹ khối
lượng ghi chép, khắc phục được việc ghi chép trùng lắp, dễ phân công và chuyên môn
hóa công việc kế toán, việc kiểm tra và đối chiếu thực hiện thường xuyên và thuận lợi
nên có khả năng cung cấp thông tin nhanh. Nhược điểm của hình thức này là số lượng
sổ nhiều, kết cấu kiểu bàn cờ phức tạp nên đòi hỏi trình độ chuyên môn của nhân viên
kế toán cao và khó áp dụng máy tính trong xử lý số liệu. Do đó, hình thức này chỉ thích

điểm ghi chép vào tài khoản này là ghi đơn.
[Xem Phụ lục 3.1]
1.3.2.4- Chế độ báo cáo tài chính:
Theo điều 29-Luật kế toán và Chuẩn mực kế toán số 21: Báo cáo tài chính được
lập theo chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán dùng để tổng hợp và thuyết minh về tình
hình kinh tế, tài chính của đơn vò kế toán.
• Mục đích của báo cáo tài chính là phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ và
cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và các luồng tiền của
doanh nghiệp; đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc
đưa ra các quyết đònh kinh tế. Để đạt mục đích này báo cáo tài chính phải cung cấp
những thông tin cho doanh nghiệp về: tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu,
thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ, các luồng tiền.
• Việc lập và trình bày báo cáo tài chính phải tuân thủ các yêu cầu đã được
quy đònh tại Chuẩn mực kế toán số 21 “Trình bày báo cáo tài chính”, gồm:
- 21 -

ß Trung thực và hợp lý,
ß Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với quy đònh của
từng chuẩn mực kế toán nhằm đảm bảo cung cấp thông tin thích hợp với nhu cầu ra các
quyết đònh kinh tế của người sử dụng và cung cấp các thông tin đáng tin cậy, khi:
; Trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp.
; Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dòch và sự kiện không chỉ
đơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng.
; Trình bày khách quan, không thiên vò.
; Tuân thủ nguyên tắc thận trọng.
; Trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu.
• Việc lập và trình bày báo cáo tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Cơ
sở dồn tích - Nhất quán - Trọng yếu và Tập hợp - Bù trừ - Có thể so sánh được.
• Hệ thống báo cáo tài chính hiện hành áp dụng cho doanh nghiệp

chi tiết theo hoạt động kinh doanh chính và hoạt động tài chính. Báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh cho biết toàn bộ kết quả hoạt động trong kinh doanh của doanh nghiệp
sau một thời kỳ nhất đònh. Đồng thời bảng báo cáo còn cho biết được các yếu tố liên
quan đến việc tính toán xác đònh kết quả kinh doanh của từng loại hoạt động.

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ {Mẫu số B03-DN}
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính phản ánh các khoản thu
và chi tiền trong kỳ của doanh nghiệp theo các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư
và hoạt động tài chính. Dựa vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ, người sử dụng có thể đánh
giá được khả năng tạo ra tiền, sự biến động tài sản thuần, khả năng thanh toán và dự
toán được luồng tiền trong kỳ tiếp theo của doanh nghiệp.
- 23 -

; Kết cấu báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm 3 phần :
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh.
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư.
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính.
; Có hai phương pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ :
- Phương pháp gián tiếp: báo cáo được lập bằng cách điều chỉnh lợi
nhuận trước thuế của hoạt động sản xuất kinh doanh khỏi ảnh hưởng của các nghiệp vụ
không trực tiếp liên quan đến thu hoặc chi tiền đã làm tăng, giảm lợi tức như khấu hao
TSCĐ, lãi vay ngân hàng chưa thanh toán, loại trừ các khoản lãi-lỗ của hoạt động đầu
tư và hoạt động tài chính đã tính vào lợi nhuận trước thuế, điều chỉnh các khoản mục
thuộc vốn lưu động.
ß Phương pháp trực tiếp: báo cáo được lập bằng cách xác đònh và phân
tích các khoản thực thu, chi bằng tiền trên các sổ kế toán vốn bằng tiền theo từng hoạt
động và theo nội dung thu chi.

Thuyết minh báo cáo tài chính {Mẫu số B09-DN}
Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống báo

thiết cơ bản”. Các chế độ này đã góp phần quan trọng đưa công tác kế toán đi vào nề
nếp và là tiền đề cho việc xây dựng hệ thống kế toán Việt Nam sau này.
Đến năm 1961, cùng với việc Chính phủ ban hành Điều lệ tổ chức kế toán Nhà
nước theo Nghò đònh 175/CP ngày 28.10.1961, các chế độ kế toán cho các xí nghiệp
ngành xây dựng, nông nghiệp... cũng được tiếp tục ban hành. Các chế độ kế toán nói
trên đã góp phần vào việc quản lý, kiểm soát tình hình chấp hành kế hoạch và bảo vệ
- 25 -

tài sản xã hội chủ nghóa, tăng cường công tác quản lý kinh tế, tài chính của Nhà nước,
đồng thời đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vò quốc doanh bước đầu đi vào thực
hiện chế độ hạch toán kinh tế.
2.1.2- Giai đoạn từ năm 1970-1994:
Năm 1970 hệ thống chế độ kế toán thống nhất lần đầu tiên trong lòch sử ra đời,
bao gồm: chế độ ghi chép ban đầu [Quyết đònh số 583/LBTC-TK], hệ thống tài khoản
kế toán thống nhất [Quyết đònh số 425/TC-CĐKT ngày 14.12.1970], chế độ sổ kế toán
theo hình thức Nhật ký - Chứng từ [Quyết đònh số 426/TC-CĐKT ngày 14.12.1970]ø,
chế độ báo cáo kế toán - thống kê xí nghiệp công nghiệp [Quyết đònh số 233/CP ngày
01.12.1970]. . . Hệ thống chế độ kế toán này được áp dụng chung cho tất cả các đơn vò
thuộc ngành sản xuất kinh doanh do trung ương quản lý, không phân biệt quy mô của
đơn vò, đã tạo nên một nền tảng pháp lý vững chắc cho công tác kế toán áp dụng tại
các doanh nghiệp ở tất cả các lónh vực hoạt động kinh doanh, góp phần đắc lực vào
việc quản lý tài chính trong điều kiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung.
Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta bước vào giai
đoạn phục hồi và xây dựng nền kinh tế sau chiến tranh, thực hiện công nghiệp hóa xã
hội chủ nghóa, tiến hành công cuộc cải tạo kinh tế, xây dựng chủ nghóa xã hội trên
phạm vi cả nước. Điều đó đòi hỏi phải có một chế độ kế toán thống nhất, phù hợp, áp
dụng toàn quốc. Chính vì vậy, ngày 24.10.1975, Bộ Tài chính ban hành Quyết đònh số
34 TC/CĐKT về sửa đổi, bổ sung “Hệ thống tài khoản kế toán thống nhất”.
Thực hiện Nghò quyết Đại hội toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 6
(1986) về chuyển đổi cơ chế quản lý sang cơ chế thò trường xã hội chủ nghóa, xuất phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status