129 Công tác Kế toán Tài sản cố định với việc nâng cao hiệu quả sử dụng và quản lý Tài sản cố định tại Ngân hàng - Pdf 21

LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang từng bước hoà
nhập, phát triển kinh tế gắn liền với nền kinh tế khu vực và trên thế giới.
Hệ thống Kế toán Việt Nam với tư cách là công cụ quản lý kinh tế tài
chính đã không ngừng được đổi mới, hoàn thiện và phát triển, góp phần tích
cực vào việc quản lý tài chính của Nhà nước nói chung và quản lý doanh
nghiệp nói riêng.
Trong nền kinh tế thị trường, kế toán có vị trí quan trọng trong việc phản
ánh và cung cấp các thông tin kinh tế phục vụ cho nhu cầu quản lý kinh tế tài
chính và quản trị kinh doanh trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Để tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh phải có ba yếu tố cơ bản đó
là tư liệu lao động, đối tượng lao động, sức lao động. Hơn thế nữa, khi nền
kinh tế càng phát triển, khoa học công nghệ kỹ thuật không ngừng được nâng
cao thì tư liệu lao động ngày càng chiếm một vị trí quan trọng. Dường như tư
liệu lao động là một trong những tiêu trí để đánh giá doanh nghiệp đó lớn
mạnh ra sao. Mà ta đã biết doanh nghiệp nào cũng có TSCĐ và đặc điểm của
TSCĐ là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh quá trình sử dụng và
quản lý TSCĐ sao cho có hiệu quả cao nhất là một điều không phải đơn giản đối
với ban lãnh đạo doanh nghiệp nói chung và công tác kế toán TSCĐ nói riêng.
Trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu về mặt lý luận và tiếp cận thực tế
tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội. Em chọn đề tài: Công tác kế toán Tài
sản cố định với việc nâng cao hiệu quả sử dụng và quản lý Tài sản cố định tại
Ngân hàng.
Chuyên đề gồm 3 phần chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về công tác kế toán Tài sản cố định ở
Ngân hàng.
Chương 2: Thực trạng công tác kế toán Tài sản cố định tại Ngân
hàng Ngoại thương Hà Nội.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán Tài
sản cố định tại Ngân hàng Ngoại Thương Hà Nội

TSCĐ.
Đối với vờn cây lâu năm thì từng vườn cây được coi là TSCĐ.
Mọi khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra có liên quan đến
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thoả mãn cả hai điều kiện trên mà
không hình thành TSCĐ hữu hình thì được coi là TSCĐ vô hình.
Để tìm hiểu sâu hơn về TSCĐ ta đi nghiên cứu đặc điểm của TSCĐ.
1.2: Đặc điểm của tài sản cố định:
Tài sản Cố định là cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân,
nó thể hiện năng lực sản xuất của doanh nghiệp là điều kiện quan trọng để
tăng năng suất lao động, xã hội và phát triển kinh tế quốc dân.
Do tiêu chuẩn về thời gian sử dụng TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ
sản xuất kinh doanh khác nhau vẫn giữ nguyên được hình thái ban đầu đến
khi hư hỏng. Trong quá trình sản xuất và sử dụng TSCĐ bị hao mòn dần, giá
trị của TSCĐ chuyển dịch dần dần vào giá thành của sản phẩm làm ra thông
qua khấu hao.
Ngoài ra TSCĐ là sản phẩm của lao động tức là vừa có giá trị và vừa
giá trị sử dụng. Hay nói cách khác nó là hàng hoá. Như vậy TSCĐ được mua
bán chuyển nhượng, trao đổi trên thị trường tư liệu sản xuất. Do đó việc sử
dụng quản lý TSCĐ phải có biện pháp riêng. Mà điều đầu tiên là TSCĐ phải
được phân loại và tính giá một cách hợp lý và chính xác.
2.Phân loại và tính giá TSCĐ:
2.1: Phân loại Tài sản cố định:
a.Ý nghĩa, sự cần thiết phải phân loại Tài sản Cố định:
Tài sản cố định có nhiều loại nhiều thứ, có đặc điểm và yêu cầu quản lý
khác nhau. Do để tiện cho công tác quản lý và hạch toán TSCĐ là rất cần
thiết. Nhờ vào việc phân loại chúng ta sẽ biết được chất lượng cơ cấu của
từng loại TSCĐ hiện có trong nền kinh tế quốc dân nói chung và trong từng
doanh nghiệp nói riêng. Tài liệu của phân loại TSCĐ đợc dùng để lập kế
hoạch sản xuất, kế hoạch sửa chữa lớn, hiện đại hoá TSCĐ, nếu phân loại
chính xác TSCĐ trong quá trình sản xuất đồng thời phục vụ tốt cho công tác

- Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm: Gồm các loại cây lâu
4
năm như chè, cao su, caphe, cam. Súc vật làm việc như trâu, bò, ngựa,
voi...dùng để cầy kéo và súc vật cho sản phẩm trâu, bò sữa sinh sản.
- Tài sản cố định phúc lợi gồm tất cả tài sản cố định, sử dụng cho nhu
cầu phúc lợi công cộng như: Nhà ăn, nhà nghỉ, nhà văn hoá, sân bóng, thiết bị
thể thao.
- Tài sản cố định khác: Bao gồm những TSCĐ chưa phản ánh vào các
loại trên như: TSCĐ chưa cần dùng, TSCĐ chờ thanh lý, nhợng bán, các tác
phẩm nghệ thuật, sách chuyên môn, tranh ảnh.
* Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản cố định không có hình thái
vật chất nhưng xác định đựợc giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng
trong hoạt động sản xuất kinh doanh cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng
khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình. Theo chuẩn mực
kế toán Việt Nam(Chuẩn mực 04), các tài sản vô hình đợc nghi nhận là TSCĐ
vô hình phải thoả mãn đồng thời tất cả 4 tiêu chuẩn giống như TSCĐ hữu
hình ở trên theo chế độ hiện hành thì những TSCĐ không có hình thái vật
chất cụ thể, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp
đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp như: Quyền sử dụng đất, chi
phí thành lập công ty, bằng phát minh sáng chế, lợi thế thương mại theo chế
độ hiện hành, TSCĐ vô hình được chia làm các loại sau:
- Quyền sử dụng đất: Bao gồm các chi phí phát sinh liên quan trực tiếp
đến việc giành quyền sử dụng đất như chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng,
san lấp, mặt bằng, chi mua quyền sử dụng đất, lệ phí trớc bạ(nếu có)...
- Quyền phát hành: Gồm toàn bộ chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã
chi ra để có quyền phát hành.
- Bản quyền tác giả: Là quyền đựơc Chính phủ cấp để độc quyền sản
xuất và tái bản các sách, băng nhạc, phim ảnh hay các công việc nghệ thuật
khác trong thời gian nhất định. Tuy nhiên một nhà xuất bản nào đó có thể bỏ
ra mua bản quyền đó và khấu hao bản quyền theo thời gian hữu ích ước tính

điều đầu tiên là tạo cơ sở vật chất cho việc tính khấu hao TSCĐ, thứ hai là có
ý nghĩa trong việc quản lý và sử dụng TSCĐ. Đặc biệt đối với kế toán cách
phân loại này giúp chúng ta biết được cơ cấu TSCĐ, tạo điều kiện thuận lợi
6
cho việc sử dụng tài khoản cấp 1 và cấp 2 phù hợp.
2.1.2: Phân loại Tài sản cố định theo quyền sở hữu:
Theo cách phân loại này ta có thể có những TSCĐ sau:
* Tài sản cố định hiện có: Là những TSCĐ mua bằng nguồn vốn Nhà
nước cấp hoặc nguồn vốn bổ sung, hoặc cá nhân cổ đông góp vốn bằng
TSCĐ.
* Tài sản cố định thuê tài chính: Là TSCĐ mà doanh nghiệp đi thuê dài
hạn và được bên cho thuê chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với
quyền sở hữu tài sản. Tiền thu về cho thuê đủ cho người cho thuê trang trải
được chi phí của tài sản cộng với khoản lơị nhuận từ đầu tư đó.
- Tài sản cố định thuê tài chính: Theo chuẩn mực 06 “ thuê tài sản”,
một giao dịch về thuê tài sản được coi là thuê tài chính nếu nội dung hợp
đồng thuê tài sản thể hiện việc chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền
quyền sở hữu tài sản. Thông thường, các trường hợp sau đây thường dẫn đến
hợp đồng thuê tài chính là:
+ Bên thuê chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên thuê khi hết thời
hạn thuê.
+ Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản bên thuê có quyền lựa chọn mua
lại tài sản thuê với mức giá cước tính thấp hơn giá trị hợp lý vào cuối thời hạn
thuê.
+ Thời hạn thuê tài sản chiếm phần lớn thời gian sử dụng kinh tế của tài
sản cho dù không có sự chuyển giao sở hữu.
+ Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, giá trị hiện tại của khoản thanh
toán tiền thuê tôí thiểu chiếm phần lớn giá trị hợp lý của tài sản thuê.
+ Tài sản thuê thuộc loại chuyên dùng mà chỉ có bên thuê có khả năng
sử dụng không cần có sự thay đổi, sửa chữa lớn nào ngoài ra trong trường

- TSCĐ được mua sắm đầu tư bằng nguồn vốn liên doanh.
- TSCĐ được mua sắm đầu tư bằng nguồn vốn vay.
* Ý nghĩa: Cách phân loại này có ý nghĩa rất quan trọng giúp chúng ta
quyết định sử dụng nguồn vốn khấu hao hợp lý. Như ta đã biết để quản lý tốt
TSCĐ.
8
Chúng ta phải xác định đối tợng ghi TSCĐ, có thể là TSCĐ độc lập
hoặc tổng thể các bộ phận cấu thành cùng tham gia thực hiện một chức năng
nhất định. Từ đó giúp chúng ta ghi số liệu TSCĐ trên cơ sở đó lập sổ và chi
tiết TSCĐ.
2.1.4: Phân loại theo mục đích sử dụng:
-TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh: Là những tài sản do doanh
nghiệp sử dụng cho các mục đích kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm cả
TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết
bị, phương tiện vận tải truyền dẫn, dụng cụ quản lý. Và những TSCĐ khác
như tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật.
-TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc phòng là
những TSCĐ do doanh nghiệp quản lý sử dụng do doanh nghiệp quản lý sử
dụng cho các mục đích phúc lợi, sự nghiệp an ninh quốc phòng trong doanh
nghiệp.
-TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ cất hộ nhà nước là những TSCĐ doanh
nghiệp bảo quản hộ, giữ hộ cho đơn vị khác hoặc cất giữ hộ nhà nước, theo
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
* Ý nghĩa: Cách phân loại này cho ta biết được một cách rõ ràng từng
loại TSCĐ. Từ đó xác định rõ loại nào phải trích khấu hao từ đó có kế hoạch
sử dụng và bảo quản hợp lý.
Mặc dù TSCĐ được chia thành từng nhóm với đặc trưng khác nhau
nhưng trong công tác quản lý TSCĐ còn được theo dõi chi tiết theo từng
TSCĐ cụ thể và riêng biệt gọi là đối tượng ghi TSCĐ. Đối tượng ghi TSCĐ là
từng TSCĐ riêng biệt với kết cấu độc lập và thực hiện một chức năng nhất

phải tiến hành đánh giá chính xác từng loại TSCĐ thông qua hình thái tiền tệ.
Đánh giá TSCĐ thực chất là việc xác định giá trị ghi sổ của TSCĐ, TSCĐ
được đánh giá lần đầu và có thể được đánh giá lại trong quá trình sử dụng. Do
vậy TSCĐ được đánh giá theo nguyên giá, giá trị hao mòn và giá trị còn lại.
2.2.1: Xác định nguyên giá TSCĐ:
* Tài sản cố định hữu hình :
- Tài sản cố định mua sắm :(Bao gồm cả mua mới và cũ): Nguyên giá
10
TSCĐ mua sắm gồm giá mua thực tế phải trả (đã trừ các khoản chi tiêt triết
khấu thương mại và giảm giá được hưởng). Và cộng các khoản thuế không
được hoàn lại (nếu có) cùng các khoản phí tổn mới chi ra liên quan đến việc
đa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng (phí vận chuyển, bốc rỡ, lắp đặt,
chạy thử thuê trước bạ, chi sửa chữa, tân trang..)
- Tài sản cố định do bộ phận xây dựng cơ bản tự làm bàn giao: Nguyên
giá là giá thành thực tế của công trình xây dựng cùng với các khoản chi phí
khác có liên quan và thuế trước bạ (nếu có). Khi tính nguyên giá, cần loại trừ
các khoản lãi nội bộ, các khoản chi phí không hợp lý, các khoản chi phí vựot
quá mức bình thường trong quá trình tự xây dựng hoặc tự chế biến.
- Tài sản cố định do bên nhận thầu (Bên B) bàn giao: Nguyên giá là giá
phải trả cho bên B cộng với các khoản phí tổn mới trước khi dùng (Chạy thử,
thuê trước bạ) trừ đi các khoản giảm giá nếu có.
- Tài sản cố định được cấp, được điều chuyển đến:
+ Nếu là đơn vị hạch toán độc lập: Nguyên giá bao gồm giá trị còn lại
ghi sổ ở đơn vị cấp (hoặc giá trị đánh giá thực tế của hội đồng giao nhận)
cộng với các phí tổn mới trước khi dùng mà bên nhận phải chi ra (vận
chuyển, bốc dỡ, lắp đặp, chạy thử)
+ Nếu điều chuyển giữa các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc:
Nguyên giá, giá trị còn lại và số khấu hao luỹ kế được ghi theo sổ của đơn vị
cấp. Các phí tổn mới trước khi dùng được phản ánh trực tiếp vảo chi phí kinh
doanh mà không tính vào nguyên giá TSCĐ.

này được hình thành bởi ưu thế vị trí kinh doanh về danh tiếng uy thế với bạn
hàng.
Đối với TSCĐ thuê tài chính: Nguyên giá là phần chênh lệch giữa tổng
số nợ dài hạn trừ đi tổng số tiền lãi đơn vị đi thuê phải trả ghi trong hợp đồng
thuê TSCĐ.
Nếu hợp đồng thuê TSCĐ có qui định tỷ lệ lãi suất phải trả theo năm
thì nguyên giá TSCĐ thuê tài chính phản ánh ở đơn vị thuê như sau:
1
NG = G x
_______________
12
(1 + L)N
NG: Là nguyên giá tài sản cố định thuê tài chính
G: là giá trị các khoản chi bên thuê phải trả mỗi năm theo hợp đồng.
L: là lãi suất vay vốn tính theo năm trong hợp đồng thuê tài sản
N: Là thời hạn thuê tài sản
Nếu trong hợp đồng thuê TSCĐ đã xác định tổng số tiền bên đi thuê
phải trả cho các giai đoạn thuê trong đó ghi rõ số lãi phải trả cho mỗi năm
nguyên giá TSCĐ thuê tài chính phản ánh ở đơn vị thuê được xác định nh
sau:
Nguyên giá = Tổng số nợ phải - Số tiền lãi x Số năm thuê tài sản
trả theo HĐ phải trả mỗi n
2.3. Xác định giá trị còn lại của TSCĐ:
Trong quá trình sử dụng TSCĐ bị hao mòn và giá trị của nó được
chuyển dần dần vào chi phí sản xuất trong kỳ. Do đó, sau mỗi chu kỳ sản xuất
thì giá trị của TSCĐ không còn bằng giá trị ban đầu. Giá trị còn lại của TSCĐ
được xác định như sau:
Giá trị còn = Nguyên giá - Giá trị hao
lại của TSCĐ TSCĐ mòn luỹ kế
Ngoài ra có thể đa ra công thức tính giá trị TSCĐ khi đánh giá lại:

này được thể hiện dưới hai dạng: hao mòn hữu hình (là sự hao mòn vật lý
trong quá trình sử dụng do bị do bị cọ sát, bị ăn mòn, bị hư hỏng từng bộ
phận) và sự hao mòn vô hình (là sự giảm giá trị của TSCĐ do tiến bộ KHKT
đã sản xuất ra những TSCĐ cùng loại có nhiều tính năng với năng suất cao
hơn và với chi phí ít hơn).
Để thu hồi lại giá trị hao mòn của TSCĐ, người ta tiến hành trích khấu
hao bằng cách chuyển phần lớn giá trị hao mòn của tài sản cố định vào giá trị
sản phẩm làm ra. Như vậy, hao mòn là một hiện tượng khách quan làm giảm
giá trị và giá trị sử dụng của TSCĐ. Còn khấu hao là một biện pháp chủ quan
trong quản lý nhằm thu hồi lại giá trị đã bị hao mòn của TSCĐ.
Việc tính khấu hao có thể tiến hành theo nhiều phương pháp khác nhau.
Việc lựa chọn phương pháp tính khấu hao nào là tuỳ thuộc vào qui định của
Nhà nước về chế độ quản lý tài chính đối với doanh nghiệp và yêu cầu quản
lý của doanh nghiệp. Phương pháp khấu hao được lựa chọn phải đảm bảo thu
14
hồi vốn nhanh, đầy đủ và phù hợp với khả năng trang trải chi phí của doanh
nghiệp. Trên thực tế, hiện nay phương pháp khấu hao đều theo thời gian được
áp dụng phổ biến. Phương pháp này cố định mức khấu hao theo thời gian nên
có tác dụng thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động. Tuy nhiên,
việc thu hồi vốn chậm, không tính theo kịp mức hao mòn, thực tế, nhất là hao
mòn vô hình (do tiến bộ KHKT) nên doanh nghiệp không có điều kiện để đầu
tư trang thiết bị tài sản cố định mới:
Mức khấu hao Nguyên giá Tỉ lệ khấu hao Nguyên giá TSCĐ phải
phải trích = TSCĐ phải * bquân năm = khấu hao
bquân năm khấu hao của TSCĐ Số năm sử dụng
Trong đó: giá trị phải khấu hao là nguyên giá của TSCĐ hữu hình ghi
trên báo cáo tài chính trừ đi giá trị thu hồi thanh lý ước tính của tài sản đó.
Giá trị thu hồi thanh lý ước tính với số chi phí thanh lý ước tính.
Do khấu hao TSCĐ được tính vào ngày 1 hàng tháng (nguyên tắc tròn
tháng)nên để đơn giản cho việc tính toán qui định những TSCĐ tăng (giảm)

biến động tăng, giảm trong kỳ .
Bên nợ: phản ánh các nghiệp vụ làm tăng TSCĐ hữu hình theo nguyên
giá(Mua sắm, xây dựng, cấp phát ...)
Bên có: phản ánh các nghiệp vụ làm giảm TSCĐ hữu hình theo nguyên
giá (thanh lý, nhượng bán, điều chuyển...)
Dư nợ:Nguyên giá TSCĐ hữu hình hiện có.
TK 211 chi tiết thành 6 TK cấp 2 sau đây:
2112-Nhà của, vật kiến trúc
2113-Máy móc thiết bị
2114-Phương tiên vận tải chuyền dẫn
2115-Thiết bị dụng cụ quản lý
2116-Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm
2118-TSCĐ khác
16
- TK 212: TSCĐ đi thuê tài chính: sử dụng để phản ánh tình hình hiện có,
biến động tăng hoặc giảm của TSCĐ thuê tài chính của doanh nghiệp.
Bên nợ: Phản ánh nguyên giá TSCĐ đi thuê dài hạn tăng thêm.
Bên có: Phản ánh nguyên giá TSCĐ đang thuê dài hạn giảm do trả cho
bên cho thuê hoặc mua lại.
Dư nợ: Nguyên giá TSCĐ đang thuê dài hạn
Tài khoản 212: mở chi tiết theo từng TSCĐ đi thuê và từng đơn vị cho
thuê.
- TK 213: “TSCĐ vô hình”: Tài khoản này sử dụng để phản ánh tình
hình hiện có, biến động tăng (giảm) của TSCĐ vô hình thuộc quyền sở hữu
của doanh nghiệp.
Bên nợ: Nguyên giá TSCĐ vô hình tăng thêm
Bên có: Nguyên giá TSCĐ giảm trong kỳ
TK 213 chi tiết thành 6 tiểu khoản:
2131: Quyền sử dụng đất
2132: Quyền phát hành

Nợ TK 133 (1332): thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.
Có TK 331: tổng số tiền chưa trả ngay người bán
Có TK 111, 112: thanh toán ngay (kể cả phí tổn mới)
BT2: Kết chuyển tăng nguồn vốn tương ứng (theo đúng nguyên giá):
Nợ TK 414: nếu dùng quỹ đầu tư phát triển để đầu tư
Nợ TK 441: đầu tư bằng XDCB
Có TK 411: nếu TSCĐ dùng cho hoạt động kinh doanh.
Đối với những tài sản cố định mà doanh nghiệp mua sắm bằng quỹ
phúc lợi và dùng cho hoạt động phúc lợi công cộng, kế toán phản ánh các bút
toán:
BT1: Ghi tăng nguyên giá TSCĐ:
Nợ TK 211: nguyên giá TSCĐ (tổng giá thanh toán).
Có TK 331: tổng số tiền chưa trả người bán
Có TK 111, 112: thanh toán ngay (kể cả phí tổn mới)
BT2: Kết chuyển tăng nguồn vốn tương ứng:
18
Nợ TK 431 (4321): ghi giảm quỹ phúc lợi.
Có TK 431: (4313): quỹ phúc lợi đã hình thành TSCĐ
- Trường hợp mua sắm bằng vốn vay dài hạn:
Kế toán ghi phản ánh bút toán tăng nguyên giá TSCĐ:
Nợ TK 211: nguyên giá
Nợ TK 133 (1332): thuế GTGT đầu vào đợc khấu trừ.
Có TK 341: số tiền vay dài hạn để mua sắm.
Khi thanh toán tiền vay dài hạn, tuỳ theo kế hoạch sử dụng nguồn vốn
đầu tư, kế toán mới ghi bút toán 2 (kết chuyển nguồn vốn tương ứng) như
trên.
- Trường hợp tăng do mua sắm theo phương thức trả góp, trả chậm:
Trước hết kế toán ghi tăng nguyên giá TSCĐ theo giá mua trả ngay
(không bao gồm lãi trả góp, trả chậm) cùng các chi phí liên quan đến việc đưa
TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng (nếu có):

nguyên giá TSCĐ:
Nợ TK 211 (chi tiết từng loại): ghi tăng nguyên giá
Có TK 241 (2411): ghi giảm chi phí XDCB
Đồng thời, kết chuyển nguồn vốn (đầu tư bằng vốn chủ sở hữu):
Nợ TK 414, 441, 431 (4312): ghi giảm nguồn vốn
Có TK 411: Ghi tăng nguồn vốn kinh doanh
+ Các khoản chi không hợp lý trong quá trình lắp đặt (vật tư lãng phí,
lao động và các khoản khác vợt mức bình thường) không được tính vào
nguyên giá TSCĐ mà xem xét nguyên nhân để có quyết định xử lý. Căn cứ
vào quyết định xử lý kế toán ghi:
Nợ TK 111, 112, 138, 334…: phần do các tổ chức hay cá nhân bồi
thờng do chi sai, chi vợt.
Nợ TK 632: phần còn lại tính vào giá vốn hàng bán sau khi trừ bồi
thường hay thu hồi từ phía các cá nhân, tổ chức.
Có TK 241 (2411): tổng số chi không hợp lý
- Trường hợp tăng do XDCB bàn giao:
Chi phí đầu tư XDCB được tập hợp riêng trên tài khoản 241 (2412), chi
20
tiết theo từng công trình:
Nợ TK 241 (2412): tập hợp chi phí thực tế
Nợ TK 133 (1332): thuế GTGT đầu vào đợc khấu trừ.
Có TK liên quan (331, 341, 111, 112…)
+ Khi hoàn thành, nghiệm thu, đa vào sử dụng, trước hết ghi tăng
nguyên giá TSCĐ:
Nợ TK 211 (chi tiết từng loại): ghi tăng nguyên giá
Có TK 241 (2412): kết chuyển chi phí
Đồng thời, kết chuyển nguồn vốn (đầu tư bằng vốn chủ sở hữu):
Nợ TK 414, 441, 431 (4312)
Có TK 411: ghi tăng nguồn vốn kinh doanh
Đối với các khoản chi không hợp lý trong quá trình xây dựng (vật tư

BT1: Phần chênh lệnh tăng nguyên giá:
Nợ TK 211
Có TK 412
BT2: Phần chênh lệch tăng hao mòn (nếu có):
Nợ TK 412
Có TK214
- Trường hợp phát hiện thừa trong kiểm kê:
Căn cứ vào nguyên nhân thừa cụ thể để ghi sổ cho phù hợp theo một
trong các trường hợp đã nêu (nếu do để ngoài sổ sách cha ghi sổ). Nếu TSCĐ
đó đang sử dụng, cần trích bổ sung khấu hao:
Nợ các TK liên quan (627, 641, 642).
Có TK 214 (2141)
Nếu TSCĐ thừa là đơn vị khác thì báo cho đơn vị chủ tài sản biết. Nếu
không xác định đợc chủ tài sản thì báo cho cơ quan chủ quản cấp trên và cơ
quan tài chính cung cấp để xử lý. Trong thời gian chờ xử lý kế toán theo dõi ở
TK 338 (3381):
Nợ TK 211: nguyên giá
Có TK 214: giá trị hao mòn
22
Có TK 338 (3381): giá trị còn lại.
Đối với các doanh nghiệp tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp
trực tiếp, hạch toán tăng TSCĐ cũng tiến hành tương tự như các doanh
nghiệp tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, chỉ khác số thuế
GTGT đầu vảo không tách riêng mà hạch toán vào nguyên giá TSCĐ.
3.1.2: Các nghiệp vụ giảm Tài sản cố định hữu hình:
Tài sản cố định hữu hình của doanh nghiệp giảm do nhiều nguyên nhân
khác nhau, trong đó chủ yếu do nhượng, bán, thanh lý. Tuỳ theo từng trường
hợp cụ thể, kế toán sẽ phản ánh vào sổ sách cho phù hợp.
- Nhượng bán TSCĐ:
Đối với TSCĐ không cần dùng hoặc xét thấy sử dụng không có hiệu

Có TK 133, 1331
Có TK liên quan: 111,112,331,334…
- Giảm do chuyển thành công cụ, dụng cụ nhỏ(Không đủ tiêu chuẩn ghi
nhận TSCĐ).
Trong trường họp này, kế toán cần căn cứ vào giá trị còn lại của TSCĐ
để ghi các bút toán cho phù hợp, nếu gía trị nhỏ, kế toán sẽ phân bổ hết vào
chi phí kinh doanh:
Nợ TK 214
Nợ TK 627(6273)
Nợ TK 641(6413)
Nợ TK 642(6423)
Có TK 211.
Nếu giá trị còn lại lớn sẽ đưa vào chi phí trả trước dài hạn để phân bổ
dần vào chi phí kinh doanh của các năm tài chính có liên quan.
Nợ TK 214: giá trị hao mòn luỹ kế
Nợ TK 242 giá trị còn lại
Có TK 211 nguyên giá TSCĐ.
- Giảm giá do góp vốn liên doanh bằng TSCĐ.
24
Những TSCĐ gửi đi tham gia liên doanh do không còn thuộc quyền sử
dụng và quản lý của doanh nghiệp nên đợc coi đo hết giá trị một lần.Khi góp
vốn tham gia liên doanh, các bên phải cùng nhau thống nhất đánh giá lại vốn
góp của tài sản và bên góp vốn phải lập hoá đơn GTGT về tài sản góp vốn
giao cho bên tổ chức liên doanh. Căn cứ vào các chứng từ liên quan, kế toán
phản ánh trường hợp góp vốn liên doanh tương tự như nhượng bán. Cụ thể:
BT1:Xoá sổ TSCĐ đem đi góp vốn
Nợ TK 214:Giá trị hao mòn của TSCĐ góp vốn
Nợ TK 811:Giá trị còn lại của TSCĐ góp vốn
Có TK 211:Nguyên giá TSCĐ góp vốn
BT2:Phản ánh giá trị góp vốn ghi nhận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status