Tiểu luận về tài nguyên nước - Pdf 13

Mục lục
I. Tài nguyên nước.
I.1. Khái niệm về tài nguyên nước.
Nước là yếu tố chủ yếu của hệ sinh thái, là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên
Trái đất và cần thiết cho mọi hoạt động kinh tế xã hội của con người. Nước là tài nguyên
tái tạo được, là một trong các nhân tố quyết định chất lượng môi trường sống của con
người.
Tài nguyên nước là lượng nước trong các sông, ao hồ, đầm lầy, biển, đại dương, khí
quyển,.. Theo luật Tài nguyên nước của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy
định: “ Tài nguyên nước, bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước
biển thuộc lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
I.2. Vai trò của tài nguyên nước trong sự sống.
Nước là thành phần cấu tạo chính yếu trong cơ thể sinh vật (60 – 90% là nước), vì
thế thiếu nước sẽ gây nhiều nguy hiểm cho cơ thể sống. Là nguyên liệu để thực hiện quá
trình quang hợp, vận chuyển các chất dinh dưỡng, là phương tiện trao đổi năng lượng và
điều hòa thân nhiệt,.. Nước là dung môi hòa tan tốt nhất các chất có trong môi trường, đặc
biệt là có tác dụng pha loãng các yếu tố gây ô nhiễm môi trường. Đồng thời, nước còn
được sử dụng thường xuyên cho các hoạt động kinh tế xã hội của con người, như trong đời
sống sinh hoạt, sản xuất, trồng trọt, nông nghiệp, công nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy
hải sản, sản xuất điện, giao thông, du lịch,…
Nước tồn tại khắp nơi trên Trái Đất, ở các dạng rắn, lỏng, khí. Tổng lượng nước
trên Trái Đất khoảng 1,4.10
18
tấn, nhưng trong đó 97% là nước mặn ở các đại dương, 2%
dưới dạng băng đá ở hai đầu cực, 1% được con người sử dụng ( 30% tưới tiêu, 50% dùng
để sản xuất năng lượng, 12% cho sản xuất công nghiệp và 7% cho sinh hoạt).
Do đó nước đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự sống trên Trái Đất, dù là
nguồn tài nguyên có thể tái tạo nhưng nước đang ngày càng bị ô nhiễm và sử dụng một
cách bất hợp lý. Nước cũng là một nguồn tài nguyên quan trọng của mỗi quốc gia, những
ảnh hưởng liên quan đến tài nguyên nước cũng sẽ có ảnh hưởng ít nhiều tới sự phát triển
cả quốc gia đó.

Mã, cao nguyên Sơn La, Mộc Châu ở tỉnh Sơn La, các cao nguyên đá vôi Đồng Văn, Mèo
Vạc ở tỉnh Hà Giang, thung lũng trung lưu sông Ba, khu vực ven biển Khánh Hòa và khu
vực nằm giữa sông Tiền và sông Hậu ở tỉnh Đồng Tháp - An Giang…
Sự phân bố mưa trong năm rất không đều và được chia thành hai mùa rõ rệt: mùa
mưa và mùa khô.
• Ở Bắc Bộ mùa mưa bắt đầu từ tháng V, VI và kết thúc sớm vào tháng IX, X;
• Ở Bắc Trung Bộ mùa mưa có xu thế xuất hiện muộn và ngắn dần từ bắc vào
nam, với mùa mưa bắt đầu vào các tháng V, VI – X, XI ở phần phía bắc và
xuất hiện muộn vào các tháng IX, X –XII ở phía nam;
• Ở Nam Trung Bộ mùa mứ xuất hiện muộn và ngắn nhất so với các vùng
khác, vào tháng IX – XII ở phần lớn các nơi, riêng ở phía Tây tỉnh Quảng
Nam xuất hiện vào tháng VIII – XI và vào tháng V – X ở Ninh Thuận – Bình
Thuận
• Ở Tây Nguyên mùa mưa kéo dài từ tháng V đến tháng X, XI ở phần lớn các
nơi, thậm chí kéo dài đến tháng XII ở khu vực phía Đông do chịu ảnh hưởng
cuả các hình thế thời tiết gây mưa ở ven biển Nam Trung Bộ.
• Ở Nam Bộ mùa mưa thường kéo dài từ tháng V đến tháng X, XI.
Mùa khô thường xuất hiện vào các tháng X, XI đến tháng IV ở Bắc Bộ, phần phía
Bắc của Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ, từ tháng XII, I đến
tháng VII, VIII ở ven biển Trung Bộ và một số nơi ở Tây Nguyên.
Chế độ mưa có ảnh hưởng đến chế độ dòng chảy sông ngòi. Cũng vì có sự phân hóa
theo mùa nên trên khắp nước ta, vào mùa mưa lượng dòng chảy sông ngòi cũng tăng lên,
ứng với mùa lũ và vào mùa khô, lượng mưa thấp, bốc hơi cao nên dòng chảy sông ngòi ít_
mùa cạn.
II.1.2. Tài nguyên nước sông ngòi.
Sông là dòng chảy thường xuyên có kích thước tương đối lớn và nước sông được
cung cấp bởi nước từ khí quyển đến dạng lỏng ( mưa) hay rắn ( tuyết) trong phạm vi lưu
vực sông. Nguồn cung cấp chính cho sông là nước mưa, chế độ mưa có ảnh hưởng đến chế
độ dòng chảy. Nước sông là thành phần chủ yếu và quan trọng nhất của tài nguyên nước
mặt.

cao Hoàng Liên Sơn, thượng nguồn sông Thu Bồn, thượng nguồn sông Đồng Nai,…).
Những vùng núi thấp có lượng mưa tương đối như cánh cung Ngân Sơn, trung lưu sông
Đồng Nai, thượng nguồn các sông Tây Nguyên,…có mật độ lưới sông từ 1,0 – 1,5
km/km
2
). Còn đại bộ phận có mật độ lưới sông từ 0,5 – 1 km/km
2
, một số vùng có mật độ
lưới sông nhỏ, dưới 0.5 km/km
2
như Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Bắc Sơn,..).
Tổng diện tích lưu vực của toàn bộ sông suối nước ta khoảng 835 tỷ m
3
, trong đó:
- Khoảng 522 tỷ m
3
(chiếm 62,5 %) là từ nước ngoài chảy vào.
- Khoảng 313 tỷ m
3
(chiếm 37,5%) dòng chảy nội địa được sinh ra trong lãnh thổ
nước ta.
Phần lớn các sông lớn của Việt Nam là sông xuyên quốc gia, từ nước ngoài chảy vào,
nên việc khai thác chung nguồn nước đã ảnh hưởng đến nguồn nước sông chảy vào lãnh
thổ nước ta. Các nước ở thượng nguồn sử dụng nhiều nước thì lượng nước đổ vào nước ta
sẽ giảm. Sự nhiễm bẩn nguồn nước ở đầu nguồn cũng sẽ dẫn đến suy giảm chất lượng
nước ở hạ lưu.
Với tổng lượng nước trung bình năm của sông ngòi Việt Nam 835 tỷ m
3
thì:
- Lượng nước sinh ra trên 1 km

Lượng dòng chảy trong mùa lũ chiếm khoảng 60 – 90% tổng lượng dòng chảy năm.
- Mùa cạn trên các sông suối : từ tháng X, XI đến tháng IV, V ở Bắc Bộ và phần phía
bắc Bắc Trung Bộ, từ tháng I đến tháng VIII, IX ở phần phía nam của Bắc Trung Bộ
và Nam Trung Bộ, từ tháng XII, I đến tháng V, VI ở Tây Nguyên và Nam Bộ.
Lượng dòng chảy trong mùa cạn chỉ chiếm khoảng 10 – 40% tổng lượng dòng chảy
năm mặc dù mùa cạn kéo dài 7 – 9 tháng.
Sự phân hóa theo mùa của dòng chảy rất mạnh trên các sông ở Tây Nguyên. Ven biển
Nam Trung Bộ còn có lũ tiều mãn vào các tháng V, VI. Lũ tiều mạn tuy không lớn nhưng
là nguồn nước quan trọng cung cấp cho sinh hoạt và tưới tiêu, hạn chế tình trạng thiếu
nước. Chế độ dòng chảy vùng hạ lưu các con sông ven biển còn chịu ảnh hưởng của triều,
đặc biệt trong mùa cạn. Bờ biển nước ta có đủ 4 kiểu thủy triều khác nhau: nhật triều đều
và không đều, bán nhật triều đều và không đều.
Theo đánh giá chất lượng nước sông ở Việt Nam là tốt, ít bị ô nhiễm:
- Độ đục của nước sông Việt Nam khá lớn, trung bình năm từ 100 – 500 g/m
3
. Độ đục
của nước sông là lượng cát bùn có trong 1 đơn vị thể tích nước sông. Hằng năm, các
sông ngòi Việt Nam vận chuyển ra biển 400 – 500 triệu tấn cát bùn, riêng sông
Hồng khoảng 120 triệu tấn/năm. Hàm lượng cát bùn lơ lửng cũng khá nhau giữa các
sông, và có sự thay đổi theo mùa: đục trong mùa lũ và trong trong mùa cạn. Khoảng
80 -90% tổng lượng cát bùn lơ lửng được chuyển tải trong mùa lũ.
Nước sông Hồng rất giàu mùn và lân, còn đạm và kali thuộc loại trung bình. Theo
nghiên cứu cứ 1000 m
3
nước phù sa trong mùa lũ sông Hồng tương đương 1 tấn
phân chuồng. Do đó khi dùng nước này để tưới ruộng sẽ làm tăng độ phì nhiêu của
đồng ruộng, làm tăng năng suất cây trồng. Tuy nhiên cũng gây nhiều khó khăn do
cát bùn bồi lấp lòng hồ và gây tồn kém cho công tác lọc nước để cung cấp nước cho
sinh hoạt và công nghiệp,…
- Độ khoáng hóa là tổng hàm lượng các ion chứa trong nước sông (mg/l). Độ khoáng

ngành, việc rửa trôi, pha loãng nước sông vào mùa lũ giúp các sông được phục hồi chất
lượng nước. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế, nhiều dòng sông
đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, chất thải sinh hoạt, chất thải từ các khu công nghiệp, đô thị,
nhà máy không qua xử lý mà xả trực tiếp xuống các nguồn nước sông, ao, hồ,…khiến cho
chất lượng nguồn nước sông ngòi ở nước ta suy giảm rõ rệt. Đây là vấn đề cấp thiết, ảnh
hưởng tới chất lượng cuộc sống con người và sự phát triển trong tương lai, do đó cần phải
có những biện pháp kịp thời để giải quyết.
II.1.3. Hồ chưa, hồ và đầm phá.
Ngoài ra, nước ta còn có nhiều ao, hồ tự nhiên và đầm phá ven biển. Như hồ Ba Bể
( Bắc Cạn) là hồ kiến tạo, nằm ở độ cao 145m so với mực nước biển trong vùng núi đá vôi;
hồ Tây ( Tp. Hà Nội) là một đoạn cắt dòng của sông Hồng; Biển Hồ (Gia Lai) trước đây là
miệng núi lửa đã ngừng hoạt động từ lâu; hồ Lắc,..
Nguồn tài nguyên nước sông ngòi của Việt Nam là khá phong phú, chế độ dòng
chảy luôn biến đổi mạnh mẽ theo thời gian và không gian, và có sự phân bố không đồng
đều trong năm, nhưng lại có tiềm năng rất lớn về thủy điện. Để khai thác nguồn lợi thế này,
nhằm phát triển thủy điện, chống lũ, cung cấp nước cho hạ du vào mùa khô, phát triển giao
thông đường thủy và cải thiện môi trường,…đã có hơn 10.000 hồ chứa nước các loại được
xây dựng với tổng dung tích khoảng 37.000 triệu km
3
, chiếm 4,4 % tổng lượng dòng chảy
năm trung bình của các sông suối.
Đầm phá thường được hình thành ở vùng ven biển miền Trung. Nằm dọc ven biển
tỉnh Thừa Thiên Huế, hệ thống đầm phá dài khoảng 68 km, bao gồm phá Tam Giang, đầm
Thủy Tú, vụng Cầu Hai và đầm Lăng Cô. Đầm phá là nơi nuôi trồng và đánh bắt thủy sản
nước lợ; đầm Trà Ổ và đầm Thị Nại ở tỉnh Bình Định; đầm Nại ở tỉnh Ninh Thuận.
II.2. Tài nguyên nước ngầm.
Bên cạnh nguồn tài nguyên sông ngòi, Việt Nam còn có nguồn tài nguyên nước
dưới đất rất dồi dào. Theo điều tra khảo sát, tổng trữ lượng động tự nhiên trên toàn lãnh thổ
Việt Nam khoảng 112.239.142 m
3

/năm (9,7%).
Tùy theo mục đích sử dụng, nước ngầm được chia làm 3 loại theo tồng độ khoáng
hóa (TDS).
- Nước ngầm nhạt (TDS < 1g/l), chiếm 92% diện tích lãnh thổ cả nước. Phân bố ở
các vùng núi và cao nguyên, các đồng bằng cao trên 10m và phần đỉnh các đồng
bằng châu thổ, các sông lớn nhỏ và vùng ven biển. Ở các vùng này toàn bộ mặt cắt
đến chiều sâu nghiên cứu đều chứa nước nhạt. Phần lớn diện tích còn lại của đồng
bằng châu thổ cũng có ít nhất 1 tầng chứa nước nhạt ở các độ sâu khác nhau.
- Nước ngầm lợ phân bố chủ yếu ở các đồng bằng châu thổ, vùng ven biển, hải đảo
và thềm lục địa Diện tích lãnh thổ phần đất liền có toàn bộ mặt cắt là nước lợ và
mặn chiếm diện tích không lớn, chỉ khoảng 25 nghìn km
2
, nhưng diện tích nước
ngầm lợ và mặn nằm xen kẽ với nước nhạt lại khá phổ biến ở đồng bằng.
- Nước ngầm mặn phân bố tương đối hạn chế ở các đồng bằng ở phần dưới mặt cắt
nhưng ở thềm lục địa và các đảo lại rất phổ biến.
Chất lượng nước ngầm của nước ta tương đối tốt, đảm bảo được yêu cầu cấp nước ăn
uống, sinh hoạt theo tiêu chuẩn của nhà nước:
- Độ pH của nước ngầm giới hạn 4,5 – 8,5 ; chủ yếu khoảng 6,5 – 7,5.
- Tổng hàm lượng muối hoặc tổng độ khoáng hóa (TDS) của nước dưới đất nằm
trong giới hạn cho phép sử dụng bằng hay nhỏ hơn 1,0 g/l, các thành phần hóa học
đa lượng cũng nằm trong giới hạn cho phép. Riêng hàm lượng Clo ở các vùng đồng
bằng thường cao hơn giới hạn cho phép với TDS lớn hơn 0,8g/l.
- Hàm lượng các thành phần nguyên tố vi lượng ( Cu, Pb, As, Hg,…) nhỏ, được phép
sử dụng cho nước ăn uống, sinh hoạt. Tuy nhiên, một số nơi thuộc đồng bằng Bắc
Bộ ( Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Giang,..) có hàm lượng Hg, As trong nước vượt quá
giới hạn cho phép cho nước sinh hoạt.
- Thành phần các vi khuẩn trong nước đều nhỏ hơn giới hạn cho phép, các chất độc
hại có nguồn gốc tự nhiên có hàm lượng dưới mức quy định. Do đó, nước ngầm
nhạt có chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn nước dùng trong ăn uống và sinh hoạt.

2,
CH
4
, CFC, NO
X
. Trong đó, CO
2
đóng tới 50% vai
trò Hiệu ứng nhà kính, CH
4
(13%), NO
X
(5%). Nguyên nhân gia tăng CO
2
là do kết quả của
đốt cháy nhiên liệu (củi, than đá, quá trình đốt trong) hay cháy rừng.
Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC ( 2007), nhiệt độ trung bình toàn cầu
tăng khoảng 0,74
o
trong thời kỳ 1900 – 2005 và tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần
đây gấp đôi so với 50 năm trước đó. ( Kịch bản Biến đổi khí hậu cho Việt Nam, Bộ tài
nguyên và môi trường. 2009).
Nhiệt độ tăng cao, kéo theo những biến đổi khí hậu, các quy luật thời tiết cũng thay
đổi theo, mà tác động của biến đổi khí hậu là rất lớn, nó tác động tới toàn bộ Trái Đất, gây
ảnh hưởng tới đời sống và các hoạt động kinh tế - xã hội. Trong những năm gần đây, hậu
quả do biến đổi khí hậu đã diễn ra nhanh chóng và khó kiểm soát, bất cứ nơi nào trên thế
giới, bất cứ quốc gia, ngành nghê, lĩnh vực kinh tế đều không thoát khỏi ảnh hưởng của
biến đổi khí hậu. Càng nhiều những cơn bão, các trận lốc xoáy nhiệt đới xuất hiện ở vùng
Tây Thái Bình Dương, sự thay đổi về lượng mưa và thời gian mưa hằng năm; tần suất,
cường độ, tính biến động của các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như bão, lốc, mưa đá,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status