Phân tích cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam
khi Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới
PHẦN I: MỞ ĐẦU
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa đang bao trùm cả thế giới. Khi toàn cầu hóa về
nền kinh tế đang trở thành một xu hướng khách quan thì yêu cầu hội nhập nền
kinh tế quốc tế càng trở nên cấp bách. Toàn cầu hóa đòi hỏi mỗi nước phải liên
kết với các quốc gia khác để cùng phát triển. Đó là sự phát triển vượt bậc của
nền kinh tế thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tế có nhiều
sự thay đổi. Sự ra đời của các tổ chức kinh tế thế giới như WTO, EU,
AFTA và nhiều tam giác phát triển khác cũng là do toàn cầu hoá đem lại.
Trong giai đoạn hiện nay, toàn cầu hoá đang là một xu thế tất yếu của
thơì đại. Cho dù đâu đó trên trái đất này vẫn diễn ra những cuộc biểu tình chống
toàn cầu hoá, nhưng chúng ta không thể phủ nhận vai trò tích cực của nó trong
quá trình phát triển . Để tham gia vào quá trình toàn cầu hoá các nước phải tích
cực hội nhập vào nền kinh tế thế giới . Trong quá trình này các nước có nền
kinh tế phát triển vững mạnh sẽ chiếm ưu thế hơn , nhưng đây cũng chính là con
đường nhanh nhất , thuận lợi nhất để đưa các nước kém phát triển từng bước bắt
kịp với nền kinh tế thế giới . Một đất nước muốn phát triển kinh tế , thoát khỏi
tình trạng đói nghèo , tụt hậu so với thế giới thì không còn con đường nào khác
là phải chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới .
Ở Việt Nam từ những bài học qua những thành công cũng như những
thất bại của những nước xã hội chủ nghĩa đi trước và của chính mình , Đảng và
nhà nước ta cũng đã sáng suốt lựa chọn con đường mở cửa hội nhập cùng thế
giới , hợp tác và cùng phát triển . Chúng ta đang dần từng bước hội nhập vào
nền kinh tế thế giới để nhằm đưa đất nước thoát khỏi sự đói nghèo và tụt hậu
với thế giới , nâng cao thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế .
Kinh tế hợp tác Nguyễn Thị Bích Ngọc - 541365
Phân tích cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam
khi Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới
Việt Nam là một nước xuất phát từ nông nghiệp, đi lên từ nông nghiệp và
hội…
Vai trò quan trọng của các doanh nghiệp trong nền nông nghiệp ngày
càng tăng lên đòi hỏi sự quan tâm hơn nữa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế.
Thông qua bài tiểu luận mang tên : “ Phân tích cơ hội và thách thức
của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam khi Việt Nam hội nhập kinh tế
thế giới” này, em mong có một cái nhìn tổng hợp nhất về quá trình hội nhập nền
kinh tế thế giới của Việt Nam, phân tích những cơ hội và thách thức của các
doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam khi hội nhập kinh tế thế giới.
Kinh tế hợp tác Nguyễn Thị Bích Ngọc - 541365
Phân tích cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam
khi Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới
PHẦN II
QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI
CỦA VIỆT NAM
Hoạt động của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
(HNKTQT) luôn luôn là một chủ đề nóng hổi bởi vì trước hết các doanh nghiệp
là nền tảng của nền kinh tế quốc gia và tiến trình HNKTQT trực tiếp tác động
đến hoạt động của các doanh nghiệp. Việc nắm vững các cam kết hội nhập hiện
nay của ta và nhìn thấy trước triển vọng của tiến trình này trong tương lai có ý
nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp, bởi vì nó là cơ sở để các doanh
nghiệp định hướng chiến lược phát triển và kế hoạch hoạt động phù hợp với tình
hình đan xen giữa những cơ hội và thách thức, đặc biệt là sự cạnh canh ngày
càng tăng từ nhiều phía và ngay cả trên thị trường trong nước.
Có thể nói HNKTQT của Việt Nam thực sự bắt đầu cùng với sự nghiệp
đổi mới được Đại hội Đảng lần thứ 6 khởi xướng. Đây là quá trình từng bước
tiến hành tự do hoá các hoạt động kinh tế, mở cửa thị trường và tham gia vào
các tổ chức/thể chế kinh tế khu vực và thế giới. Điều này có nghĩa là chúng ta
từng bước tháo gỡ những trói buộc và cản trở đối với các hoạt động sản xuất
kinh doanh, xây dựng cơ chế kinh tế mới dựa trên những nguyên tắc của thị
- Ngày 15/6/1996 gửi đơn xin gia nhập APEC; 11/1998 được công nhận
là thành viên của APEC;
- Năm 2000 ký Hiệp định thương mại song phương Việt - Mỹ…
Kinh tế hợp tác Nguyễn Thị Bích Ngọc - 541365
Phân tích cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam
khi Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới
Đối với trong nước: Chúng ta đã làm 3 việc cơ bản: Quốc hội đã thông
qua nhiều đạo luật, văn bản dưới luật tạo hành lang pháp lý phù hợp cho hội
nhập (Ví dụ: Luật Doanh nghiệp, Luật Công ty, Luật Đầu tư nước ngoài…);
thực hiện sự chuyển đổi thể chế kinh tế, đổi mới chính sách và hệ thống kinh tế
vĩ mô và cố gắng cải cách kinh tế, xây dựng cơ chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế; để thống
nhất việc chỉ đạo quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 10/2/1998
Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 31/1998-TTg thành lập Uỷ ban quốc gia về
hợp tác kinh tế quốc tế. Uỷ ban này có nhiệm vụ giúp Thủ tướng chỉ đạo và điều
hành các bộ, ban, ngành trong việc tham gia hội nhập kinh tế quốc tế.
Như vậy, HNKTQT của Việt Nam là một tiến trình từng bước từ thấp đến
cao diễn ra trên cả phương diện đơn phương, song phương và đa phương, lồng
gép các phạm vi tiểu vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu, diễn ra trên hầu
hết các lĩnh vực gồm hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ…
Cho đến nay, các cam kết hội nhập chủ yếu của Việt Nam gồm những nội
dung cơ bản như sau:
* Về cắt giảm thuế quan
- Trong AFTA: Bắt đầu thực hiện giảm thuế quan vào 1996; về cơ bản
đưa mức thuế suất xuống còn 0-5% vào năm 2005 đối với hàng hoá nhập khẩu
từ các nước ASEAN và đạt 100% số dòng thuế ở mức 0% vào năm 2015.
- Trong APEC: Về cơ bản thực hiện mức thuế suất 0% vào 2020.
- Hiệp định Việt-Mỹ: Cắt giảm thuế quan đối với khoảng 400 dòng thuế
theo những lộ trình khác nhau.
Kinh tế hợp tác Nguyễn Thị Bích Ngọc - 541365
Chúng ta cũng đã có những cam kết cả trong khuôn khổ ASEAN, APEC,
Hiệp định Việt-Mỹ về mở cửa thị trường Việt Nam cho các nhà đầu tư nước
ngoài vào đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam, thực hiện các biện pháp tự do hoá
và thuận lợi hoá đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài và tiến tới dành cho các nhà
đầu tư nước ngoài quy chế đãi ngộ quốc gia.
* Về sở hữu trí tuệ
Những cam kết của ta dựa căn bản trên các nguyên tắc của Hiệp định
TRIPS và các công ước của WIPO. Theo đó, ta sẽ phải tôn trọng và thực hiện
bảo hộ các quyền về bản quyền tác giả, bằng phát minh sáng chế, thương hiệu,
thiết kế, kểu dáng công nghiệp, giống vật nuôi cây trồng…
* Về công khai hóa
Chúng ta phải công khai hoá các chính sách, luật lệ, quy định về chế độ
thương mại, thủ tục hành chính có liên quan và bảo đảm cho mọi người có thể
tiếp cận một cách thuận lợi và dễ dàng các thông tin đó.
Những gì chúng ta đã cam kết và thực hiện trong những năm qua được
kiểm nghiệm là đúng, cơ bản phù hợp với xu thế và điều kiện thực tế của đất
Kinh tế hợp tác Nguyễn Thị Bích Ngọc - 541365
Phân tích cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam
khi Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới
nước ta, do vậy đã đóng góp quan trọng vào những thành tựu kinh tế xã hội to
lớn của đất nước.
Trước sự gia tăng của xu thế toàn cầu hoá trong những năm tới, tiến trình
HNKTQT của chúng ta sẽ tiếp tục có những phát triển mới cả về bề rộng lẫn bề
sâu.
Trong ASEAN, quá trình tự do hoá sẽ được thúc đẩy lên mức cao hơn và
rộng hơn về phạm vi lĩnh vực nhằm biến ASEAN không chỉ thành một khu vực
mậu dịch tự do mà còn là một thị trường chung, một cộng đồng kinh tế trong
tương lai. ASEAN cũng sẽ phát triển mạnh hơn các mối liên kết kinh tế với các
đối tác ngoài khu vực để hình thành những khối liên kết kinh tế lớn hơn như các
khu vực MDTD ASEAN-Trung Quốc, ASEAN-Nhật như đã được các nhà lãnh
Tính riêng trong tháng 8 năm nay, kim ngạch xuất khẩu của cả nước đạt 2,8 tỷ
USD, nâng kim ngạch xuất khẩu trong 8 tháng qua lên hơn 20,3 tỷ USD, tăng
gần 19% so với cùng kỳ năm trước, đã chứng tỏ đường lối đổi mới và hội nhập
kinh tế quốc tế của Ðảng và Nhà nước ta đang được thực tiễn khẳng định.
Thu hút được nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tranh thủ được
nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) ngày càng lớn và giảm đáng kể nợ
nước ngoài. Năm 2004, vốn thực hiện của khu vực đầu tư nước ngoài đạt 2,85
tỷ USD, tăng 7,5% so với năm 2003 và vượt so với dự kiến ban đầu (mục tiêu
năm 2004 là 2,75 tỷ USD). Doanh thu của khu vực đầu tư nước ngoài trong năm
2004 đạt khoảng 18 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2003. Khu vực kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài đã tạo thêm việc làm cho 7,4 vạn lao động, đưa tổng số
lao động trực tiếp lên khoảng 74 vạn người. Năm 2004 cả nước đã thu hút được
hơn 4,2 tỷ USD vốn đầu tư mới, tăng 37,8% so với năm 2003, trong đó vốn cấp
mới đạt trên 2,2 tỷ USD và vốn bổ sung đạt gần 2 tỷ USD. Đây là mức đăng ký
Kinh tế hợp tác Nguyễn Thị Bích Ngọc - 541365
Phân tích cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam
khi Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới
cao nhất kể từ sau khủng hoảng tài chính khu vực diễn ra vào năm 1997.
Việc tăng cường vận động xúc tiến đầu tư ở nước ngoài, việc ký kết và
thực hiện các hiệp định song phương liên quan đến đầu tư đã xuất hiện động
thái mới về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thể hiện qua việc gia tăng số lượng
nhà đầu tư vào Việt Nam khảo sát, tìm kiếm cơ hội đầu tư, kinh doanh. Xu
hướng nói trên đã tạo điều kiện để hình thành các dự án đầu tư mới trong năm
2005. Nếu tính cả số vốn của những dự án mới được cấp phép và số vốn bổ
sung của những dự án đang hoạt động thì tổng số vốn đăng ký mới trong 7
tháng đầu năm 2005 đạt khoảng 3,2 tỷ USD, tăng 66,6% so với cùng kỳ năm
trước.
Tiếp thu được nhiều thành tựu mới về khoa học, công nghệ và kỹ năng
quản lý. Nhiều ngành kinh tế mới đã xuất hiện dựa trên cơ sở tăng cao hàm
lượng chất xám trong sản xuất - kinh doanh. Các ngành cơ khí chế tạo, đóng
hàng hoá kém, hiệu quả đầu tư thấp. Cơ cấu hàng hoá chủ yếu là bán sản phẩm
và gia công, xuất khẩu tuy với khối lượng lớn nhưng giá trị thu được thấp.
Trước xu thế nhập khẩu và sức cạnh tranh chưa đủ mạnh, có thể dẫn đến
khả năng mất thị trường trong và ngoài nước. Trong thời gian qua, mục tiêu
phát triển kinh tế của ta là hướng về xuất khẩu, nhưng thực tế lại có xu hướng
thực hiện theo mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu. Nền kinh tế đang ở
trình độ phát triển chậm, còn chênh lệch quá nhiều so với các nước trong khu
vực; đội ngũ cán bộ quản lý còn thiếu, yếu, đặc biệt là đội ngũ cán bộ làm trong
lĩnh vực kinh tế đối ngoại; Bản sắc văn hoá đang bị đe doạ, đặc biệt là lối sống
của lớp trẻ.
Với những thành công bước đầu về hội nhập kinh tế quốc tế mà Đảng và
Nhà nước ta đã xác định trong thời gian qua, chúng ta tin tưởng rằng đến năm
2020, nước ta cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp, thực hiện thắng lợi
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Kinh tế hợp tác Nguyễn Thị Bích Ngọc - 541365
Phân tích cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam
khi Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới
PHẦN III
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
3.1. Đặc điểm của các doanh nghiệp nông nghiệp ở Việt Nam
Trên 90% các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam hiện đang hoạt
động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn với quy mô lao động bình quân 10-
200 lao động/doanh nghiệp.
Quy mô huy động vốn của khối doanh nghiệp nông nghiệp, nông thôn
này đã đạt gần 30 tỷ USD, sử dụng gần 3 triệu lao động, tạo 49% việc làm phi
nông nghiệp ở nông thôn (tương đương 26% lao động cả nước); đóng góp 49%
GDP, 29% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ đạt
khoảng 2%/năm trong khi tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp bình quân
Trong quan hệ thương mại, Việt Nam xuất siêu sang phần lớn các nước
khu vực này và chủ yếu nhập siêu từ Ấn Độ, song chênh lệch thương mại giữa
hai nước bắt đầu thu hẹp đáng kể từ sau khi hiệp định FTA ASEAN - Ấn Độ có
hiệu lực.
Kinh tế hợp tác Nguyễn Thị Bích Ngọc - 541365
Phân tích cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam
khi Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới
Mặt hàng nhập khẩu từ khu vực này tập trung chủ yếu vào các loại
nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp trong nước. Ấn Độ
là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam trong khu vực, chiếm gần 1/2
kim ngạch nhập khẩu toàn khu vực.
Nhiều mặt hàng khu vực có thế mạnh như bông, hạt điều thô, dầu thô và
các chế phẩm dầu mỏ thì lượng nhập khẩu của Việt Nam vẫn còn hạn chế, chủ
yếu nhập khẩu qua trung gian do các khó khăn trong khâu thanh toán, vận
chuyển và chế biến.
Tuy nhiên, thực tế là mặc dù có sự tăng trưởng đáng kể, thương mại giữa
Việt Nam với khu vực còn ở mức thấp.
Đến nay, khu vực châu Phi, Tây Á, Nam Á vẫn là khu vực mà Việt Nam
có mức độ trao đổi thương mại thấp nhất so với các thị trường khác trên thế
giới.
Mặt hàng xuất khẩu kim ngạch lớn nhất vẫn chỉ là gạo. Các mặt hàng
nông sản khác như càphê, tiêu; hải sản, hàng dệt may, hàng tiêu dùng có tỷ
trọng giá trị gia tăng thấp.
Ông Lý Quốc Hùng, Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Phi, Tây Á, Nam Á ,
cho biết phần lớn các nước châu Phi, Trung Đông có nền nông nghiệp lạc hậu,
năng suất thấp, không thể đáp ứng đủ nhu cầu lương thực cho người dân. Do đó,
đây là thị trường hết sức tiềm năng cho mặt hàng gạo của Việt Nam.
Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam như cà phê, hạt tiêu,
cơm dừa, hạt điều, thủy sản đông lạnh, giày dép đều là những mặt hàng có
chất lượng, giá cả phù hợp với thị hiếu thị trường và có tiềm năng lâu dài (thị
kinh doanh dịch vụ ra ngoài biên giới quốc gia. Với một nền kinh tế có độ mở
lớn như nước ta, kim ngạch xuất khẩu luôn chiếm trên 60% GDP thì điều này là
đặc biệt quan trọng, là yếu tố bảo đảm tăng trưởng.
Với việc hoàn thiện hệ thống pháp luận kinh tế theo cơ chế thị trường
định hướng theo chế độ chủ nghĩa và thực hiện công khai minh bạch các thiết
chế quản lý theo quy định của WTO, môi trường kinh doanh của nước ta ngày
càng được hoàn thiện. đây là tiền đề rất quan trọng để không những phát huy
tiềm năng của các thành phần kinh tế trong mà còn thu hút mạnh đầu tư nước
ngoài, qua đó tiếp nhận vốn, công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý, thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra công ăn việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao
động, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo đảm tốc độ tăng
trưởng và rút ngắn khoảng cách phát triển.
Thực tế trong những năm qua đã chỉ rõ, cùng với phát huy nội lực, đầu tư
nước ngoài có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta và xu thế ngày càng
nổi trội: Năm 2006, đầu tư nước ngoài chiếm 37% giá trị sản xuất công nghiệp,
gần 56% kim ngạch xuất khẩu và 15,5% GDP, thu hút hơn một triệu lao động
trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Gia nhập WTO chúng ta có được vị thế bình đẳng như các thành viên
khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, có cơ hội để đấu
tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, hợp lý hơn, có điều
kiện để bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp. Đương nhiên kết quả đấu
tranh còn tùy thuộc vào thế và lực của ta, vào khả năng tập hợp lực lượng và
năng lực quản lý điều hành của ta.
Mặc dầu chủ trương của chúng ta là chủ động đổi mới,cải cách thể chế
kinh tế ở trong nước và phát huy nội lực và hội nhập với bên ngoài nhưng chính
việc gia nhập WTO, hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng thúc đẩy tiến trình
Kinh tế hợp tác Nguyễn Thị Bích Ngọc - 541365
Phân tích cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam
khi Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới
cải cách trong nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của ta đồng bộ hơn, có hiệu
cho những mặt hàng xuất khẩu truyền thống nông nghiệp và thủy sản, đồng thời
chúng ta có cơ hội tiếp cận cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO (về lâu dài)
giúp tránh được những vụ kiện vô lý như cá tra - cá ba sa giữa Việt Nam và Mỹ.
Một khi ngành nông nghiệp đứng vững trên sân chơi WTO thì kinh tế nông
nghiệp trở thành động lực chính thúc đẩy công cuộc xóa đói giảm nghèo. Lúc
đó, nông nghiệp là chìa khóa tạo ra sự ổn định và phát triển vùng nông thôn.
Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam có thêm nhiều cơ
hội phát triển.
Đồng thời Việt Nam đã có nhiều cơ hội thuận lợi để tiếp cận nguồn vốn vay,
các hình thức tín dụng và tài trợ của các tổ chức tài chính quốc tế như WB,
IMF Quá trình hội nhập WTO cũng đã góp phần nâng cao sức cạnh tranh của
nền kinh tế Việt Nam.
Các biện pháp, công cụ hỗ trợ mới của nhà nước đối với nông nghiệp và phát
triển nông thôn công bằng, phù hợp hơn.
Các ngành dịch vụ, công nghệ, công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp sẽ phát triển, cơ
sở hạ tầng ở nông thôn sẽ cải thiện.
Triển vọng tiếp cận thị trường xuất khẩu tốt hơn do vị thế mới của Việt Nam
trong WTO, trong vòng đàm phán Doha.
Thị trường nội địa phát triển, hệ thống phân phối mở rộng, thuận lợi hơn cho
tiêu thụ nông sản.
Triển vọng mở rộng thị trường ở nông thôn cho các sản phẩm, dịch vụ của
Doanh nghiệp.
Tiếp cận các nguồn lực cần thiết thuận lợi hơn.
Kinh tế hợp tác Nguyễn Thị Bích Ngọc - 541365
Phân tích cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam
khi Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới
Chi phí đầu vào có thể giảm do cạnh tranh (trong nước và nhập khẩu), xã hội
hóa một số dịch vụ, tăng nguồn cung.
Cải cách doanh nghiệp nông nghiệp, nông lâm trường quốc doanh. Tạo bình
đẳng, giải phóng một số nguồn lực (đất, quyền kinh doanh…)
thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, hợp lý hơn, có điều kiện để bảo
vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp. Đương nhiên kết quả đấu tranh còn
tuỳ thuộc vào thế và lực của ta, vào khả năng tập hợp lực lượng và năng lực quản
lý điều hành của ta.
Mặc dù chủ trương của chúng ta là chủ động đổi mới, cải cách thể chế kinh tế ở
trong nước để phát huy nội lực và hội nhập với bên ngoài nhưng chính việc gia
nhập WTO, hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng thúc đẩy tiến trình cải cách
trong nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của ta đồng bộ hơn, có hiệu quả
hơn.
Cùng với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử sau 20 năm đổi mới, việc gia
nhập WTO sẽ nâng cao vị thế của ta trên trường quốc tế, tạo điều kiện cho ta triển
khai có hiệu quả đường lối đối ngoại theo phương châm: Việt Nam mong muốn là
bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế giới vì hoà bình, hợp tác
và phát triển.
Cơ hội về kinh tế bên trong
Hoàn thiện thể chế thị trường, cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy cạnh
tranh để phát triển
Cấu trúc lại nền kinh tế về các mặt cơ cấu ngành, sản phẩm, thị trường, lao
động, các khu vực doanh nghiệp theo hướng phát huy lợi thế so sánh, tạo lợi thế
mới.
Phát triển doanh nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập.
Khai thác và phân bổ các nguồn lực của đất nước theo hướng hiệu quả, bền
vững hơn.
Cơ hội về kinh tế bên ngoài
Mở cửa thị trường các nước: hưởng quy chế MFN, không bị phân biệt đối xử.
Từ đó tăng khả năng xuất khẩu, nhập khẩu một cách hiệu quả hơn.
Thu hút đầu tư nước ngoài, kết hợp hiệu quả hơn các nguồn lực trong và ngoài
nước để phát triển.
Kinh tế hợp tác Nguyễn Thị Bích Ngọc - 541365
Phân tích cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam
Kinh tế hợp tác Nguyễn Thị Bích Ngọc - 541365
Phân tích cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam
khi Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới
bảo quản, mức chế biến thấp Chưa phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của thị
trường đô thị nội địa và xuất khẩu, thiếu thương hiệu mạnh.
Hệ thống tiêu thụ nông sản nội địa và hệ thống xuất khẩu đều cần cải thiện về
nhiều mặt (hạ tầng, vốn, tổ chức và phương thức kinh doanh chuyên nghiệp,
marketing, )
Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam có những tồn tại chủ quan hạn chế năng
lực cạnh tranh không dễ khắc phục.
Nhiều hàng rào kỹ thuật sẽ được tạo lập khi thuế quan giảm nhằm hạn chế hàng
nhập khẩu bên ngoài vào.
Những nghành có ít lợi thế so sanh sẽ bị sức ép nhiều hơn như: mía đường, sữa,
bông, chăn nuôi….
Nông sản chế biến chịu sức ép nhiều hơn so với nông sản thô. Một số nghành
hàng chăn nuôi , rau quả ôn đới chịu tác động của WTO.
Năng suất lao động rất thấp.
Chất lượng năng suất hàng hóa nhìn chung còn rất thấp không đều
Việt Nam xuất khẩu nhất nhì thế giới về gạo, cà phê, hồ tiêu, điều nhân…
nhưng chỉ mới là xuất thô, hàm lượng chất xám trong nông sản xuất khẩu chưa
nhiều.
Giá thành cao, sản xuất manh mún là yếu tố khiến ngành nông nghiệp không thể
đáp ứng những đơn đặt hàng với số lượng lớn. Các giống cây, con mới nhập vào
nước ta bán rất đắt, bà con lại không thể tùy tiện nhân giống vì vấn đề bản
quyền là những trở ngại lớn của ngành nông nghiệp. Nhiều mặt hàng nông sản
của ta hiện nay giá cao hơn nước ngoài, chất lượng không bảo đảm. Khả năng
chuyển từ xuất khẩu thô lên chế biến với thương hiệu riêng để tăng giá trị gia
tăng của các doanh nghiệp đòi hỏi cả một quá trình.
Ngành chăn nuôi cơ bản vẫn là phân tán, trình độ thấp. Giá thành cao, chất
lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập. Hai mặt
lậu; sử dụng hoá chất cấm trong chăn nuôi đang tái diễn.
Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ” hơn, trên bình diện rộng
hơn, sâu hơn. Đây là sự cạnh tranh giữa sản phẩm của ta với sản phẩm các
nước, giữa doanh nghiệp nước ta với doanh nghiệp các nước, không chỉ trên thị
trường thế giới và ngay trên thị trường nước ta do thuế nhập khẩu phải cắt giảm
từ mức trung bình 17,4% hiện nay xuống mức trung bình 13,4% trong vòng 3
đến 5 năm tới, nhiều mặt hàng còn giảm mạnh hơn.
Kinh tế hợp tác Nguyễn Thị Bích Ngọc - 541365
Phân tích cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam
khi Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới
Cạnh tranh không chỉ diễn ra ở cấp độ sản phẩm với sản phẩm, doanh
nghiệp với doanh nghiệp. Cạnh tranh còn diễn ra giữa nhà nước và nhà nước
trong việc hoạch định chính sách quản lý và chiến lược phát triển nhằm phát
huy nội lực và thu hút đầu tư từ bên ngoài. Chiến lược phát triển có phát huy
được lợi thế so sánh hay không, có thể hiện được khả năng “phản ánh vượt
trước” trong một thế giới biến đổi nhanh chóng hay không. Chính sách quản lý
có tạo được chi phí giao dịch xã hội thấp nhất cho sản xuất kinh doanh hay
không, có tạo dựng được môi trường kinh doanh, đầu tư thông thoáng, thuận lợi
hay không…
Tổng hợp các yếu tố cạnh tranh trên đây sẽ tạo nên sức cạnh tranh của
toàn bộ nền kinh tế, sức cạnh tranh quốc gia.
Trên thế giới sự “phân phối” lợi ích của toàn cầu hoá là không đồng đều. Những
nước có nền kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ít hơn. Ở mỗi quốc gia, sự
“phân phối” lợi ích cũng không đồng đều. Một bộ phận dân cư được hưởng lợi
ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hoá; nguy cơ phá sản một
bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ tăng lên, phân hoá giàu nghèo
sẽ mạnh hơn. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách phúc lợi và an sinh xã hội
đúng đắn; phải quán triệt và thực hiện thật tốt chủ trương của Đảng: “Tăng
trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội ngay trong từng bước phát triển”.