Tài Liệu
Đề Tài:
Phân tích xu hướng
giá tiêu dùng từ sau đổi mới
1
Mục lục
Mục lục 2
Đề tài: “ Phân tích xu hướng chỉ số giá tiêu dùng từ sau đổi mới” 3
Nêu vấn đề nghiên cứu 3
Tính cấp thiết 3
Mục tiêu nghiên cứu 3
4. Tóm tắt một số nghiên cứu trước đây 4
7. Khung phân tích 6
8. Các nội dung nghiên cứu chính sẽ thực hiện 7
9. Một số ý tưởng về phương pháp nghiên cứu chính sẽ tiến hành 7
11. Kết quả dự kiến của nghiên cứu. Đóng góp của nghiên cứu 8
12. Tài liệu tham khảo chính 8
13. Kế hoạch nghiên cứu 8
Cách tính chỉ số giá tiêu dùng 10
1. Cố định giỏ hàng hoá: thông qua điều tra, người ta sẽ xác định lượng hàng hoá, dịch vụ
tiêu biểu mà một người tiêu dùng điển hình mua 10
2. Xác định giá cả: thống kê giá cả của mỗi mặt hàng trong giỏ hàng hoá tại mỗi thời điểm.
10
3. Tính chi phí (bằng tiền) để mua giỏ hàng hoá bằng cách dùng số lượng nhân với giá cả
của từng loại hàng hoá rồi cộng lại 10
4. Lựa chọn thời kỳ gốc để làm cơ sở so sánh rồi tính chỉ số giá tiêu dùng bằng công thức
sau: 10
I. Đặt vấn đề 15
II. Phương pháp và mô hình kinh tế lượng 16
III. Kết quả kinh tế lượng và ý nghĩa về mặt chính sách 16
1. Tính chất của các biến 16
3
-Phân tích xu hướng biến động chỉ số giá tiêu dùng từ sau đổi mới.
-Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự biến động đó.
-Một số giải pháp khắc phục của Chính phủ.
4. Tóm tắt một số nghiên cứu trước đây
“Diễn biến chỉ số giá hàng tiêu dùng từ 1976 đến 2008” (Võ Hùng
Dũng – Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chi nhánh
Cần Thơ).
- Chỉ số giá tiêu dùng từ 1976 đến 2008.
+ Chỉ số giá tiêu dùng từ 1976 đến 1992 và lạm phát
năm 1986
• Bối cảnh kinh tế trước lạm phát năm 1986
• Lạm phát bùng nổ
• Nguyên nhân
• Tác động từ bên ngoài
+ Chỉ số giá hàng tiêu dùng từ 1993 đến 2008
• Từ lạm phát thấp đến giảm phát
• Giảm phát và suy thoái
• Lạm phát trở lại
• Nguyên nhân
- Tiền tệ, tỷ giá và lãi suất trong mối quan hệ với lạm phát.
+ Tiền tệ, tín dụng
+ Tỉ giá
+ Lãi suất
- Tác động của giá lương thực đến chỉ số giá tiêu dùng.
+ Lương thực và thực phẩm
+ Ảnh hưởng của xuất khẩu lúa gạo
+ Giá lương thực và thực phẩm, giá cánh kéo
4
- Một số tóm tắt và nhận xét
- Chỉ sổ giá tiêu dùng luôn biến động thất thường.
- Chỉ số giá tiêu dùng tăng cao thường xảy ra vào các tháng đầu năm và cuối
năm.
7. Khung phân tích
6
8. Các nội dung nghiên cứu chính sẽ thực hiện
* Cơ sở lý luận
- Khái niệm chỉ số giá tiêu dùng.
- Cách tính chỉ số giá tiêu dùng.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng.
* Cơ sở thực tiễn
- Diến biến chỉ số giá tiêu dùng từ 1986 đến nay
+ Từ 1986 đến 1992
+ Từ 1993 đến nay
- Nguyên nhân
- Giải pháp
9. Một số ý tưởng về phương pháp nghiên cứu chính sẽ tiến hành
- Phương pháp mô hình kinh tế lượng
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
- Phương pháp thống kê kinh tế
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thảo luận nhóm
Khái niệm, cách tính
CPI và các yếu tố ảnh
hưởng đến CPI
Từ 1986 đến
1992
Từ 1993 đến
nay
Diễn
- Giúp người tiêu dùng có kế hoạch chi tiêu phù hợp.
12. Tài liệu tham khảo chính
Diễn biến chỉ số giá hàng tiêu dùng từ 1976 đến 2008( Võ Hùng Dũng
– Giám đốc VCCI Cần Thơ).
Nguyễn Văn Hùng (2009), “Bài giảng môn Phương pháp nghiên cứu
kinh tế”
13. Kế hoạch nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu từ 22/02/2010 đến 10/05/2010
8
STT Nội dung chính Thời gian Hoạt động Ghi chú
1 Xác định vấn đề
nghiên cứu, tên đề
tài nghiên cứu
22/02/10 –
27/02/10
Tập trung nhóm,
họp nhóm thảo
luận
2 Thu thập tham khảo
các bài nghiên cứu
trước đây
28/02/10 –
04/03/10
Tìm đọc các
nghiên cứu trước
đây
Cập nhật cả
thông tin mới
nhất
3 Viết đề cương sơ bộ 05/03/10 –
11/05/10 –
15/05/10
Hệ thống lại kết
quả nghiên cứu,
báo cáo thử, in
bài
Bổ sung,
chỉnh sửa nếu
cần
8 Báo cáo 18/05/10 Báo cáo
Khái niệm chỉ số giá tiêu dùng ( CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng (hay được viết tắt là CPI, từ các chữ tiếng Anh Consumer Price
Index) là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàng tiêu
9
dùng theo thời gian. Sở dĩ chỉ là thay đổi tương đối vì chỉ số này chỉ dựa vào một giỏ hàng
hóa đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng.
Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đo lường mức giá và sự thay đổi của mức
giá chính là lạm phát (một chỉ tiêu khác để phản ánh mức giá chung là Chỉ số giảm phát
tổng sản phẩm trong nước hay Chỉ số điều chỉnh GDP).
Cách tính chỉ số giá tiêu dùng
Để tính toán chỉ số giá tiêu dùng người ta tính số bình quân gia quyền theo công thức
Laspeyres của giá cả của kỳ báo cáo (kỳ t) so với kỳ cơ sở. Để làm được điều đó phải tiến
hành như sau:
1. Cố định giỏ hàng hoá: thông qua điều tra, người ta sẽ xác
định lượng hàng hoá, dịch vụ tiêu biểu mà một người tiêu
dùng điển hình mua.
2. Xác định giá cả: thống kê giá cả của mỗi mặt hàng trong giỏ
hàng hoá tại mỗi thời điểm.
3. Tính chi phí (bằng tiền) để mua giỏ hàng hoá bằng cách dùng
số lượng nhân với giá cả của từng loại hàng hoá rồi cộng lại.
Năm 1992, mặc dù lạm phát vẫn còn cao, nhưng so với nhiều năm trước đó thì 17,5% là
con số rất thấp, có thể coi đó là năm chấm dứt giai đoạn lạm phát kéo dài 7 năm tính từ
năm 1985, năm đổi tiền đẩy lạm phát lên đỉnh cao.
-
Nguyên nhân
Những nguyên nhân chính đưa đến lạm phát cuối năm 80 là do sản xuất nông nghiệp suy
yếu, giá lương thực và thực phẩm tăng vọt; thâm hụt ngân sách, thâm hụt thương mại cao,
phát hành tiền cho nhu cầu chi tiêu. Nhưng nguyên nhân của các nguyên nhân là từ một
các chính sách sai lầm thời đó kể cả việcchậm trễ trong việc ra các quyết sách chống lạm
phát.
Lạm phát đã xuất hiện nhiều năm trước 1986, nhưng vào lúc đó không thừa nhận có lạm
phát trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Một vấn đề khác, cũng có thể là nguyên nhân đưa đến đánh giá thấp ảnh hưởng và tác
động của lạm phát bởi nền kinh tế ở miền Bắc chưa trải qua những năm tháng bị lạm phát
hoành hành như ở miền Nam, chưa có kinh nghiệm gì trong việc đối phó với lạm phát.
Cách tổ chức phân phối hàng hóa với 2 hệ thống khác biệt: hệ thống tem phiếu với các
cửa hàng quốc doanh và hàng hóa trên thị trường tự do. Thị trường tự do là cho mọi
người dân còn hệ thống tem phiếu và các cửa hàng mậu dịch quốc doanh chuyên phân
phối hàng hóa cho cán bộ. Cấp bậc, chức vụ càng cao thì được mua nhiều hàng với giá
phân phối rẻ, nên lãnh đạo càng ở cấp cao càng khó cảm nhận được khó khăn do vật giá
gia tăng.
- Giải pháp
Biện pháp được đưa ra vào tháng 9- 1985 là đổi tiền
Đổi tiền năm 1985 xuất hiện trong bối cảnh lạm phát đã rất cao, điều mà ngày hôm nay là
rất khó hiểu, nhưng lúc đó có thể cho rằng với đồng tiền đã bị mất giá, chỉ cần nâng mệnh
11
giá đồng bạc Việt Nam bằng cách đổi tiền thì có thể chấm dứt đà tăng giá, như vậy lạm
phát sẽ không còn.
Kết quả sau đổi tiền CPI năm 1985 tăng 92 %, năm 1986 tăng 775%, lạm phát phi mã với
tỉ lệ tăng 3 chữ số kéo dài thêm 2 năm sau đó với tỉ lệ tăng 223% rồi 394%. Đến năm
1,1 rồi 2,5%, tất cả các tháng còn lại đều tăng. Với mức tăng 9,5% năm 2004 và 8,4%
trong năm 2005 đã gây nên một số lo ngại lạm phát trở lại. Năm 2007, tín hiệu lạm phát
12
đã được phát ra ngay từ 2 tháng đầu năm với mức tăng 1,2% và 2,2%, tháng 3 giảm nhẹ
một chút rồi sau đó nóng dần lên đặc biệt là ở 2 tháng cuối năm với mức tăng 1,2% rồi
2,9% là mức tăng cao nhất của một tháng kể từ năm 1992. Lạm phát đã trở lại sau 15
năm, kể từ 1992.
•
Lạm phát và giảm phát trong cùng một năm 2008
Đầu năm 2008 giá cả tiếp tục tăng vọt, CPI tháng 3 đã tăng đến 9,2% so tháng 12 năm
2007. Tháng 4 CPI cũng duy trì ở mức rất cao, qua tháng 5 với cú sốc về giá lương thực
lại đẩy CPI tăng lên đến con số chóng mặt là 3,91%. Vào lúc đó giá xăng dầu trong nước
vẫn chưa tăng mặc dù giá quốc tế đã tăng trên 140 USD/ thùng, tâm lý lo sợ lạm phát và
khủng hoảng kinh tế đã bao trùm đẩy giá USD và các ngoại tệ khác tăng lên. Giá USD
trên thị trường có lúc gần đến 20.000 VNĐ ăn một USD. Đến tháng 6, lạm phát đến
18,4%, hầu hết các dự báo đều chỉ đến con số 30 đến trên 30% vào cuối năm.
Đến tháng 7 giá cả bắt đầu hạ nhiệt, tỉ lệ tăng CPI lần đầu trong nhiều tháng dưới mức 2%.
Việc điều chỉnh giá xăng vào ngày 21/7 với mức tăng 33% đã đẩy chỉ số giá tăng trở lại
trong tháng 8 với mức tăng 1,6%. Vào lúc Việt Nam điều chỉnh giá xăng dầu trong nước
thì giá dầu thế giới từ đỉnh cao 147USD/ thùng bắt đầu hạ nhiệt, giá lương thực trên
thị trường quốc tế cũng giảm, một số nguyên liệu cơ bản như sắt thép, xi măng, nhựa cũng
giảm đã tác động đến giá trong nước. Tháng 9, CPI chỉ tăng 0,18% và tính đến tháng 9
lạm phát ở mức 21,87%, các dự báo mới về lạm phát cả năm dao động trong khoảng 25%.
Vào tháng 11, CPI âm tháng thứ 2 thì các lo lắng về lạm phát lắng đi, thay vào đó là nỗi
lo giảm phát và suy thoái kinh tế. Ngân hàng Nhà nước bắt đầu nới lỏng chính sách tiền
tệ: giảm lãi suất cơ bản và tỉ lệ dự trữ bắt buộc với bước đi hết sức thận trọng. Các dự báo
mới về CPI cả năm ở mức 21% và Chính phủ đưa ra mục tiêu năm 2009 kiềm chế lạm
phát ở mức dưới 15% và tăng trưởng kinh tế 6,5%.
Đến tháng 12, CPI tiếp tục âm 0,68% đã đưa mức lạm phát cuối năm dưới mức 20%. Nếu
tách năm 2008 ra thành 2 nửa thì 6 tháng đầu năm lạm phát cao, bình quân mỗi tháng
Ba là, dân chủ hóa đời sống xã hội theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra", đồng thời xây dựng một nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân.
Bốn là, mở cửa tăng cường giao lưu, hợp tác với các nước trên thế giới theo tinh thần:
"Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn
đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển.
Chỉ số giá tiêu dùng Việt Nam và các yếu tố tác động - Phương pháp tiếp cận định lượng
I. Đặt vấn đề
Lạm phát phi mã dường như đã khá xa đối với nền kinh tế Việt Nam kể từ khi lạm phát
được kìm chế thành công đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Từ 1994 đến 2003, mức lạm
phát hàng năm dao động trong khoảng 0,8% đến 17%. Chỉ tiêu lạm phát do Quốc hội đưa
ra được thực hiện mà không gặp mấy khó khăn đáng kể. Thậm chí, nền kinh tế còn phải cố
gắng thoát khỏi tình trạng giảm phát sau cuộc khủng hoảng Tài chính - tiền tệ Châu Á.
Tuy nhiên, mối đe doạ lạm phát lại quay trở lại vào năm 2004 khi chỉ tiêu lạm phát do
Quốc hội đề ra không thực hiện được, lần đầu tiên sau 10 năm. Mức lạm phát đã tăng lên
9,5% trong khi chỉ tiêu của Quốc hội đưa ra chỉ có 6% và rất nhiều biện pháp kìm chế lạm
phát đã được sử dụng. Dù nguyên nhân chủ yếu của đợt lạm phát này được cho là xuất phát
cú sốc từ bên cung, do dịch cúm gia cầm gây ra song hiện tượng này làm nảy sinh một yêu
cầu phải có một phương pháp định lượng về đánh giá hiệu lực của các công cụ chính sách
đối với lạm phát.
Nghiên cứu gần đây nhất trong lĩnh vực này do Shanaka J. Peiris (2003) tiến hành, tác giả
sử dụng phương pháp hệ thống vectơ tự tương quan (VAR) với độ dài các biến trễ là 3 để
phân tích những yếu tố chủ yếu tác động đến mức giá tiêu dùng ở Việt Nam. Số liệu được
sử dụng có tần số là tháng với thời gian từ 1995 đến 2002. Kết quả là tỷ lệ tác động của tỷ
giá lên giá tiêu dùng là thấp trong khi sự tác động của giá hàng nhập khẩu đến giá tiêu
dùng xấp xỉ 1: 1. Điều này có thể được lý giải qua tỷ trọng thấp của những mặt hàng nhập
khẩu trong rổ hàng hoá tiêu dùng và tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo. Ngoài ra, vai
trò của mức cung ứng tiền tệ đối với giá tiêu dùng không lớn, CPI có độ ỳ không giúp ích
nhiều cho chính sách tiền tệ.
Bản thân VAR là một công cụ rất tốt cho việc dự báo và xử lý các vấn đề có liên quan đến
2
(t) =Logarit Giá xăng thế giới tháng t
X
3
(t)= Logarit Mức cung tiền tệ tháng t
X
4
(t) =Logarit Tỷ giá (USD/ VND )tháng t
X
5
(t)= Mức dư đầu tháng t
X
6
(t) = Biến nhị phân, nhận giá trị 1 đối với tháng có tết và trước, sau tết, giá trị 0 đối với
các tháng khác.
t = biến số thời gian (theo tháng, t = 1,2, 126)
Phương trình hồi quy:
Y(t) = - 0,784 + 0,809y(t-1) + 0,036 X
1
(t)+0,083 X
2
(t)+ 0,134 X
4
(t-1)- 0,052X
4
(t-2) +
0,008X
3
(t-7) + 0,011 X
5
tức thời và biến trễ ba trở lên không tham gia vào mô hình.
- Kiểm định đối với giá gạo thế giới cũng cho thấy là không có dấu hiệu sự có mặt của các
biến trễ giá gạo thế giới trong mô hình.
4. Ý nghĩa về mặt định tính đối với chính sách
Các ước lượng và kiểm định nêu trên cung cấp một số gợi ý có tính định lượng về tác động
của các yếu tố đến CPI.
4.1.Độ ỳ của lạm phát
Độ ỳ của lạm phát là khá lớn cho thấy sự điều chỉnh lâu dài của CPI hay nói cách khác là
dư âm lâu dài của các cú sốc. Đây có thể là kết quả của sự cạnh tranh không hoàn hảo và
"sự bất đối xứng về thông tin". Quá trình điều chỉnh lâu dài của lạm phát làm tăng ảnh
hưởng của bất kỳ cú sốc nào từ các yếu tố tác động do dư âm của những cú sốc đó kéo
dài rất lâu. Theo tính toán sau khoảng thời gian 24 tháng kể từ khi có hiệu lực mỗi cú sốc
mới phát huy hết 95% tác dụng.
4.2. Tác động của tỷ giá
Các ước lượng cho thấy tính trung bình, tỷ giá tăng 1% sẽ có xu hướng làm CPI tăng lên
0,13% ngay lập tức nhưng do dư âm còn kéo dài nên tổng tác động lên tới 0,7% trong dài
hạn. Tỷ lệ này là 1 : 0,7 thấp hơn so với tỷ lệ 1 : 1 là tỷ lệ được trông đợi đối với một nền
kinh tế có độ mở cao.
Tuy nhiên, ước lượng này tỏ ra phù hợp với thành phần rổ hàng hoá tiêu dùng. Trong số 9
nhóm hàng thì 6 nhóm có thể được xem là các mặt hàng có thể tham gia thương mại quốc
tế và có khả năng chịu tác động của tỷ giá. Ngoài ra, nhóm hàng lương thực thực phẩm
thuộc loại có khả năng tham gia thương mại quốc tế chiếm tới gần một nửa tỷ trọng rổ
hàng hoá tiêu dùng.
4.3. Tác động của giá gạo thế giới
Ước lượng cho thấy giá gạo có tác động ngay đến CPI. Giá gạo tăng 1% có xu hướng chỉ
làm CPI tăng ngay lập tức 0,036% nhưng tổng tác động trong dài hạn là 0,19%.
Việc giá gạo có tác động ngay lập tức đến CPI có thể là kết quả của việc giá các mặt hàng
nông sản đã được tự do hoá nên giá thế giới có thể ảnh hưởng ngay lập tức đến mức giá
trong nước. Chúng tôi không có số liệu cụ thể về tỷ trọng gạo trong rổ hàng hoá tiêu dùng
song tỷ lệ 1 : 0,19 dường như cũng là một ước lượng hợp lý.
được thoả mãn cho thấy tác động của bất kỳ cú sốc nào cũng sẽ giảm dần theo thời gian.
Tuy nhiên, dư âm của các cú sốc là khá lâu. Điều này có thể được giải thích bằng tình trạng
cạnh tranh không hoàn hảo và sự bất đối xứng của thông tin khi nền kinh tế trong quá trình
chuyển đổi.
Tác động của tỷ giá đến CPI lớn hơn so với giá xăng dầu và giá gạo quốc tế. Kết quả này là
phù hợp với tỷ trọng khá lớn của nhóm các hàng hoá có thể tham gia thương mại quốc tế
trong rổ hàng hoá tiêu dùng. Việc giá xăng dầu thế giới không có tác động ngay lập tức
đến CPI có thể là kết quả của việc kiểm soát giá trực tiếp.
Mức cung ứng tiền tệ có tác động đến CPI tuy với cường độ rất nhỏ và với độ trễ 6 tháng.
Điều này có cho thấy các công cụ của chính sách tiền tệ không tác động nhiều đến CPI và
có thể là sự không hợp lý đối với thành phẩm của rổ hàng hoá tiêu dùng.
Tài liệu tham khảo
Loungani, P. and Swagel, Pháp luật, 2001, "Sources of Inflation in Developing Countries",
IMF Working Paper 01/198, Washington, DC.
Shanaka J, Peiris, 2003, "Inflation Dynamics in Vietnam", IMF Country Report 03/381,
Washington, DC
Trương Văn Phước, Chu Hoàng Long
18