CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC
PHÁT TRIỂN VÀ SỬ DỤNG
NGUỒN NHÂN LỰC
……… , tháng … năm …….
1
Mục lục
L I M UỜ ỞĐẦ 3
I. C S LÝ LU N C A VI C PHÁT TRI N VÀ S D NG NGU N NHÂN L CƠ Ở Ậ Ủ Ệ Ể Ử Ụ Ồ Ự
PHÁT TRI N KINH T TRONG TH I K QUÁ LÊN CH NGH A XÃ ĐỂ Ể Ế Ờ Ỳ ĐỘ Ủ Ĩ
H I.Ộ 4
1. Bi n ch ng c a s phát tri n l c l ng s n xu t v i s phát tri n kinh t ệ ứ ủ ự ể ự ượ ả ấ ớ ự ể ế
xã h i.ộ 4
2. L c l ng s n xu t l y u t cách m ng nh t c a s n xu tự ượ ả ấ à ế ố ạ ấ ủ ả ấ 8
3. Ngu n nhân l c trong phát tri n kinh t th i k quá lên ch ngh a xã ồ ự ể ế ờ ỳ độ ủ ĩ
h i.ộ 9
II. VI C PHÁT TRI N VÀ S D NG NGU N NHÂN L C TRONG S Ệ Ể Ử Ụ Ồ Ự Ự
NGHI P CÔNG NGHI P HÓA - HI N I HÓA C A VI T NAM HI N NAYỆ Ệ Ệ ĐẠ Ủ Ệ Ệ 12
1. Vai trò c a ngu n nhân l c trong s nghi p công nghi p hóa - hi n i ủ ồ ự ự ệ ệ ệ đạ
hóa t n cđấ ướ 12
2. Tính t t y u khách quan ph i phát tri n v s d ng ngu n nhân l c có ấ ế ả ể à ử ụ ồ ự
hi u qu n c ta hi n nayệ ảở ướ ệ 14
3. Nh ng gi i pháp phát tri n v s d ng ngu n nhân l c n c ta hi n ữ ả để ể à ử ụ ồ ự ướ ệ
nay 18
K T LU NẾ Ậ 21
2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, khi loài người đã bước sang cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật lần thứ 3 thì khoa học kỹ thuật đã thực sự trở thành lực
lượng sản xuất trực tiếp như lời Mác đã tiên đoán. Với sự phát triển mạnh mẽ
của nhiều ngành khoa học và công nghệ hiện đại, với hàm lượng chất xám
chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người. Mỗi xã hội
được đặc trưng bằng một phương thức sản xuất nhất định. Cho đến nay, lịch
sử loài người đã trải qua năm phương thức sản xuất đó là công xã nguyên
thủy, nô lệ phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Phương thức
sản xuất đóng vai trò quyết định đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội:
kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội. Sự thay thế kế tiếp nhau của các phương
thức sản xuất trong lịch sử quyết định sự phát triển của xã hội loài người từ
thấp đến cao.
Trong quá trình lao động sản xuất, một mặt là quan hệ giữa con người
với tự nhiên - lực lượng sản xuất, mặt khác là quan hệ giữa với người người
tức là quan hệ sản xuất. Phương thức sản xuất chính là, sự thống nhất giữa lực
lượng sản xuất ở một trình độ nhất định với quan hệ sản xuất tương ứng. Quy
luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất, trình độ của lực lượng sản
xuất đây là quy luật cơ bản nhất của toàn bộ lịch sử loài người, là quy luật
biến đổi phát triển của các phương thức sản xuất. Trước hết ta tìm hiểu về lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
- Lực lượng sản xuất đó là tổng thể các nhân tố vật chất kỹ thuật mà
trong mối quan hệ với nhau tạo thành sức sản xuất của xã hội. Như Mác đã
4
nói lực lượng sản xuất bao gồm nhân tố vật chất đó là tư liệu sản xuất (bao
gồm tư liệu lao động. Trong quá trình sản xuất sức lao động của con người và
tư liệu sản xuất trước hết là công cụ lao động kết hợp với nhau tạo thành lực
lượng sản xuất.
Người lao động chính là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất tác
động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất, đồng thời cũng chính
họ là người sáng tạo ra công cụ lao động. Công cụ lao động là nhân tố quan
trọng trong lực lượng sản xuất. Nó là khí quan vật chất "nối dài" nhân lên sức
mạnh của con người trong quá trình lao động biến đổi thế giới tự nhiên.
Trong thời đại ngày nay, khoa học đang ngày càng trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp. Những thành tựu của khoa học được ứng dụng nhanh
Dưới sự tác động của nhiều nhân tố như sự tích lũy dần kinh nghiệm
mà trong thời đại ngày nay với sự tác động trực tiếp và nhanh chóng của các
tri thức khoa học kỹ thuật và công nghệ vào quá trình sản xuất thì lực lượng
sản xuất không ngừng biến đổi và phát triển. Nhưng sự biến đổi và phát triển
đó trong một giới hạn nhất định thì chưa tạo ra nhu cầu khách quan của sự
biến đổi các quan hệ sản xuất. Khi sự biến đổi đó tới một giới hạn nhất định
cả về số lượng và chất thì tất yếu sẽ đặt ra nhu cầu khách quan là cải cách, cải
tổ và cao hơn là một cuộc cách mạng tới tận cơ sở quan hệ sản xuất tư liệu
chủ yếu.
Tuy nhiên những quan hệ sản xuất không tự nó biến đổi mà nó cần đến
những cuộc cải cách; cách mạng trên phương diện chính trị và thể chế Nhà
nước, cơ chế Nhà nước vì rằng những quan hệ sản xuất bao giờ cũng mang
một hình thức pháp lý, chính trị văn hóa.
Như vậy một yêu cầu khách quan được đặt ra có tính nguyên tắc đối
với các quá trình xác lập, hoàn thiện những quan hệ sản xuất phải dựa trên
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện có.
Ở nước ta đổi mới đã có những biểu hiện vận dụng chưa đúng quy luật
này biểu hiện ở việc chủ quan, nóng vội trong việc xây dựng quan hệ sản xuất
6
xã hội chủ nghĩa mà không tính tới trình độ của lực lượng sản xuất nước ta.
Một quan hệ sản xuất tiên tiến không phù hợp với trình độ thấp kém của lực
lượng sản xuất, nó đã kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất nước ta
trong một thời gian dài. Từ đổi mới 1986 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản Việt Nam, nước ta đã lựa chọn con đường phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này hoàn
toàn phù hợp với quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, bởi lẽ trình độ lực lượng sản xuất nước ta
còn thấp kém, không đồng đều. Sự không đồng đều về trình độ của lực lượng
sản xuất đòi hỏi phải có sự đa dạng phong phú của các quan hệ sản xuất.
b. Lực lượng sản xuất xã hội là yếu tố tiêu biểu cho các thời đại lịch sử
xã hội. Khi lực lượng sản xuất đạt đến trình độ xã hội hóa cao thì quan hệ sản
xuất tư bản chủ nghĩa trở lên lỗi thời kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản
xuất. Do đó, nó phải được thay thế bằng một quan hệ sản xuất tiến bộ hơn đó
là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Lực lượng sản xuất của chủ nghĩa xã hội
là lực lượng sản xuất tiên tiến, có tính xã hội hóa cao mà đỉnh cao là chủ
nghĩa cộng sản khi đó con người làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu.
Mỗi thời đại lịch sử được đặc trưng bởi một phương thức sản xuất nhất
định mà trong đó lực lượng sản xuất là yếu tố tiêu biểu cho các thời đại lịch
sử xã hội. Xã hội phát triển từ thấp đến cao xét đến cùng cũng là do lực lượng
sản xuất quyết định.
2. Lực lượng sản xuất là yếu tố cách mạng nhất của sản xuất
Sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định sự thay đổi, phát triển
của phương thức sản xuất.
Dù hình thức xã hội của sản xuất như thế nào, người lao động và tư
liệu sản xuất bao giờ cũng vẫn là những nhân tố của sản xuất. Muốn có sản
xuất nói chung thì người lao động và tư liệu sản xuất phải kết hợp với nhau.
Con người sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động để tạo
ra sản phẩm cho xã hội. Lực lượng sản xuất là yếu tộ động, luôn luôn biến đổi
8
dẫn đến sự biến đổi của quan hệ sản xuất. Nếu mối quan hệ giữa lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất thích hợp thì sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển.
Như vậy có thể nói rằng lực lượng sản xuất là yếu tố cách mạng nhất của sản
xuất. Trong thực tế lịch sử xã hội loài người, sự phát triển của sản xuất đều
được đánh dấu bằng sự tiến bộ không ngừng của lực lượng sản xuất. Các cuộc
cách mạng kỹ thuật đã mang lại sự thay đổi vượt bậc của quá trình sản xuất xã
hội về cách thức sản xuất, phương thức tổ chức quản lý
Sự khác nhau giữa một thời đại này với một thời đại kinh tế khác là
phương thức chế tạo,là những tư liệu lao động dùng để chế tạo chứ không
phải là cái người ta chế tạo ra. Những tư liệu lao động là thước đo sự phát
triển của người lao động và là những chỉ số của những quan hệ xã hội trong
sự quan tâm ngay trong quá trình đào tạo, trong quá trình sử dụng và phân
công lao động xã hội.
- Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đây là giai đoạn xây dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật hiện đại để tiến lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là ở các nước
có điểm xuất phát thấp từ một nền nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa. Mục tiêu của nước ta trong thời kỳ quá độ là "Xây dựng một nước
Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
Để thực hiện được mục tiêu này, việc phát triển và sử dụng nguồn nhân
lực để phát triển kinh tế phải được đặt lên hàng đầu.
b. Nhân tố người lao động là nhân tố quyết định trong lực lượng sản
xuất
Lực lượng sản xuất đó là sự kết hợp của hai yếu tố sức lao động của
con người và tư liệu sản xuất.Trong đó "lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn
thể nhân loại là công nhân, là người lao động" [V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến
bộ, Matxơcơva, 1977, t.38, tr.430] chính người lao động là chủ thể của quá
trình lịch sử sản xuất, với sức cạnh tranh và kĩ năng lao động của mình, sử
dụng tư liệu lao động mà trước hết là công cụ lao động tác động vào đối
tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất. Cùng với quá trình lao động
10
sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao động của con người ngày càng được tăng
lên, đặc biệt là trí tuệ của con người không ngừng phát triển, hàm lượng trí
tuệ của lao động ngày càng cao.
Cùng với người lao động thì công cụ thì công cụ lao động cũng là một
yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất, đóng vai trò quyết định trong tư liệu sản
xuất. Công cụ lao động cũng là sản phẩm do trí tuệ của con người sáng tạo ra.
Với quá trình tích lũy kinh nghiệm, với những phát minh và sáng chế kỹ
thuật, công cụ lao động không ngừng được cải tiến và hoàn thiện và nó đã làm
biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất.
Từ sự biến đổi và phát triển của hai yếu tố tư liệu lao động và sức lao
động mà lực lượng sản xuất không ngừng phát triển. Suy đến cùng nhân tố
Công nghiệp hóa ở nước ta có đặc điểm phải gắn liền với hiện đại hóa
bởi vì cuộc cách mạng khoa học hiện đại đã và đang diễn ra một số nước phát
triển bắt đầu nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức. Do đó chúng
ta cần phải tranh thủ ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại,
tiếp cận với nền kinh tế tri thức để hiện đại hóa những ngành, những khâu
những lĩnh vực có điều kiện nhảy vọt.
Ở nước ta công nghiệp hóa nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho
chủ nghĩa xã hội; tăng cường sức mạnh để bảo vệ độc lập dân tộc. Mục tiêu
tổng quát của sự nghiệp công nghiệp hóa của nước ta được Đảng cộng sản
Việt Nam xác định tại Đại hội lần thức VIII và tiếp tục khẳng định tại Đại hội
lần thứ IX là "Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa"
b. Vai trò của nguồn nhân lực đối với quá trình công nghiệp hóa - hiện
đại hóa đất nước.
Theo thống kê của Liên Hợp Quốc đến nay đã có tới 30 nước hoàn
thành công nghiệp hóa. Một lợi thế cho những người đi sau là có sẵn vô vàn
bài học thành công và thất bại của những người đi trước. Người ta đã tổng kết
12
và kể ra rất nhiều con đường công nghiệp hóa khác nhau: Công nghiệp hóa cổ
điển và phi cổ điển.
Công nghiệp hóa cổ điển đây là kiểu công nghiệp hóa mà các nước Tây
Âu và Mỹ đã thực hiện ở thế kỷ 18, 19.
- Công nghiệp loại 2: phi cổ điển là của các nước đi sau tiến hành công
nghiệp hóa một cách chủ động theo định hướng của Chính phủ. Nước ta đi
theo con đường này, và con đường này có xu hướng rút ngắn thời gian hoàn
thành.
Nói tới công nghiệp hóa - hiện đại hóa người ta đến vốn và công nghệ
hiện đại. Nhưng điều đó chỉ hoàn toàn đúng với con đường công nghiệp hóa
cổ điển, kinh nghiệm của các nước công nghiệp hóa con đường thứ hai cho
quả ở nước ta hiện nay
a. Yêu cầu ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất đồng thời xây dựng
quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ điều kiện một nền kinh tế thấp kém,
chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Dù miền
Bắc đã có hơn 50 năm và cả nước đã có trên 30 năm xây dựng chủ nghĩa xã
hội nhưng một phần lớn thời gian vẫn là tình trạng "một chủ nghĩa xã hội thời
chiến". Bên cạnh thành tựu to lớn phục vụ cho công cuộc kháng chiến và
bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật thì chúng ta cũng mắc phải những
khuyết điểm nghiêm trọng trong tổ chức quản lý, những năm 80 lâm vào tình
trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội. Sau 20 năm đổi mới nền kinh tế đã có
những thay đổi quan trọng, đã tương đối ổn định và phát triển tạo nên thế và
lực mới của cách mạng nước ta, nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, trình độ lực lượng sản xuất kém phát triển đang còn là cản trở chủ
yếu của việc xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mà quan hệ sản xuất
này vốn mang bản chất xây dựng hoá nền sản xuất xã hội. Người lao động
yếu tố động nhất, quyết định nhất của lực lượng sản xuất vẫn còn hạn chế,
chưa đáp ứng được công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.
14
Dân số nước ta thuộc loại dân số trẻ, tốc độ gia tăng dân số cao, số
người trong độ tuổi lao động lớn tạo nên sức ép trên thị trường lao động thể
hiện tỉ lệ thất nghiệp năm 2004 là 5,6% lao động trong khu vực nông thôn vẫn
chiếm tỷ lệ lớn, năm 2004 lực lượng lao động nông thôn có 32,7 triệu người
chiếm tỷ lệ 15,6% lực lượng lao động cả nước, trong đó khi lực lượng lao
động thành thị là 10,55 triệu người chiếm 24,4% [Nguyễn Tiệp - Phát triển thị
trường lao động nước ta các năm 2005 - 2010 - Nghiên cứu kinh tế 326 - tr
52].
Tỷ lệ lao động qua đào tạo của ta còn thấp chủ yếu vẫn là lao động giản
đơn. Thiếu công nhân kỹ thuật lành nghề và lành nghề cao; chưa có tác phong
công nghiệp, cơ cấu cấp trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động qua đào
các nguồn năng lượng mới… ra đời tạo bước phát triển nhảy vọt cho lực
lượng sản xuất. Suy đến cùng những thành tựu ấy đều ra con người sáng tạo
ra, con người đóng vai trò chủ thể.
Chính vì thế xu thế phát huy yếu tố, nguồn nhân lực là xu thế chung
toàn cầu. Nguồn nhân lực có chất lượng cao về trí tuệ và tay nghề ngày càng
trở thành một lợi thế cạnh tranh cho mỗi quốc gia. Nếu nguồn nhân lực chỉ
hàm chứa lao động giản đơn thì sẽ là một sức ép đối với quá trình tăng trưởng
và phát triển ở các nước chậm phát triển.
Nguồn nhân lực có dồi dào hay không là do chính sách đào tạo.
Nước Mỹ rất có ý thức chuẩn bị nguồn nhân lực trong mối quan hệ phát
triển. Cựu tổng thống Mỹ George Bush nhấn mạnh làm cho học sinh Mỹ
chiếm hàng đầu thế giới về kết quả các môn toán và khoa học tự nhiên, làm
cho nước Mỹ có văn hóa và kỹ năng cần thiết để có khả năng cạnh tranh trong
nền kinh tế thế giới.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, những chuẩn mực về kĩ năng và năng suất
lao động, về hiệu quả kinh tế, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh
ngày càng phụ thuộc vào việc vận dụng những tiến bộ công nghệ và tri thức
16
khoa học. Chỉ có con người làm chủ được tiến bộ công nghệ và tri thức khoa
học mới.
Đào tạo phát triển nguồn nhân lực đáp ứng đòi hỏi mới trở thành quốc
sách hàng đầu với các quốc gia. Các nước phát triển lợi dụng ưu thế về vốn,
kỹ thuật, đẩy nhanh đào tạo nhân tài, tranh giành người tài với các nước khác.
Các nước đang phát triển tăng cường đầu tư kinh phí cho khoa học công nghệ
giáo dục đào tạo nhân tài, đồng thời ngăn ngừa chảy máu chất xám bằng
những chính sách ưu đãi thích hợp. Chính phủ Ấn Độ đầu tư 1,1% tổng sản
phẩm kinh tế quốc dân, 87% tổng đầu tư khoa học công nghệ cho đào tạo
[Định hướng phát triển đội ngũ tri thức Việt Nam - tr.57].
Sau chiến tranh thế giới thứ II, Nhật Bản là nước bại trận bị chiến tranh
tàn phá nặng nề nhưng quốc gia này vẫn khẳng định sự lựa chọn truyền thống
hiệu tăng nhanh trở lại, vì vậy trong giai đoạn tới chúng ta vẫn phải tiếp tục
thực hiện chính sách kế hoạch hóa dân số và gia đình để trong tương lai đảm
bảo tốc độ tăng dân số trong độ tuổi lao động hàng năm hợp lý, hình thành
nguồn nhân lực chất lượng cao, tiến tới cân bằng cung và cầu lao động.
b. Nâng cao hiệu quả của hệ thống giáo dụcđào tạo
Phát triển giáo dục, đào tạo lao động giải pháp có tính chiến lược lâu
dài để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển cung lao động
chuyên môn kỹ thuật trên thị trường lao động. Giáo dục đào tạo phải thực sự
trở thành quốc sách hàng đầu. Các giải pháp cụ thể là:
Đối với các trường Cao đẳng, Đại học, trung học chuyên nghiệp cần
hoàn thiện chuẩn mực quốc gia về trường, lớp, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật
chất, trang thiết bị giảng dạy, nội dung, chương trình và phương pháp giảng
dạy để nâng cao chất lượng đào tạo trong toàn hệ thống. Phân bố hợp lý các
trường đào tạo, các cấp trình độ trên các vùng trong phạm vi cả nước.
- Mở rộng và nâng cấp hệ thống dạy nghề cho người lao động ở 3 cấp
trình độ: sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề và liên thông giữa các
trình độ, đồng thời chuyển sang đào tạo theo định hướng cầu lao động, đào
18
tạo gắn với sử dụng, gắn với nhu cầu của sản xuất, cung cấp lao động có chất
lượng về tay nghề, sức khỏe, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp và các
phẩm chất khác để đáp ứng được thị trường trong nước và nước ngoài.
- Đa dạng hóa các loại hình trường, lớp, dạy nghề của Nhà nước, của tư
nhân và quốc tế, hình thành thị trường dạy nghề phù hợp với pháp luật.
- Thực hiện quy hoạch, đầu tư tập trung vào hệ thống dạy nghề kỹ thuật
thực hành. Quan tâm xây dựng hệ thống trường dạy nghề trọng điểm quốc
gia, trường cao đẳng dạy nghề, trong đó có các trường đạt tiêu chuẩn khu vực;
các tỉnh, thành phố đều có trung tâm dạy nghề, phát triển cơ sở dạy nghề
ngoài công lập.
Bằng nhiều hình thức đa dạng đảm bảo cho mọi người được học nhất là
người nghèo và con em các gia đình thuộc diện chính sách. Động viên phong
bệnh cho người lao động định kỳ để đảm bảo tốt sức khỏe có thể lao động tốt.
Người lao động có thời gian vui chơi, giải trí để tái sản xuất sức lao động. Khi
mà những nhu cầu về chất, tinh thần của họ được đảm bảo thì họ có thể
chuyên tâm vào hoạt động sáng tạo, đảm nhiệm tốt công việc của mình.
Hiện nay tình trạng chảy máu chất xám ở nước ta rất đáng lo ngại.
Nhân tài đang có xu hướng muốn làm việc ở các nước có nền kinh tế phát
triển, ở đó họ được đáp ứng tốt về điều kiện làm việc cũng như sinh hoạt gấp
hàng chục lần trong nước. Mất mát về người tài có nguy cơ làm cho nền kinh
tế nước ta khó mà phát triển nhanh chóng. Chúng ta cần có chính sách khuyến
khích họ như tạo điều kiện về nhà ở, trả lương cao với đúng năng lực của họ
và cung cấp mọi cơ sở vật chất tốt nhất để họ có thể phát huy năng lực cống
hiến cho công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Chính sách này đã được áp
dụng ở một số tỉnh, thành phố và thu được những tín hiệu đáng mừng, tuy
nhiên cần phải được đẩy mạnh hơn nữa.
20
KẾT LUẬN
Chưa bao giờ trong lịch sử, nhân tố con người lại đóng vai trò quan
trọng trong phát triển kinh tế như thời đại ngày nay. "Máy móc không chỉ
thay thế lao động cơ bắp mà còn nhân lên sức mạnh trí tuệ con người, lực
lượng sản xuất chuyển từ dựa vào vật chất sang dựa nhiều hơn vào trí lực và
sức sáng tạo của con người, sức sáng tạo của con người là vô hạn, tài nguyên
là hữu hạn. Cho nên kinh tế dựa vào tri thức mở ra những triển vọng to lớn,
những khả năng vô hạn của con người, giải quyết những vấn đề cơ bản và cấp
bách mà mình đang phải đối mặt". [Đặng Hữu - Phát triển bền vững dựa trên
tri thức - Tạp chí lý luận chính trị/số 11 - 2004. tr 9 - 10]. Việc phát triển và
sử dụng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế Việt Nam trong thời kỳ quá
độ đã được Đảng và Nhà nước ta xác định đúng hướng. Trong điều kiện nước
ta hiện nay để chiến lược phát triển theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại
hóa đến thắng lợi, chúng ta phải lấy nguồn nhân lực con người Việt Nam -
nguồn nhân lực quan trọng nhất làm động lực cho sự phát triển lâu bền. Để