PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN XÂY DỰNG THỦY LỢI THỦY ĐIỆN THĂNG LONG - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌCKINH TẾ QUỐC DÂN
KHOANGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN XÂY DỰNG THỦY LỢI
THỦY ĐIỆN THĂNG LONG
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS. Lưu Thị Hương
Sinh viên thực hiện : Hồng Minh Hải
Lớp :TCDN 20.03
MSSV : BH.201851
Chuyên đề tốt nghiệp
Hà Nội - 11/2011
MỤC LỤC
Lời mở đầu 3
Chương I: Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp 4
1.1. Tầm quan trọng phân tích tài chính doanh nghiệp 4
1.1.1. Khái quát về doanh nghiệp 4
1.1.2. Tầm quan trọng của phân tích tài chính doanh nghiệp 6
1.2. Phân tích tài chính doanh nghiệp 6
1.2.1. Thu thập thông tin 7
1.2.2. Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 7
1.2.3. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 13
1.3. Đánh giá tình hình phân tích tài chính doanh nghiệp 31
Chương II: Phân tích tình hình tài chính Công ty cổ phần tư vấn xây dựng
Thủy lợi Thủy điện Thăng Long 32
2.1. Giới thiệu chung về Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Thủy lợi
Thủy điện Thăng Long 32
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển Công ty cổ phần tư vấn xây dựng
Thủy lợi Thủy điện Thăng Long 32

Bước sang thế kỷ 21, nền kinh tế Việt Nam có những chuyển biến tích cực,
không ngừng thúc đẩy mở cửa hợp tác với các quốc gia trong khu vực cũng như
trên thế giới và đã có những bước phát triển mạnh mẽ về mọi mặt như : Kinh tế,
chính trị, văn hóa… Tháng 11/ 2006 Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương
mại thế giới (WTO), mở ra một bước ngoặt quan trọng cho đất nước nói chung và
cho nền kinh tế nói riêng. Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa các doanh nghiệp
được đối xử bình đẳng trên một sân chơi chung, “ Mạnh thắng, yếu thua”, đó là quy
luật của nền kinh tế nhiều cơ hội cũng như nhiều thử thách. Bởi vậy, để tồn tại trong
sự đào thải khắc nghiệt ấy đòi hỏi các doanh nghiệp phải xem trọng từng bước đi,
từng yếu tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của mình. Như chúng ta đã biết, Tài
chính quyết định đến sự tồn tại, phát triển và cả sự suy vong của doanh nghiệp. Do
đó, để đảm bảo được sự tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp buộc phải có tình
hình tài chính lành mạnh và ổn định. Mỗi doanh nghiệp cần phải quan tâm đến công
tác tài chính, thường xuyên tổ chức việc phân tích, tổng hợp, đánh giá các chỉ tiêu
tài chính cũng như việc dự báo tình hình tài chính của doanh nghiệp trong những
khoảng thời gian nhất định để phát huy những mặt mạnh trong công tác tài chính
đồng thời phát hiện kịp thời những mặt yếu kém nhằm khắc phục và hoàn thiện tình
hình tài chính doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp thành đạt trong kinh doanh.
Xuất phát từ thực tế nêu trên và qua quá trình tìm hiểu, thực tập tại Công ty cổ
phần tư vấn xây dựng Thủy lợi Thủy điện Thăng Long, em đã lựa chọn đề tài:
“ Phân tích tình hình tài chính Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Thủy lợi
Thủy điện Thăng Long”
Nội dung đề tài tốt nghiệp gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương II: Phân tích tình hình tài chính Công ty cổ phần tư vấn xây dựng
Thủy lợi Thủy điện Thăng Long
Hồng Minh Hải - TCDN 20.3 4
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương III: Giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty cổ
phần tư vấn xây dựng Thủy lợi Thủy điện Thăng Long.

Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có những
đặc điểm chung sau đây;
- Hình thức sở hữu của công ty là thuộc hình thức sở hữu chung của các thành
viên công ty
- Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên mỗi
công ty không ít hơn hai và không vượt quá năm mươi.
- Công ty không được quyền phát hành cổ phần.
- Công ty là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm hữu hạn về
các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp.
b. Công ty TNHH một thành viên
Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau
đây:
- Chủ sở hữu công ty phải là một tổ chức hoặc cá nhân và có thể là: Cơ quan nhà
nước, đơn vị vũ trang, các pháp nhân của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị
– xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các loại doanh nghiệp, các
tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
- Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điểu
lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác theo quy định về chuyển đổi doanh nghiệp.
- Công ty không được phát hành cổ phần.
- Công ty có tư cách pháp nhân và chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm hữu hạn
đối với kết quả kinh doanh của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công
ty.
1.1.1.3. Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không
hạn chế tối đa.
- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn,
theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân và là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu

Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi ro phá sản
tác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánh giá
khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanh
nghiệp. Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra
những dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của
doanh nghiệp trong tương lai. Nói cách khác, phân tích tài chính là cơ sở để dự
đoán tài chính - một trong các hướng dự đoán doanh nghiệp. Phân tích tài chính có
Hồng Minh Hải - TCDN 20.3 7
Chuyên đề tốt nghiệp
thể được ứng dụng theo nhiều hướng khác nhau: với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị
các quyết định nội bộ), với mục đích nghiên cứu, thông tin hoặc theo vị trí của nhà
phân tích( trong doanh nghiệp hoặc ngoài doanh nghiệp )
1.2.1. Thu thập thông tin
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết
minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho quá
trình dự đoán tài chính. Nó bao gồm cả những thông tin nội bộ đến
những thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán và những thông
tin quản lý khác, những thông tin về số lượng và giá trị trong đó các
thông tin kế toán phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính doanh
nghiệp, là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng. Do vậy, phân
tích tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh
nghiệp.
1.2.1.1. Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thu
thập được. Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu,
ứng dụng khác nhau, có phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu
phân tích đãđặt ra : Xử lý thông tin là quá trình xắp xếp các thông tin theo những
mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên
nhân của các kết quả đãđạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định.
1.2.1.2. Dự đoán và quyết định

- So sánh chỉ tiêu thực hiện giữa các kỳ trong năm và giữa các năm cho thấy sự
biến đổi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- So sánh các chỉ tiêu của doanh nghiệp với các chỉ tiêu tương ứng của doanh
nghiệp cùng loại hoặc của doanh nghiệp cạnh tranh.
- So sánh các thông số kinh tế- kỹ thuật của các phương án sản xuất kinh doanh
khác nhau của doanh nghiệp.
Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện có thể so sánh
được của các chỉ tiêu:
- Khi so sánh các chỉ tiêu số lượng phải thống nhất về mặt chất lượng.
- Khi so sánh các chỉ tiêu chất lượng phải thống nhất về mặt số lượng.
- Khi so sánh các chỉ tiêu tổng hợp, phức tạp phải thống nhất về nội dung, cơ cấu
của các chỉ tiêu.
- Khi so sánh các chỉ tiêu hiện vật khác nhau phải tính ra các chỉ tiêu này bằng
những đơn vị tính đổi nhất định.
- Khi không so sánh được bằng các chỉ tiêu tuyệt đối thì có thể so sánh bằng các
chỉ tiêu tương đôí. Bởi vì, trong thực tế phân tích, có một số trường hợp, việc so
Hồng Minh Hải - TCDN 20.3 9
Chuyên đề tốt nghiệp
sánh các chỉ tiêu tuyệt đối không thể thực hiện được hoặc không mang một ý
nghĩa kinh tế nào cả, nhưng nếu so sánh bằng các chỉ tiêu tương đối thì hoàn
toàn cho phép và phản ánh đầy đủ, đúng đắn hiện tượng nghiên cứu.
Trong phân tích so sánh có thể sử dụng số bình quân, số tuyệt đối và số tương
đối.
Số bình quân phản ánh mặt chung nhất của hiện tượng, bỏ qua sự phát triển
không đồng đều của các bộ phận cấu thành hiện tượng đó, hay nói cách khác, số
bình quân đã san bằng mọi chênh lệch về trị số của các chỉ tiêu Số bình quân có
thể biểu thị dưới dạng số tuyệt đối hoặc dưới dạng số tương đối( tỷ suất). Khi so
sánh bằng số bình quân sẽ thấy mức độ đạt được so với bình quân chung của tổng
thể, của ngành, xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật.
Phân tích bằng số tuyệt đối cho thấy rõ khối lượng, quy mô của hiện tượng kinh

kết quả và phân loại các nhân tố thành nhân tố số lượng và nhân tố chất lượng.
- Bước 2: Sắp xếp các nhân tố theo thứ tự: nhân tố đứng sau chất lượng hơn nhân
tố đứng trước.
X= a* b* c* d
Số liệu kế hoạch: X
0
=a
0
*b
0
*c
0
*d
0
Số liệu thực tế: X
1
= a
1
*b
1
*c
1
*d
1
- Bước 3: Lập các tích số trung gian và ở mỗi tích số sau, chỉ tiêu báo cáo được
thay thế tương ứng cho chỉ tiêu kế hoạch.
X
01
= a
1

1
*b
0
*c
0
*d
0
)-(a
0
*b
0
*c
0
*d
0
)
Xb=( a
1
*b
1
*c
0
*d
0
)-( a
1
*b
0
*c
0

*b
1
*c
1
*d
0
)
Như vậy, khi có n nhân tố thì có( n- 1) lần thay thế tức là lập được( n- 1) tích số
trung gian. Khi thay đổi trình tự thay thế thì mức độ ảnh hưởng của các nhân tố sẽ
thay đổi, còn tổng mức độ ảnh hưởng của chúng thì không đổi.
Ưu điểm của phương pháp thay thế liên hoàn: Xác định được mức độ và chiều
hướng ảnh hưởng của các nhân tố, sắp xếp các nhân tố theo mức độ ảnh hưởng của
Hồng Minh Hải - TCDN 20.3 11
Chuyên đề tốt nghiệp
chúng, từ đó sẽ có biện pháp nhằm khai thác, thúc đẩy những nhân tố tích cực và
hạn chế những nhân tố tiêu cực.
Nhược điểm của phương pháp thay thế liên hoàn:
- Không có khả năng luận cứ rõ ràng trình tự cụ thể về sự thay thế của các nhân
tố cũng như tính quy ước của việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng thành các
nhân tố số lượng và các nhân tố chất lượng. Điều này càng trở nên khó khăn khi
có nhiều nhân tố trong tính toán phân tích.
- Ảnh hưởng của mỗi nhân tố được xem xét tách rời, không tính đến mối quan hệ
qua lại của nó với các nhân tố khác, mặc dù sự thay đổi của một trong các nhân
tố dẫn tới sự thay đổi của các nhân tố khác.
1.2.2.4. Phương pháp số chênh lệch
Phương pháp số chênh lệch thực chất là phương pháp rút gọn của phương pháp
thay thế liên hoàn. Do vậy, nó cũng đòi hỏi những điều kiện và cũng có những ưu
điểm, hạn chế như thay thế liên hoàn.
Theo phương pháp này, mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào đóđối với chỉ tiêu
tổng hợp được xác định bằng số chênh lệch của nhân tố đó nhân với các nhân tố

- Mức độ ảnh hưởng của nhân tố ngược chiều(N) đến chỉ tiêu nghiên cứu
N
= (%)
- Tổng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu nghiên cứu
C=
T
+
N
= (%)
Trong đó:
T, N: số chênh lệch tương đối của chỉ tiêu T và N.
CT, CN, C: mức độ ảnh hưởng của chỉ tiêu T, N và của 2 chỉ tiêu T, N
đến chỉ tiêu cá biệt đang nghiên cứu.
1.2.2.8.Phương pháp liên hệ tương quan
Là phương pháp phân tích tương quan nhằm xác định sự tồn tại và dạng của
mối liên hệ giữa các đại lượng ngẫu nhiên và cho phép đánh giá mức độ chặt chẽ
giữa các mối quan hệ đó.
Trình tự tiến hành:
- Phân tích lý luận để giải thích sự tồn tại và bản chất mối liên hệ;
- Thăm dò các mối quan hệ đó;
- Lập phương trình hồi quy căn cứ vào số tiêu thức, số lần quan sát;
- Tính toán các tham số của chương trình;
Hồng Minh Hải - TCDN 20.3 13
Chuyên đề tốt nghiệp
- Giải thích ý nghĩa kinh tế của các tham số.
1.2.3. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp có thể được trình bày theo hai cách
sau:
- Phân tích khái quát và phân tích chi tiết tình hình tài chính
- Phân tích các hoạt động tài chính và phân tích các tỷ lệ tài chính.

chú ý ( được trình bày ở phần nhu cầu và khả năng thanh toán)
b. Phân tích chi tiết tình hình tài chính
Trong phân tích chi tiết tình hình tài chính ta đi phân tích tình hình phân bổ
vốn, xem xét doanh nghiệp đã phân bổ vốn hợp lí và phát huy hiệu quả chưa? Để
phân tích, ta tiến hành xác định tỉ trọng từng khoản vốn ở thời điểm đầu kì và cuối
kì và so sánh sự thay đổi về tỉ trọng giữa đầu kì và cuối kì nhằm tìm ra nguyên nhân
của sự chênh lệch này. Qua so sánh ta thấy được sự thay đổi về số lượng, quy mô và
tỉ trọng của từng loại vốn. Để có thể thấy được tình hình thay đổi của tài sản là hợp
lí hay không cần đi sâu nghiên cứu sự biến động của tài sản. Việc đầu tư chiều sâu,
mua sắm trang thiết bị, đổi mới công nghệ để tạo tiền đề tăng năng suất lao động và
sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả hoặc đầu tư tài chính dài hạn được xem xét thông
qua các chỉ tiêu: Tỉ suất đầu tư chung, tỉ suất đầu tư tài sản cố định, tỉ suất đầu tư tài
chính dài hạn. Bên cạnh đó việc phân tích kết cấu nguồn vốn; phân tích tình hình
công nợ và khả năng thanh toán; phân tích hiệu quả và khả năng sinh lợi của vốn;
phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ được phân
tích một cách cụ thể và được trình bày cụ thể trong Chương 2 của đề án này.
1.2.3.2. Phân tích các hoạt động tài chính và phân tích các tỷ lệ tài chính.
a. Phân tích các tỷ lệ tài chính
Trong phân tích tài chính, các tỷ lệ tài chính chủ yếu thường được phân thành 4
nhóm chính. Đó là: nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về khả năng cân
đối vốn, nhóm tỷ lệ về khả năng hoạt động, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lãi. Nhìn
chung, mối quan tâm trước hết của các nhà phân tích tài chính là tình hình tài chính
của doanh nghiệp có lành mạnh không? Liệu doanh nghiệp có khả năng đáp ứng
được những khoản nợ đến hạn không? Nhưng tuỳ theo mục đích phân tích tài chính
mà nhà phân tích tài chính chú trọng nhiều hơn đến nhóm tỷ lệ này hay nhóm tỷ lệ
khác. Chẳng hạn, các chủ nợ ngắn hạn đặc biệt quan tâm đến tình hình khả năng
thanh toán của người vay. Trong khi đó, các nhà đầu tư dài hạn quan tâm nhiều hơn
đến khả năng hoạt động có lãi và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Họ cũng cần nghiên
cứu tình hình về khả năng thanh toán để đánh giá khả năng của doanh nghiệp đáp
ứng nhu cầu chi trả hiện tại và xem xét lợi nhuận để dự tính khả năng trả nợ cuối

+ Hệ số thanh toán hiện hành
Là tỷ lệ được tính bằng cách chia tài sản lưu động cho nợ ngắn hạn. Tài sản
lưu động thường bao gồm tiền, các chứng khoán dễ chuyển nhượng, các khoản phải
thu và dự trữ (tồn kho); còn nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay ngắn hạn
Hồng Minh Hải - TCDN 20.3 16
Chuyên đề tốt nghiệp
ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải
trả khác Cả tài sản lưu động và nợ ngắn hạn đều có thời hạn nhất định - tới một
năm. Tỷ lệ khả năng thanh toán chung là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn
của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được
trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương ứng
với thời hạn của các khoản nợ đó.
Công thức của khả năng thanh toán chung như sau :
Tỷ lệ này có giá trị càng cao thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh
nghiệp càng tốt và ngược lại. Nêú khả năng thanh toán chung nhỏ hơn 1 thì doanh
nghiệp không đủ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu con số này quá
cao thì có nghĩa là doanh nghiệp đãđầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động so với nhu
cầu. Thông thường thì phần vượt trội đó sẽ không sinh thêm lợi nhuận. Vì thế mà
việc đầu tưđó sẽ kém hiệu quả. Vấn đề này đòi hỏi nhà doanh nghiệp phải phân bổ
vốn như thế nào cho hợp lý.
+ Hệ số thanh toán nhanh:
Một tỷ lệ thanh toán chung cao chưa phản ánh chính xác việc doanh nghiệp
có thể đáp ứng nhanh chóng được các khoản nợ ngắn hạn trong thời gian ngắn với
chi phí thấp hay không vì nó còn phụ thuộc vào tính thanh khoản của các khoản
mục trong tài sản lưu động và kết cấu của các khoản mục này. Vì vậy, chúng ta cần
phải xét đến hệ số thanh toán nhanh của doanh nghiệp.
Hệ số thanh toán nhanh được tính bằng cách chia tài sản quay vòng nhanh
cho nợ ngắn hạn. Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóng
chuyển đổi thành tiền, bao gồm : tiền, chứng khoán ngắn hạn và các khoản phải thu.
Hàng tồn kho là tài sản khó chuyển thành tiền hơn trong tổng tài sản lưu động và dễ

Tỷ lệ này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối với
các chủ nợ đã góp vốn cho doanh nghiệp. Thông thường các chủ nợ thích tỷ lệ vay
nợ vừa phải vì tỷ lệ này càng thấp thì các khoản nợ càng được đảm bảo trong
trường hợp doanh nghiệp bị phá sản. Trong khi đó, các chủ sở hữu ưa thích tỷ lệ nợ
cao vì họ muốn lợi nhuận gia tăng nhanh và muốn toàn quyền kiểm soát doanh
Hồng Minh Hải - TCDN 20.3 18
Chuyên đề tốt nghiệp
nghiệp. Song nếu tỷ lệ nợ quá cao, doanh nghiệp dễ bị rơi vào trạng thái mất khả
năng thanh toán. Để đánh giá được việc sử dụng nợ cũng như mức độ sử dụng nợ
của doanh nghiệp người ta tính mức độ đòn bẩy tài chính (Degree of Financial
Leverage - DFL) của doanh nghiệp.
Mức độ ảnh hưởng của DFL được xác định như là tỷ lệ thay đổi về doanh lợi
vốn chủ sở hữu phát sinh do sự thay đổi về lợi nhuận trước thuế và lãi vay phải trả.
Trong đó : Q: là sản lượng
P: là giá bán đơn vị sản phẩm
V: là chi phí biến đổi mỗi đơn vị sản phẩm
F: là chi phí cố định
I: là chi phí lãi vay phải trả
Từ công thức trên ta thấy khi lợi nhuận trước thuế và lãi vay không đủ lớn để
trang trải lãi vay thì doanh lợi vốn chủ sở hữu sẽ bị giảm sút. Nhưng khi lợi nhuận
trước thuế và lãi vay đãđủ lớn để trang trải lãi vay phải trả thì chỉ cần một sự gia
tăng nhỏ về sản lượng cũng mang lại một biến động lớn về doanh lợi vốn chủ sở
hữu.
+ Khả năng thanh toán lãi vay hay số lần có thể trả lãi
Tỷ lệ này được xác định bằng cách chia lợi nhuận trước thuế và lãi vay cho
lãi tiền vay.
Khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo cho khả
năng trả lãi hàng năm. Việc không trả được các khoản nợ này có thể làm cho doanh
nghiệp bị phá sản. Cùng với tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ này giúp ta thấy được
tình trạng thanh toán công nợ của doanh nghiệp tốt hay xấu. Một tỷ lệ nợ trên tổng

tốc độ quay vòng của một số đại lượng rất cần cho quản lý tài chính ngắn hạn. Các
Hồng Minh Hải - TCDN 20.3 20
Chuyên đề tốt nghiệp
tỷ lệ này cho ta những thông tin hữu ích để đánh giá mức độ cân bằng tài chính và
khả năng thanh khoản của doanh nghiệp.
+ Vòng quay tiền
Tiền là khoản mục có tính lỏng cao nhất trong tổng tài sản của doanh nghiệp.
Việc giữ tiền và các tài sản tương đương tiền đem lại cho doanh nghiệp nhiều lợi
thế như chủ động trong kinh doanh, mua hàng trả tiền ngay được hưởng chiết khấu,
ngoài ra khi vật tư hàng hoá rẻ doanh nghiệp có thể dữ trữ với lượng lớn tạo điều
kiện giảm chi phí sản xuất. Tuy nhiên, tiền được lưu giữ ở mức không hợp lý có thể
gây ra nhiều bất lợi. Thứ nhất, điều kiện thiếu vốn đang phổ biến ở các doanh
nghiệp thì việc giữ quá nhiều tiền sẽ gây ứ đọng vốn, hạn chế khả năng đầu tư vào
các tài sản khác, do đó lợi nhuận của doanh nghiệp có thể bị giảm. Thứ hai, do có
giá trị theo thời gian và do chịu tác động của lạm phát, tiền sẽ bị mất giá. Vì vậy,
cần quan tâm đến tốc độ vòng quay tiền sao cho đem lại khả năng sinh lợi cao nhất
cho doanh nghiệp.
+ Vòng quay hàng tồn kho
Dự trữ và tồn kho thường chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản lưu động của
doanh nghiệp. Vì vậy, một mặt ta phải giới hạn mức dự trữ này ở mức tối ưu, mặt
khác tăng vòng quay của chúng. Dự trữ là một khoản đầu tư cần thiết để đảm bảo
tính liên tục của sản xuất và không bỏ lỡ cơ hội trong kinh doanh. Khoản đầu tư này
được giải phóng sau khi sản phẩm được tiêu thụ.
Vòng quay hàng tồn kho là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó được xác định bằng công thức dưới
đõy
Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho phản ánh số lần hàng tồn kho được bán ra
trong kỳ kế toán và có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu vốn luân chuyển. Con số
này càng cao chứng tỏ khả năng bán ra càng lớn. Trên góc độ chu chuyển vốn thì hệ
số quay vòng tồn kho lớn sẽ giảm bớt được số vốn đầu tư vào công việc này, hiệu

Kỳ thu tiền bình quân được tính theo công thức sau (đơn vị của công thức
này là ngày) :
Hồng Minh Hải - TCDN 20.3 22
Chuyên đề tốt nghiệp
Trong phân tích tài chính, chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năng
thu hồi vốn trong thanh toán của doanh nghiệp. Các khoản phải thu lớn hay nhỏ phụ
thuộc vào nhiều yếu tố :
 Tính chất của việc doanh nghiệp chấp nhận bán hàng chịu : Một số
doanh nghiệp có chính sách mở rộng bán chịu và chấp nhận kéo dài thời
hạn thanh toán hơn các đối thủ cạnh tranh để phát triển thị trường.
 Tình trạng của nền kinh tế : Khi tình hình thuận lợi các doanh nghiệp có
khuynh hướng dễ dàng chấp nhận bán chịu và ngược lại. Nếu chấp nhận
tăng thời gian bán chịu cho khách hàng mà không tăng được mức tiêu
thụ thì đó là dấu hiệu xấu về tình hình kinh doanh. Doanh nghiệp cần
phải thay đổi chính sách tiêu thụ để giữ khách hàng hoặc nâng cao khả
năng cạnh tranh của sản phẩm. Nhưng tình trạng đó cũng có thể là do
khách hàng gặp khó khăn trong chi trả nhất là ở vào thời kỳ kinh tế suy
thoái. Tình huống đó gây khó khăn dây chuyền cho các doanh nghiệp
bán chịu.
 Chính sách tín dụng và chi phí bán hàng chịu : khi lãi suất tín dụng cấp
cho các doanh nghiệp để tài trợ cho kinh doanh tăng, các doanh nghiệp
có xu hướng giảm thời gian bán chịu vì nếu tiếp tục kéo dài thời hạn sẽ
rất tốn kém về chi phí tài chính.
 Ngoài ra độ lớn của các khoản phải thu còn phụ thuộc vào các khoản trả
trước của doanh nghiệp.
+ Vòng quay vốn lưu động
Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ. Nếu số
vòng quay tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại. Chỉ tiêu này còn
được gọi là hệ số luân chuyển. Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn sẽ góp phần giải
quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

+ Doanh lợi vốn chủ sở hữu
Được xác định bằng cách chia lợi nhuận sau thuế cho vốn chủ sở hữu. Nó
phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu tưđặc biệt quan
tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp. Tăng mức doanh lợi vốn
chủ sở hữu cũng là mục tiêu của hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp. Ta xét
các nhân tố ảnh hưởng đến doanh lợi vốn chủ sở hữu như sau:
Như vậy, doanh lợi vốn chủ sở hữu chịu ảnh hưởng của ba nhân tố :
 Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm.
 Hiệu suất sử dụng tổng tài sản.
 Tỷ trọng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản.
Vì vậy, khi xem xét sự biến động của doanh lợi vốn chủ sở hữu ta cần phân
tích sự thay đổi của cả ba yếu tố trên để đưa ra những kết luận đúng đắn.
+ Doanh lợi vốn
Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dựng để đánh giá khả năng sinh lời của
một đồng vốn đầu tư (ROA). Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp được
phân tích và phạm vi so sánh mà người ta lựa chọn lợi nhuận trước thuế và lãi hay
lợi nhuận sau thuế để so sánh với tổng tài sản. Đối với doanh nghiệp có sử dụng nợ
trong kinh doanh, người ta thường sử dụng chỉ tiêu doanh lợi vốn xác định bằng
cách chia lợi nhuận trước thuế và lãi cho tổng tài sản.
b. Phân tích các hoạt động tài chính
Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
Một trong những công cụ hữu hiệu của nhà quản lý tài chính là bảng nguồn vốn
và sử dụng vốn (bảng tài trợ). Nó giúp các nhà quản lý xác định rõ các nguồn cung
ứng vốn và mục đích sử dụng các nguồn vốn.
Trong phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn, người ta thường xem xét
sự thay đổi của các nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn của một doanh nghiệp
trong một thời kỳ theo số liệu giữa hai thời điểm lập bảng cân đối kế toán.
Hồng Minh Hải - TCDN 20.3 25

Trích đoạn Phân tích tình hình tài chính của công ty Nguyên nhân của điểm yếu Chiến lược công ty
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status