TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI
MÔI TRƯỜNG NƯỚC
Mục lục
A/PHẦN MỞ ĐẦU
Nước là một nhân tố quan trọng cấu thành nên môi trường, quyết định sự tồn tại
và phát triển của mỗi quốc gia cũng như của cả hành tinh. Tài nguyên nước là
nguồn tài nguyên vừa hữu hạn, vừa vô hạn tuy nhiên hiện nay nguồn tài nguyên
thiên nhiên quý hiếm và quan trọng này đang phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm và
cạn kiệt. Nguy cơ thiếu nước, đặc biệt là nước ngọt và sạch là một hiểm họa lớn
đối với sự tồn vong của con người cũng như toàn bộ sự sống trên trái đất. Trong
những trong những năm qua, sự tăng nhanh về dân số và khai thác quá mức tài
nguyên nước, các tài nguyên đất và rừng đã làm suy kiệt nguồn nước, việc phát
triển đô thị và công nghiệp nhưng không có biện pháp quản lý chặt chẽ và xử lý
chất thải theo yêu cầu cũng đã làm ô nhiễm nguồn nước . Do đó con người cần
phải nhanh chóng có các biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên
nước. Bảo vệ tài nguyên nước nay đã trở thành một trong các chính sách quan
trọng của Đảng và Nhà nước ta. Bằng những biện pháp và chính sách khác nhau,
Nhà nước ta đã và đang can thiệp mạnh mẽ và các hoạt động cả cá nhân và tổ chức
trong xã hội để bảo vệ tài nguyên nước, ngăn chặn gây ô nhiễm và suy thoái tài
nguyên nước. Vai trò to lớn của nước đối với đời sống con người cũng như tính
phức tạp của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khai thác, sử dụng, tác
động tới nước, tất yếu dẫn tới phải bảo vệ tài nguyên nước bằng pháp luật với
những quy định cụ thể về các nguồn nước và nghĩa vụ bảo vệ tài nguyên nước.Việc
bảo vệ tài nguyên nước, kiểm soát ô nhiễm và suy thoái tài nguyên nước bằng pháp
luật là một biện pháp quan trọng và đem lại hiệu quả cao, tuy nhiên vẫn còn một số
khó khăn trong việc triển khai và thực hiện. Chính vì vậy, với nội dung của bài tiêu
luận này mong muốn tìm hiểu thêm về những văn bản pháp luật hiện hành quy
định về việc kiểm soát ô nhiễm và suy thoái tài nguyên nước cũng như thực trạng
áp dụng những văn bản này ở Viêt Nam ta.
B/NỘI DUNG CHÍNH
tục bị ô nhiễm nặng. Ngay cả Hồ Tây, hàm lượng BOD đạt 4 - 25 mg/l. Hồ Bảy
Mẫu là 26 - 30mg/l, hồ Trúc Bạch 20 - 42mg/l.
Chất lượng nước sông Hồng đi qua Hà Nội, trước đây đạt loại A, trừ hàm lượng
chất lơ lửng (phù sa), nay hàm lượng BOD cực đại lên tới 10 - 16mg/l.
Nước sông Tích (Hà Tây) trước đây đạt tiêu chuẩn loại A, đến nay đã có một số
chỉ tiêu không đạt tiêu chuẩn loại A, như BOD = 8,3 (tiêu chuẩn A là £ 4 mg/l).
Chỉ còn sông Bùi là tương đối sạch, BOD xấp xỉ bằng 4 mg/l.
Sông Đồng Nai : Vùng hạ lưu (tính từ sau hồ Trị An đến điểm hợp lưu với sông
Sài Gòn), ô nhiễm hữu cơ chưa cao (DO = 4 -6 mg/l, BOD = 4 - 8 mg/l) nhưng hầu
như không đạt TCVN đối với nguồn loại A. Ô nhiễm vi sinh và dầu mỡ rõ rệt, ô
nhiễm kim loại nặng, phenol, PCB… chưa vượt tiêu chuẩn, nhiễm mặn không xảy
ra từ Long Bình đến thượng lưu. Vùng thượng lưu nước có chất lượng tốt, trừ khu
vực thành phố Đà Lạt đã bị ô nhiễm nặng do hàm lượng cao của các chất hữu cơ,
dinh dưỡng, vi sinh. Khả năng tự làm sạch của sông Đồng Nai khá tốt.
Sông Sài Gòn: Mức độ ô nhiễm là nghiêm trọng cả về hữu cơ (DO = 1,5 - 5,5
mg/l; BOD = 10 - 30 mg/l), dầu mỡ, vi sinh, không có điểm nào đạt TCVN đối với
nguồn loại A. Ô nhiễm cao nhất là ở vùng sông chảy qua trung tâm TP Hồ Chí
Minh. Ngoài ra, sông Sài Gòn còn bị axit hoá nặng do nước phèn ở đoạn Hốc Môn
- Củ Chi(pH=4,0-5,5). Từ năm 2007 đến nay, tình hình ô nhiễm tiếp tục diễn biến
phức tạp trên sông Sài Gòn - Đồng Nai, đặc biệt tại các trạm quan trắc nguồn nước
cấp cho thành phố như: Bến Củi, Bến Súc, Phú Cường, Hóa An Trong năm 2007,
độ pH tại các trạm Bến Súc, Thị Tính, Phú Cường dao động từ 5,61-5,82 không đạt
tiêu chuẩn cho phép (6-8,5). Hàm lượng DO (nồng độ oxy hòa tan) thấp hơn tiêu
chuẩn 1-1,7 lần, nồng độ coliform vượt tiêu chuẩn 3,5-31 lần. Đặc biệt trong năm
2007 ghi nhận có sự xuất hiện của dầu trong nước nguồn (tiêu chuẩn không cho
phép). Như vậy, so với năm 2006 hàm lượng DO tăng 1,2 lần, nồng độ dầu tăng
hai lần, coliform tăng 2-10 lần.
Chưa dừng lại ở đó, trong sáu tháng đầu năm 2009 ghi nhận nhiều chỉ tiêu ô nhiễm
tiếp tục gia tăng. Cụ thể như hàm lượng DO tại các trạm Bến Củi, Bến Súc, Phú
Cường và Hóa An tiếp tục tăng 1,02-1,08 lần. Nồng độ coliform tại trạm Phú
2003, 2005.
Sông Tô Lịch đã có dấu hiệu ô nhiễm kim loại nặng, vào mùa khô mức độ ô
nhiễm càng trở nên trầm trọng. Kết quả kiểm tra gần đây cho thấy lượng ôxy hòa
tan (DO) đạt rất thấp. Lượng ôxy hóa học trong nước vượt từ 7 tới 8 lần; ôxy sinh
học vượt 7 lần. Lượng khuẩn coliform trong nước cũng cao hơn tiêu chuẩn cho
phép nhiều lần. Nước ở sông Tô Lịch có màu đen, có váng, cặn lắng và có mùi
tanh. Nguyên nhân gây ô nhiễm ở sông Tô Lịch chính là tốc độ tăng dân cư quá
nhanh, nhiều nhà máy, xí nghiệp đã xả nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp
xuống sông. Chỉ với một đoạn ngắn từ đường Bưởi tới Cầu Giấy có hơn trăm cống
xả lớn, nhỏ đổ xuống con sông Tô Lịch.
Ngoài ra, ô nhiễm nước ở các sông hồ ở nội thành Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Tp Đà
Nẵng đang ở mức trầm trọng, các chỉ tiêu quan trắc đều vượt quá tiêu chuẩn cho
phép nhiều lần, thậm chí hàng trăm lần.
b/ Hiện trạng ô nhiễm nguồn nước ngầm
Nước ngầm ở một số vùng, đặc biệt là các khu công nghiệp và đô thị có nguy cơ
cạn kiệt vào mùa khô và ở một số nơi đã có dấu hiệu bị ô nhiễm. Ở nước ta, nước
sử dụng cho sinh hoạt là 70 % nước mặt và 30 % nước ngầm. Tuy nhiên, trong
những năm gần đây do khai thác quá mức nên mạch nước ngầm tại một số thành
phố lớn như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh đã bị ô nhiễm các chất hữu cơ và gây sụt
lún. Ở các vùng ven biển nước giếng khoan đã hóa mặn và tình trạng nhiễm mặn
ngày càng gia tăng.
Theo các tài liệu quan trắc mực nước từ năm 2000 đến nay, mực nước trong các
tầng chứa nước ngày càng hạ thấp, đây là nguy cơ cạn kiệt tầng chứa nước. Mực
nước hạ thấp kéo theo sự xâm nhập mặn và các chất ô nhiễm vào tầng chứa nước,
nguy cơ sụt lún mặt đất do tầng chứa nước bị tháo khô. Nước ngầm ở các trạm
quan trắc Trường Thọ, Linh Trung bị nhiễm sắt vuợt tiêu chuẩn cho phép và cao
hơn 6 tháng đầu năm 2005. Nghiêm trọng hơn, mực nước ngầm ở tầng nông tại
trạm Bình Hưng đã bị nhiễm phèn nặng. Cũng theo kết quả khảo sát của Liên đoàn
Địa chất thủy văn - Địa chất công trình miền Bắc mới đây, độ ôxy hóa trong nước
giếng khoan trên địa bàn Hà Nội đã vượt nhiều lần chỉ tiêu cho phép, nhiều nơi cao
Nhìn chung ô nhiễm nguồn nước ngầm do nhiễm mặm,nhiễm arsennic, nhiễm nhu
cầu oxy hóa học (COD) và nhu cầu oxy sinh học (BOD5 ) và Ô nhiễm hóa chất
bảo vệ thực vật
1.2.Hiện trạng môi trường nước trên thế giới
Quá trình đô thị hóa, hoạt động nông nghiệp, công nghiệp và biến đổi khí hậu
càng ngày càng gây áp lực nặng nề lên khối lượng và chất lượng nguồn nước. Theo
Viện Nước quốc tế Xtốc-khôm (SIWI), cơ quan tổ chức sự kiện này, tình trạng ô
nhiễm nguồn nước đang gia tăng ở mọi nơi trên Trái đất, với trung bình mỗi ngày
khoảng hai triệu tấn chất thải sinh hoạt bị đổ ra sông, hồ và biển. Nghiêm trọng
nhất là tại các nước đang phát triển, có đến 70% lượng chất thải công nghiệp
không qua xử lý bị trực tiếp đổ vào các nguồn nước, khiến nguồn nước cho sinh
hoạt con người bị ô nhiễm nghiêm trọng. Đại diện nhiều nước châu Phi báo động
về thảm cảnh khan hiếm nước tại lục địa này. Nguồn nước ở đây vừa rất thiếu, lại
rất thừa và bị ô nhiễm nặng nề do rác thải và sử dụng các chất hóa học vô tội vạ.
trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 tỷ tấn nước thải và 70% lượng chất
thải công nghiệp không qua xử lý đổ trực tiếp vào các nguồn nước sinh hoạt. Trên
toàn thế giới, tình trạng ô nhiễm sông ngòi là khá nghiêm trọng, những dòng sông
bị ô nhiễm nặng nề nhất là những dòng sông chảy qua các khu vực dân cư đông
đúc vốn thường tập trung ở khu vực cửa sông. Những khu vực đầu nguồn như
thượng nguồn sông Amazon chính là nơi có mức độ ô nhiễm nước thấp nhất Nhiều
vùng biển trên thế giới đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, đe dọa đến sự sống của các
loài động vật biển mà chủ yếu là nguồn ô nhiễm từ đất liền và giao thông vận tải
biển gây nên.
Anh Quốc chẳng hạn: Ðầu thế kỷ 19, sông Tamise rất sạch. Nó trở thành ống
cống lộ thiên vào giữa thế kỷ này. Các sông khác cũng có tình trạng tương tự trước
khi người ta đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt.
Nước Pháp rộng hơn, kỹ nghệ phân tán và nhiều sông lớn, nhưng vấn đề
cũng không khác bao nhiêu. Dân Paris còn uống nước sông Seine đến cuối thế kỷ
18. Từ đó vấn đề đổi khác: các sông lớn và nước ngầm nhiều nơi không còn dùng
làm nước sinh hoạt được nữa, 5.000 km sông của Pháp bị ô nhiễm mãn tính. Sông
trình sản xuất nhôm. SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản
xuất magiê đây là những nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến
toàn cầu trong đó có Việt Nam.
- Biến đổi khí hậu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nguồn tài nguyên nước.
Nguồn nước mặt khan hiếm trong mùa khô gây hạn hán, và quá dư thừa trong mùa
mưa gây lũ lụt. Nguồn nước ngầm bị suy giảm dẫn đến cạn kiệt do khai thác quá
mức và thiếu nguồn bổ sung. Cụ thể như:
+ Thay đổi khoảng thời gian mưa và khu vực mưa. Sự thay đổi này có thể làm
giảm hoặc tăng lượng mưa tại một số khu vực.
+ Bão lụt và hạn hán khắc nghiệt xuất hiện thường xuyên, kết quả của sự tăng/giảm
tổng lượng mưa.
+ Những vấn đề về chất lượng nước tại các khu vực nơi có ít dòng chảy do ô
nhiễm nguồn nước do thiên nhiên và con người gây ra
*/ Tác động của biến đổi khí hậu đến môi trường nước trên thế giới:
- Do sự nóng lên của khí hậu toàn cầu nên các lớp băng tuyết sẽ bị tan nhanh
trong những thập niên tới. Trong thế kỷ XX, mực nước biển tại châu á dâng lên
trung bình 2,4 mm/năm, riêng thập niên vừa qua là 3,1 mm/năm, dự báo sẽ tiếp tục
dâng cao hơn trong thế kỷ XXI khoảng 2,8mm - 4,3 mm/năm.
-Mực nước biển dâng lên có thể nhấn chìm nhiều vùng rộng lớn, nơi ở của hàng
triệu người sống ở các khu vực thấp ở Việt Nam, Bangladesh, Ấn Độ và Trung
Quốc,… làm khan hiếm nguồn nước ngọt ở một số nước châu Á do biến đổi khí
hậu đã làm thu hẹp các dòng sông băng ở dãy Hymalayas.
*/ Tác động của biến đổi khí hậu đến môi trường nước ở Việt Nam
Việt Nam là một trong 5 nước sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí
hậu (BĐKH) và nước biển dâng. Theo tính toán của các chuyên gia nghiên cứu
biến đối khí hậu, đến năm 2100,mực nước biển có thể dâng 1m. Theo đó, khoảng
40 nghìn km2 đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập.Còn Văn phòng quản lý
điều tra tài nguyên biển và môi trường (thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường) dự
báo: mực nước biển ở Việt Nam sẽ dâng cao từ 3- 15 cm vào năm 2010, dâng từ 15
- 90 cm vào năm 2070. Các vùng ảnh hưởng là Cà Mau, Kiên Giang, Bà Rịa- Vũng
Quốc hội ban hành
- Luật Tài nguyên nước (TNN) ngày ban hành 20/05/1998 số 08/1998/QH10
- Luật bảo vệ môi trường Quốc hội nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam thông qua
ngày 25/11/2005
- Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1999 sửa đổi năm
2010 về xử lý vi phạm tài nguyên nước
Chính phủ ban hành
- Nghị định số 179/1998/NĐ-CPquy định chi tiết thi hành luật Tài nguyên nước
- Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày ban hành 27/07/2004 quy định việc cấp giấy
phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước
- Nghị định số 34/2005/NĐ-CP ngày ban hành 17/03/2005 của Chính phủ về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước
- Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày ban hành 31/12/2009 về xử lý vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
-Nghị định số 04/2007/NĐ-CP của chính phủ về sửa đổi nghị định số 67/2003/NĐ-
CP 16/03/2003 về thu phí bảo vệ môi trường
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường ban hành:
- Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24/6/2005 hướng dẫn thi hành Nghị định
số 149/2004/NĐ-CP của Chính phủ
- Thông tư số 05/2005/ TT-BTNMT ngày 22 tháng 7 năm 2005 hướng dẫn thi hành
Nghị định số 34/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ
- Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ Về việc phê duyệt “Kế
hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng".
- Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài nguyên môi
trường về việc bắt buộc áp dụng Tiêu chuẩn việt nam về môi trường.
- Quyết định số 17/2006/QĐ-BTNMT về việc cấp phép hành nghề khoan nước
dưới đất quy mô nhỏ.
2.1. Luật Tài nguyên nước
Luật gồm 9 chương 71 điều bao gồm các nội dung:
- Những qui định chung: quy định hình thức sở hữu, đối tượng sử dụng, cơ quan
thống các văn bản dưới luật hướng dẫn chi tiết việc thực thi luật còn đang trong
quá trình xây dưng (cấp phép khai thác tài nguyên nước dưới đất, các giới hạn thải,
v.v.)Điểm đặc biệt của luật tài nguyên nước là cách tiếp cận quản lý tài nguyên
nước mang tính liên ngành và phối hợp. Cách tiếp cận này đã được triển khai thông
qua việc thành lập Hội đồng Quốc gia về Tài nguyên nước ở cấp quốc gia và các
Ban quản lý và quy hoạch lưu vực ở cấp địa phương. Các cơ quan này là các đơn
vị trực thuộc Chính phủ và có nhiệm vụ tư vấn, điều phối và quy hoạch giúp Chính
phủ.
Về cơ bản Luật Tài nguyên nước được xây dựng làm khung pháp lý linh hoạt và sẽ
được bổ sung một số Nghị định tiếp theo. Các Nghị định này sẽ quy định trách
nhiệm và nhiệm vụ của các tổ chức, cơ quan thực hiện Luật Tài nguyên nước.
2.2. Luật bảo vệ môi trường Quốc hội nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam thông
qua ngày 25/11/2005
Luật gồm 15 chương 135 điều. Luật dành chương VII đề cập đến bảo vệ nguồn
nước bao gồm môi trường nước biển, nước sông và các nguồn nước khác.
Đối với bảo vệ môi trường nước biển (quy định từ điều 55 đến điều 58), luật đưa
ra các nguyên tắc bảo vệ, các hành vi nhằm bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên
nước biển, kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường biển, các hoạt động tổ chức và
ứng phó với sự cố môi trường biển.
Đối với môi trường nước sông (qui định từ điều 59 đến điều 62), ngoài các quy
định tương tự như đối với môi trường Biển, luật còn quy định trách nhiệm của Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh đối với bảo vệ nguồn nước trong các lưu vực sông (điều 61).
Đối với các nguồn nước khác (qui định từ điều 63 đến điều 65)như phục vụ cho
thủy điện, sinh hoạt đô thị, nước dưới đất, nước trong các kênh, rạch, hồ, ao…
được quy định trong mục 3 chương VII.Với mục đích ngăn ngừa sự ô nhiễm nguồn
nước từ các nguồn chất thải rắn, chất thải lỏng, việc quản lý chất thải được quy
định trong chương VIII của Luật này.
2.3. Nghị định của chính phủ số 149/2004/NĐ-CP
Nội dung của nghị định quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài
nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước bao gồm 4 chương 25 điều. Nghị
Theo Điều 5. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính
1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước
là (1) một năm, kể từ ngày hành vi vi phạm hành chính được thực hiện. Quá thời
hạn nói trên thì không xử phạt, nhưng vẫn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu
quả quy định tại khoản 3 Điều 7 của Nghị định này.
2. Đối với cá nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc đã có quyết định đưa ra xét xử theo
thủ tục tố tụng hình sự nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ
vụ án mà hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm hành chính thì bị xử phạt vi phạm
hành chính; trong trường hợp này thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là ba tháng
kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nhận được quyết định
đình chỉ và hồ sơ vụ vi phạm của cơ quan tiến hành tố tụng.
3. Trong thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà cá nhân,
tổ chức lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính mới trong lĩnh vực tài nguyên
nước hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu quy
định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này; thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được
tính lại kể từ thời điểm thực hiện hành vi vi phạm hành chính mới hoặc thời điểm
chấm dứt hành vi cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt.
Theo Điều 7. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục
hậu quả
1. Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước, cá
nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây:
a) Cảnh cáo;
b) Phạt tiền.
Mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong
lĩnh vực tài nguyên nước là 100.000.000 đồng.
2. Căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn
có thể bị áp dụng một hoặc hai hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
a) Tước quyền sử dụng giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả
nước thải vào nguồn nước; giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất;
b) Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính.
thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước khi
giấy phép đã quá hạn dưới ba mươi (30) ngày, trừ trường hợp đã nộp hồ sơ xin gia
hạn theo quy định.Phạt tiền mức tối thiểu 100.000 đồng và tối đa là 10.000.000
đồng đối với hành vi tiếp tục xả vào nguồn nước lượng nước thải từ 5.000 m3/ngày
đêm trở lên.
Theo Điều 12. Vi phạm quy định về hành nghề khoan nước dưới đất thì mức phạt
tối thiểu là phạt tiền từ 500.000 đồng và tối đa là 14.000.000 đồng
Theo Điều 13. Gây hư hại các phương tiện, công trình, thiết bị trong hệ thống lưới
trạm điều tra cơ bản tài nguyên nước thì mức phạt tối thiểu là phạt tiền từ 50.000
đồng và tối đa 8.000.000 đồng đối với hành vi gây hư hại các phương tiện, công
trình, thiết bị đo đạc, quan trắc, thu thập dữ liệu, thông tin về tài nguyên nước.
Theo Điều 14. Vi phạm các quy định về thu thập, quản lý, khai thác, sử dụng dữ
liệu, thông tin về tài nguyên nước thì mức phạt tối thiểu là phạt tiền từ 50.000 đồng
và tối đa 5.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp các số liệu tính toán; các kết
luận điều tra, khảo sát không trung thực cho cơ quan lưu trữ dữ liệu, thông tin về
tài nguyên nước.
Theo điều Điều 15. Cản trở hoạt động quản lý nhà nước về tài nguyên nước thì
mức phạt tối thiểu là phạt tiền từ 100.000 đồng và tối đa 8.000.000 đồng đối với
hành vi cản trở công tác kiểm tra, thanh tra về tài nguyên nước do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền tiến hành.
Theo Điều 16. Các vi phạm khác trong lĩnh vực tài nguyên nước thì múc phạt tối
thiểu là phạt tiền từ 50.000 đồng đối với hành vi khai thác nước dưới đất quy mô
nhỏ trong phạm vi gia đình thuộc diện phải đăng ký nhưng không làm các thủ tục
đăng ký và tối đa 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau
đây: Xả nước thải trái phép vào tầng chứa nước hay khai thác nước dưới đất trong
vùng cấm khai thác.
2.5. Nghị định của chính phủ 117/2009/NĐ-CP Về xử lý vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Theo Điều 10. Vi phạm các quy định về xả nước thải đối với hành vi xả nước thải
vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất thải dưới 2 lần thì xử phạt tối thiểu là
sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến
bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng;
c) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến
mười năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm năm
mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất
định từ một năm đến năm năm.
Điều 182b. Tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường
1. Người nào vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường để xảy ra sự cố
môi trường hoặc vi phạm quy định về ứng phó sự cố môi trường làm môi trường bị
ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, thì bị phạt tiền từ năm
mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm
hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến
mười năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm năm
mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất
định từ một năm đến năm năm.
Điều 183. Tội gây ô nhiễm nguồn nước
1. Người nào thải vào nguồn nước dầu mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá
tiêu chuẩn cho phép, các chất thải, xác động vật, thực vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn,
ký sinh trùng độc hại và gây dịch bệnh hoặc các yếu tố độc hại khác, đã bị xử phạt
hành chính mà cố tình không thực hiện các biện pháp khắc phục theo quyết định
của cơ quan có thẩm quyền gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ mười
triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt
100 300
2 Chất rắn lơ lửng A
TSS
200 400
3 Thuỷ ngân A
Hg
10.000.000 20.000.000
4 Chì A
Pb
300.000 500.000
5 Arsenic A
As
600.000 1.000.000
6 Cadmium A
Cd
600.000 1.000.000
2.8. Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài nguyên
môi trường về việc bắt buộc áp dụng Tiêu chuẩn việt nam về môi trường
Công thức tính nồng độ tối đa cho phép các chất ô nhiễm trong nước thải công
nghiệp
a) Nồng độ tối đa cho phép các chất ô nhiễm trong nước thải của các cơ sở sản
xuất, chế biến, kinh doanh, dịch vụ thải ra các vực nước được tính như sau:
C
max
= C x K
q
x K
f
Trong đó:
C
Việc xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải được tiến
hành một cách kiên quyết và phù hợp với thực tế từng địa phương, từng ngành,
từng cơ sở; rà soát, chọn ra những cơ sở gây ô nhiễm điển hình, bức xúc nhất để xử
lý trước nhằm rút kinh nghiệm cho việc triển khai nhân rộng. Đối tượng nào gây ô
nhiễm môi trường thì đối tượng đó phải có trách nhiệm xử lý và khắc phục tình
trạng ô nhiễm một cách triệt để. Nhà nước có trách nhiệm xử lý và khắc phục ô nhiễm
môi trường đối với các trường hợp đặc thù.
Trong quá trình tiến hành xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng phải lưu ý bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động theo pháp luật
hiện hành.
3. Đánh giá hệ thống pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên nước ở Việt
Nam
3.1 Những mặt ưu điểm của hệ thống pháp luật về bảo vệ TNN
Trong những năm qua, hệ thống pháp luật về bảo vệ TNN ngày càng được bổ
sung và hoàn thiện, đã phát huy vai trò tích cực trong việc huy động mọi nguồn lực
của toàn xã hội vào việc bảo vệ TNN. Vai trò tích cực của hệ thống pháp luật về
bảo vệ TNN được biểu hiện ở những khía cạnh chủ yếu sau đây:
Thứ nhất: hệ thống pháp luật về bảo vệ TNN ra đời thể hiện sự quan tâm của
Đảng và Nhà nước ta trong việc tạo lập một khung pháp lý khả thi nhằm quản lý
chặt chẽ các nguồn TNN. Với việc ban hành Luật TNN đã từng bước đưa công tác
quản lý và sử dụng nước ở nước ta đi dần vào nề nếp; nâng cao ý thức của người
dân trong việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm nước đi đôi với bảo vệ chống gây ô nhiễm,
nhiễm bẩn và làm cạn kiệt các nguồn nước.
Thứ hai: pháp luật về bảo vệ TNN ra đời cùng với các văn bảo pháp luật khác về
bảo vệ đất; bảo vệ rừng; bảo vệ khoáng sản; bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản đã góp
phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVMT ở nước ta trong điều kiện kinh tế thị
trường. Điều này khẳng định Đảng và Nhà nước ta không chỉ quan tâm đến việc
đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, cải thiện và từng bước nâng cao mức sống cho
người dân mà còn rất chú trọng đến việc khai thác hợp lý và bảo vệ bền vững các
nguồn tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo cho con người quyền được sống trong một
việc bảo vệ, khai thác, sử dụng nguồn nước quốc tế; phòng, chống và khắc phục
hậu quả, tác hại do nguồn nước gây ra giữa các nước có chung nguồn nước trong
đó có Việt Nam do Nhà nước Việt Nam và các Nhà nước liên quan giải quyết trên
cơ sở thương lượng, phù hợp với điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam ký kết
hoặc tham gia ( khoản 1 Điều 56 Luật TNN)
3.2 Những tồn tại, hạn chế của hệ thống pháp luật về bảo vệ TNN
Bên cạnh những mặt ưu điểm không thể phủ nhận, hệ thống pháp luật về bảo vệ
TNN ở nước ta còn bộ lộc những hạn chế, tồn tại cần phải được sửa đổi, bổ sung
cho phù hợp với đòi hỏi của quản lý nhà nước về TNN trong thời kỳ tiếp tục đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay. Những mặt hạn chế, tồn tại
này được biểu hiện ở một số khía cạnh chủ yếu sau đây:
Thứ nhất: còn thiếu các văn bản hướng dẫn thi hành các quy định của Luật TNN.
Điều này đã góp phần làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước về TNN. Cụ thể:
- Thiếu các văn bản hướng dẫn chi tiết về trình tự, thủ tục đăng ký, kê khai, cấp
phép và gia hạn khai thác, sử dụng nước ngầm, nước mặt và xả nước thải;
- Thiếu các quy định về mẫu đơn xin đăng ký, kê khai và sử dụng các nguồn nước;
thiếu các mẫu giấy phép về khai thác, sử dụng các nguồn nước; thiếu các quy định
về tiêu chuẩn, định mức xả nước thải;
- Thiếu các văn bản quy định về việc thành lập hệ thống thanh tra chuyên ngành về
TNN cũng như các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra
chuyên ngành về TNN;
- Thiếu các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và sử
dụng nước;
- Thiếu các văn bản hướng dẫn chi tiết về việc điều tra cơ bản, đánh giá trữ lượng,
chất lượng và quy hoạch TNN;
- Thiếu các quy định về bảo vệ chất lượng nước; ngăn ngừa các hành vi gây cạn
kiệt các nguồn nước;
- Thiếu các quy định về phí, lệ phí và thuế tài nguyên áp dụng cho các tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân khai thác, sử dụng nước;
- Thiếu các quy định về quản lý tổng hợp lưu vực sông v.v.
mỗi cơ quan độc lập thực hiện nhiệm vụ được giao mà không có sự phối hợp chặt
chẽ, thường xuyên trong hoạt động quản lý nước. Điều này đã làm giảm hiệu lực
và hiệu quả của quản lý nhà nước về TNN.
Thứ năm: Luật TNN được ban hành năm 1998 nên một số quy định của nó không
còn phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay. Theo quy định của Luật TNN thì “Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước theo sự phân công của Chính phủ”
(khoản 2 Điều 58). Tuy nhiên, hiện nay chức năng quản lý nhà nước về TNN được
giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện theo Nghị quyết số
02/2002/QH11 ngày 05/08/2002 của Quốc hội khoá XI và Nghị định số
91/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ. Vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung các
quy định của Luật TNN cho phù hợp với thực tế và tạo điều kiện thuận lợi cho Bộ
Tài nguyên và Môi trường thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước về TNN được
giao.
Thứ sáu: theo quy định tại khoản 1 Điều 2 LuậtTNN thì: “Tài nguyên nước bao
gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển thuộc lãnh thổ
nước CHXHCN Việt Nam. Nước biển, nước dưới đất thuộc vùng đặc quyền kinh
tế, thềm lục địa được quy định tại các văn bản pháp luật khác. Nước khoáng, nước
nóng thiên nhiên do Luật Khoáng sản quy định”. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật về
TNN mới chỉ có các quy định về quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn nước
mặt, nước dưói đất mà chưa đề cập đến việc quản lý, khai thác và sử dụng các
nguồn nước biển, nước khoáng, nước nóng thiên nhiên. Nên công tác quản lý nhà
nước về nước ở nước ta chưa mang tính toàn diện và thiếu cơ sở pháp lý để quản
lý, khai thác và bảo vệ các nguồn nước biển, nước khoáng, nước nóng thiên nhiên.
- Nhiều văn bản, chính sách vẫn còn nhiều hạn chế như văn bản luật còn thiếu,
chưa cụ thể, chưa phù hợp với thực tế, bộc lộ những bất cập, vướng mắc trong quá
trình thực hiện, hiệu lực thi hành thấp. Đồng thời, sự gắn kết với các Công ước
quốc tế liên quan còn mờ nhạt.
- Sau nhiều năm thực hiện nghị định 67/2003/NĐ-CP, mặc dù đã đạt được những
kết quả khá tích cực nhưng quá trình thu và nộp phí nước thải ở Việt Nam đã xuất
kiểm tra, phân tích ô nhiễm.
-Nghị định 117/2009/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi
trường vừa được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành ngày 31/12/2009 và có hiệu
lực từ 1/3/2010, thay thế Nghị định 8//2006/NĐ-CP có đưa ra về khung tiền phạt
tối đa lên tới 500.000.000 đồng cho 01 hành vi (thẩm quyền của Chủ tịch UBND
tỉnh hoặc Chánh Thanh tra Bộ TNMT), so với trước đây cao nhất là 70 triệu đồng;
thẩm quyền xử phạt của Chánh Thanh tra Tổng cục môi trường được quy định
mới, phạt tiền đến 300.000.000 đồng; thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện
và Chánh Thanh tra Sở TN&MT phạt tiền đến 30.000.000 đồng, so với trước đây
là 20.000.000 đồng; thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp xã phạt tiền đến
2.000.000đồng, so với trước đây là 500.000 đồng; thẩm quyền xử phạt của Thanh
tra viên chuyên ngành tài nguyên và môi trường phạt tiền đến 500.000 đồng, so với
trước đây là 200.000 đồng.
Như vậy mức phạt cao nhất lên tới 500 triệu đồng, cao gấp bảy lần so với quy định
mức phạt hiện nay tối đa là 70 triệu đồng
Mức xử phạt chưa cao: hành vi xả nước thải vào nguồn nước sẽ bị xử phạt đến 100
triệu đồng theo Nghị định số 34/2005/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực tài nguyên nước mức xử phạt hành chính được áp dụng cũng
là cao nhất (100 triệu đồng) theo Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính. Tuy
nhiên, mức xử phạt này cũng chẳng thấm vào đâu so với thiệt hại mà các vi phạm
này có thể gây ra
-Năm 1999, trong Bộ luật Hình sự nhóm hành vi liên quan đến xâm hại môi trường
đã được quy định với những chế tài xử phạt cụ thể và đến năm 2009, các điều luật
này lại tiếp tục được sửa đổi cho phù hợp với thực tế hơn dù vậy Luật sửa đổi, bổ
sung Bộ luật hình sự năm 2009 (vừa có hiệu lực từ 1/1/2010) cũng đã cho thấy
nhiều vướng mắc cơ bản vẫn chưa giải quyết được. Ví dụ như, Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2009 quy định chỉ truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với cá nhân vi phạm pháp luật hình sự mà chưa quy định đối với pháp
nhân. Đây là lỗ hổng lớn của pháp luật cần phải sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản
Bộ luật Hình sự, trong đó phải thiết lập chế định trách nhiệm hình sự của pháp
đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Trong giai đoạn đầu,
chiến lược quốc gia về TNN cần tập trung vào một số nội dung cơ bản sau:
- Tiến hành đánh giá, khảo sát trữ lượng, sự phân bố và quy mô các nguồn nước
trên phạm vi toàn quốc;
- Tiến hành đánh giá đầy đủ và toàn diện về số lượng và chất lượng các nguồn
nước;
- Tiến hành đánh giá hiện trạng quản lý, khai thác, sử dụng các nguồn nước; tình
trạng nhiễm bẩn, ô nhiễm các nguồn nước;
- Xây dựng quy hoạch TNN nhằm định hướng cho việc quản lý và sử dụng nước
trong tương lai ở nước ta;
- Xây dựng và ban hành các quy định về việc hình thành, quản lý hệ thống thông
tin, cơ sở dữ liệu về TNN làm căn cứ cho hoạt động quản lý nhà nước về TNN
Thứ tư, xây dựng quy chế phối hợp hoạt động trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ
TNN giữa Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường) với Cục
Quản lý công trình thuỷ lợi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý nhà nước về TNN.
Thứ năm, khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật TNN và
các văn bản pháp luật khác có liên quan nhằm phúc đáp các yêu cầu của quản lý và
sử dụng nước trong thời kỳ tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Bên cạnh đó, cần bổ sung các quy định về quản lý, khai thác và sử dụng các
nguồn nước biển, nước khoáng, nước nóng thiên nhiên nhằm thống nhất quản lý
toàn bộ nguồn TNN nằm trong lãnh thổ Việt Nam.
C/KẾT LUẬN
Nước là tài nguyên có khả năng tái tạo nhưng không phải là vô tận.Tài nguyên
nước có tính tuần hoàn.Vòng tuần hoàn nước là sự tồn tại và vận động của nước
trên mặt đất trong lòng đất và trong bầu khí quyển của Trái đất.Vòng tuần hoàn
nước đã và đang diễn ra hàng tỉ năm và tất cả cuộc sống trên trái đất đều phụ thuộc
vào nó.Vậy có thể nói vai trò của nước là rất lớn không những với con người mà
còn toàn bộ sinh vật trên trái đất.
Qua việc tìm hiểu về một số quy định của pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước