TÍNH TOÁN THỦY VĂN ( Nguyễn Thanh Sơn - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội ) CHƯƠNG 9 pot - Pdf 21


130
Chương 9
DÒNG CHẢY RẮN
Dòng nước với bất kỳ qui mô nào đều thực hiện một công mà giá trị của nó phụ thuộc vào lượng nước
chảy và độ cao nước chảy trên đoạn đó. Một phần năng lượng đó được chi vào việc bào mòn và xói lở trên
sườn dốc, bờ và đáy sông ngòi, vận chuyển sản phẩm theo dòng chảy. Sản phẩm vật chất rắn và chất hòa
tan mang theo dòng nước được gọi là dòng chảy rắ
n.
Có hai loại xói mòn cơ bản là xói sâu và xói ngang. Xói sâu đặc trưng cho vùng thượng lưu và xói
ngang đặc trưng cho vùng trung, hạ lưu sông ngòi.
Khảo sát quá trình hình thành phù sa sông ngòi chỉ ra rằng, vùng cung cấp phù sa chủ yếu của sông
ngòi là vật chất từ bề mặt lưu vực và mạng lưới sông suối nhỏ đầu nguồn. Phần lớn các vật chất bị bào mòn
lắng đọng và tích tụ tại các chỗ trũng trên lưu vực và chân sườn, cửa suối, mộ
t phần vật chất hạt mịn tham
gia vào lòng sông dưới dạng phù sa lơ lửng. Một phần phù sa khi đã xâm nhập vào sông bị giữ lại ở các
công trình v.v nên các đo đạc tại các trạm thủy văn không tiến hành được.
Một lượng phù sa trong sông do sự bào mòn đáy và hai bờ trong quá trình chuyển động của dòng nước
gây nên bởi chuyển động rối và di chuyển theo dòng nước dưới hai dạng: lơ lửng và di đáy gọi là phù sa lơ
lử
ng và phù sa di đáy. Phù sa lơ lửng trong sông chiếm đại bộ phận. Ở miền đồng bằng, phù sa đáy chỉ
chiếm khoảng 10% phù sa lơ lửng, miền núi từ 10-20 % hoặc hơn nữa.
Khi nghiên cứu và tính toán dòng chảy rắn chủ yếu quan tâm đến phù sa lơ lửng.
Phù sa lơ lửng bao gồm cả các muối hòa tan và các hợp chất hoá học khác trôi theo dòng nước.
Do vậy phù sa (dòng chảy rắn) tựu trung gồm ba thành phần chính: 1) phù sa lơ lửng; 2) phù sa đáy;
3) vật chất hòa tan.
Thông tin về dòng chảy rắn và phương pháp tính toán chúng không kém phần quan trọng so với các
đặc trưng dòng chảy khác. Các đặc trưng về cường độ bào mòn từ sườn dốc và lòng suối rất cần thiết cho
các qui hoạch xây dựng. Khi thiết kế và vận hành hồ chứa người ta quan tâm nhiều đến lượng và điều kiện
lắng đọng vật chất trong sông. Số liệu này còn phục vụ cho giao thông đường thủy và các công trình đ
ô thị

0
0
6
= (9.2)
với
S
0
và M
S0
- tương ứng là độ đục trung bình nhiều năm (g/m
3
) và mô đun dòng chảy phù sa lơ lửng trung
bình nhiều năm (
T/km
2
.năm); Q
S0
và Q
0
- lưu lượng trung bình nhiều năm của phù sa lơ lửng (kg/s) và nước
(m
3
/s). F- diện tích lưu vực (km
2
).

131
Các nghiên cứu cho thấy các quá trình hình thành dòng chảy rắn được qui định bởi nhiều yếu tố cần
được tính đến khi tính toán lúc có cũng như không có quan trắc.
9.1. CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH DÒNG CHẢY RẮN

và lưu
lượng nước năm Q
n
. Chuỗi được coi là có hiệu quả nếu các điểm tương thích phân bố tương đối đều và phù
hợp với thay đổi lưu lượng nước trong tầm giá trị của chúng với suất đảm bảo từ 5-95% (hoặc 75%) và độ
lệch của một vài điểm riêng biệt không vượt quá ±20-25% so với đường trung bình. Đối với sông ngòi có
chế độ nước phức tạp với các điểm phân tán, cầ
n có chuỗi độ dài lớn hơn mới có thể có một quan hệ chặt
chẽ được. Quan hệ loại này xây dựng riêng cho mùa lũ và mùa kiệt theo số liệu lưu lượng trung bình tháng
của phù sa và nước.
Nếu chuỗi là hiệu quả thì tham số dòng chảy năm của phù sa: lưu lượng phù sa trung bình nhiều năm,
hệ số biến đổi và bất đối xứng của chúng được xác định theo phương pháp đồ giải - giải tích ho
ặc phương
pháp momen với việc xây dựng các đường cong đảm bảo thực nghiệm và lý thuyết.
Với thời kỳ quan trắc dòng phù sa không hiệu quả khi mà lượng nước thời kỳ đó sai khác với trị số
trung bình nhiều năm trong giới hạn ± 20%, chuẩn dòng chảy phù sa xấp xỉ được tính theo công thức:
tb
S
tb
S
Q
Q
Q
Q
0
0
= (9.3)

132
với Q

σ
QS0

10
÷
15%. Tính
σ
QS0
theo công thức ở phần
trên và nếu
Q
S0
được xác định bằng phương pháp đồ giải thì giá trị σ
QS0
được tính như sau:
,1
2
ln
2
2
0
1
100








- độ lệch quân phương dòng chảy năm cho thời đoạn n và tổng số N năm.
Tính biến đổi của dòng chảy phù sa năm được tính với lắng đọng lòng hồ với chuỗi ít hơn 50 năm
hoặc biết lượng phù sa với các thời đoạn lượng nước khác nhau. Khi đó sử dụng chuỗi quan trắc hoặc tính
toán lưu lượng nước và phù sa với sắp xếp theo thứ tự giảm dần và chọn dòng chảy phù sa xác suất bé đối
với việc nhóm các năm có tần su
ất khác nhau.
Sự phân bố dòng chảy phù sa trong năm với chuỗi quan trắc không ít hơn 8-10 năm được xác định
bằng cách tính các lưu lượng phù sa tháng trung bình cho các năm đặc trưng: dòng chảy phù sa trung bình,
lớn nhất và nhỏ nhất. Theo tài liệu các năm đó xác định các giá trị lưu lượng phù sa cho từng mùa.
Phân bố các giá trị độ đục nước trung bình ngày cho dưới dạng bảng, chứa số ngày có độ đục không
vượt quá các giá trị sau: 50, 100, 200, 500, 1000, 2000, 10 000 và 50 000 g/m
3
.
Khi không đầy đủ tài liệu quan trắc để tính toán trực tiếp hoặc thiếu trọn vẹn mọi đặc trưng và tham số
của dòng chảy rắn người ta xác định theo sông tương tự. Việc lựa chọn sông tương tự dựa trên việc phân
tích và so sánh các yếu tố chủ đạo xác định sự hình thành dòng chảy phù sa hai sông. Các lưu vực cần có
các giá trị độ dốc, thổ nhưỡng, độ che phủ, cày xới ao hồ và
đầm lầy gần nhau. Kích thước diện tích lưu
vực không chênh nhau quá 3-5 lần. Độ cao lưu vực không chênh nhau quá 500 mét. Cũng nên tính đến cả
sự điều tiết dòng chảy do hồ chứa và các vũng vịnh Tính toán bằng phương pháp sông tương tự có độ tin
cậy nếu trên cả hai sông tiến hành khảo sát sơ bộ một năm quan trắc đồng bộ các đo đạc thủy văn. Đặc
trưng chính của dòng chảy rắ
n là chuẩn dòng chảy phù sa lơ lửng năm của sông chưa nghiên cứu thường
xác định theo bản đồ độ đục sông ngòi và bằng phương pháp nội suy giữa các lưu vực đã nghiên cứu với
giá trị đưa về trung tâm lưu vực:
6
00
0
10
FMS

(9.6)
với
S
0
- độ đục trung bình nhiều năm của nước sông trong vùng địa đới xác định theo bản đồ; K
c
- hệ số
chuyển đổi.
Hệ số biến đổi dòng chảy năm của phù sa lơ lửng các sông chưa nghiên cứu cũng xác định theo
phương pháp sông tương tự nhưng cần tính đến các quan hệ địa phương.
Hệ số bất đối xứng các sông chưa nghiên cứu thường được lấy bằng hai lần giá trị hệ số biến đổi. Phù
sa đáy thường chiếm không đáng kể
so với phù sa lơ lửng và thường không vượt quá 20% ở vùng đồng
bằng; 30-35% ở vùng núi.
9.3. TÍNH TOÁN LẮNG ĐỌNG HỒ CHỨA
Khi tính toán lắng đọng hồ chứa và thời gian phục vụ cần có mọi tham số phù sa lơ lửng và phù sa đáy
do sông ngòi mang đến, xác định lượng vật chất do xói ngang mang đến từ bờ hồ chứa và các nhân tố lắng
đọng khác.
Lượng phù sa từ bờ xác định bằng các đặc trưng trắc địa bản đồ đoạn thung lũng sông có hồ chứa, đất
đá, vận tốc và hướng gió, sóng trong hồ.
Cầ
n làm rõ thành phần và lượng phù sa trầm tích ở đáy hồ để tính chế độ sông ngòi phía dưới đập, do
không đủ phù sa đáy nên xảy ra xói mòn mạnh v.v
Để đánh giá phân bố phù sa trong lòng hồ cần có các thông tin về các giá trị và phân bố vận tốc dòng
chảy trong hồ với các hạt phù sa lơ lửng có độ lớn thủy lực cho trước.
Với điều tiết nhiều năm và hệ số điều tiết lớn thự
c hiện cả những tính toán độ khoáng hoá của nước
với thang thành phần hoá học.
Để đánh giá gần đúng thời đoạn trung bình lắng đọng của hồ với trầm tích phù sa đều theo các chu kỳ
khác nhau sử dụng công thức:

= (9.8)
β
- mật độ trung bình của trầm tích đáy T/m
3
.
9.4. LŨ BÙN ĐÁ
Lũ bùn đá là dòng hỗn hợp nước và đất đá (60%) mạnh, ngắn với sức phá huỷ ghê gớm trên các lưu
vực sông nhỏ miền núi. Lũ bùn đá xuất hiện khi có dòng chảy mặt mạnh do mưa lớn, vỡ hồ chứa trên các
sườn đầy vật chất bị phong hoá.
Các yếu tố thuận lợi để xuất hiện lũ bùn đá là:
1. Cảnh quan vùng đồi núi - độ dốc sườn l
ưu vực và thung lũng lớn. Độ dốc dòng chảy lớn.

134
2. Sự xuất hiện trên các sườn, thung lũng và đáy sông một lượng lớn các vật chất rắn, bở rời - sản
phẩm của xói mòn.
3. Xuất hiện mưa đột ngột với cường độ lớn nhưng lượng ít.
Thực vậy lũ bùn đá hay xuất hiện tại các lưu vực vùng núi vùng sa mạc hay bán sa mạc từ các lưu vực
nhỏ có mưa lớn.
Cường độ xói mòn mạ
nh mẽ trên các lưu vực có lũ bùn đá là nhờ các yếu tố khí hậu, địa mạo lưu vực
và các sườn. Khi xảy ra lũ quét, một khối lượng lớn vật chất nằm trong trạng thái mất cân bằng cho nên chỉ
cần một tác động nhỏ (mưa lớn) là kéo theo một chuyển động lớn của khối vật chất đó xuống phía dưới và
cuốn theo các vật chất mới trên quĩ
đạo chuyển động và hình thành lũ bùn đá.
Lũ bùn đá có thể chứa tới 600 -1000 kg phù sa trên 1 m
3
nước trong khi sông ngòi có độ đục cao chỉ
có 150 kg/m
3

0
β
α
FHW
S
=
(9.10)
với
H - lớp nước mưa tạo lũ, mm;
α
- hệ số dòng chảy; F - diện tích lưu vực km
2
;
β
0
- lượng thể tích phù sa
trong một m
3
nước. Giá trị H và
α
lấy theo qui phạm tính mưa lũ.
Lũ bùn đá là một hiện tượng tai biến thiên nhiên nguy hiểm nhưng chưa được nghiên cứu kỹ. Gần đây
ở Việt Nam cũng xuất hiện nhiều lũ quét gây nhiều hậu quả nghiêm trọng cho đời sống và tàn phá môi
trường. Cần có sự quan tâm đúng mức để phòng chống, bảo vệ đời sống người dân, bảo vệ môi trường.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status