TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
KHOA LỊCH SỬ
Bài tập thực hành học phần: Một số vấn đề về chúa Nguyễn và vương
triều Nguyễn
Tên đề tài:
DIỆN MẠO KINH TẾ-XÃ HỘI ĐÀNG
TRONG
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 20/10/2012
Diện mạo kinh tế-xã hội Đàng Trong
Mục lục
A. Sự thiết lập chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong :
Ngay từ khi chiến tranh Nam Bắc Triều còn đang tiếp diễn thì nội bộ Nam triều
đã nảy sinh mầm mống của sự chia rẽ. Năm 1545, sau khi Nguyễn Kim bị mưu sát,
Trịnh Kiểm được vua Lê đưa lên thay thế chỉ huy mọi việc.
Để giữ vững quyền hành của mình Trịnh Kiểm tìm cách loại trừ phê cánh của
Nguyễn Kim mà trước hết là con trai của ông. Người con đầu là Nguyễn Uông bị ám
hại, người con thứ là Nguyễn Hoàng lo lắng tìm cách thoát khỏi mối đe dọa đó. Được
sự gợi ý của trạng nguyên Nguyễn Bĩnh Khiêm, Nguyễn Hoàng nhờ chị (vợ của
Trịnh Kiểm) xin cho vào trấn đất Thuận Hóa. Bấy giờ ở xứ Thuận Hóa mới dẹp yên,
tuy nhà Lê đã đặt tam ti (Đô ti, Thừa ti, Hiến ti) và phủ huyện để cai trị nhưng nhân
dân vẫn chưa một lòng. Mặt khác, Kiểm thấy vùng đất ở đó hiểm nghèo, xa xôi cho
ngay cho Nguyễn Hoàng.
Anh Tông lên ngôi Trịnh Kiểm dâng biểu nói: “Thuận Hóa là nơi quan trọng,
quân và của do đó mà ra, buổi quốc sơ nhờ đấy mà nên nghiệp lớn. Nay lòng dân hãy
còn tráo trở, nhiều kẻ vượt biển đi theo họ Mạc, sợ có kẻ dẫn giặc về cướp, vì không
được tướng tài trấn thủ vỗ yên thì không thể xong. Đoạn quân công là con nhà tướng,
có tài trí mưu lược có thể sai đi trấn ở đấy để cùng với tướng trấn thủ Quảng Nam
cùng nhau giúp sức thì mới đỡ lo đến miền Nam”. Vua Lê nghe theo và trao Nguyễn
Hoàng trấn tiết, phàm mọi việc đều ủy thác cả, chỉ mỗi năm nộp thuế mà thôi. . .
Nguyễn Hoàng đã thành công với nước cờ thí này (lúc ấy là năm 1558).
Diện mạo kinh tế-xã hội Đàng Trong
Trong gần nửa thế kỉ, hai bên đánh nhau 7 lần vào các năm 1627; 1630; 1643;
1648; 1655 – 1660; 1661 và 1672, trong đó có một lần quân Nguyễn vào sông Gianh
tiến đánh quân Trịnh chiếm vùng đất ở phía nam sông Lam (Nghệ An) mấy năm rồi
rút về. Từ nam Nghệ An đến bắc Quảng Bình (địa phận sông Gianh và sông Nhật Lệ)
trở thành chiến trường. Sau 7 lần đánh nhau dữ dội mà không có kết quả, quân sĩ hao
tốn, chán nản, nhân dân khổ cực, hai họ Trịnh – Nguyễn đành phải ngừng chiến, lấy
sông Gianh làm giới hạn chia cắt Đàng Ngoài, Đàng Trong.
Diễn ra đồng thời với cuôc chiến tranh Trịnh – Nguyễn là quá trình mở rộng
lãnh thổ và thiết lập chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong.
Trong những thập kỉ đầu và giữa thế kỉ XVII, cùng với các nhóm cư dân người
Việt thì một số người Trung Quốc cũng đến khai khẩn đất hoang và sinh sống làm ăn
ở vùng đất Nam Bộ. Nhân việc nhà Thanh thay thế nhà Minh ở Trung Quốc, một số
quan lại và quân lính trung thành với triều đình nhà Minh không chấp nhận sự thống
trị của nhà Thanh đã vượt biển đến Đàng Trong tìm đất sinh sống và thúc đẩy nhanh
hơn quá trình khai phá của chúa Nguyễn.
Để thu hút nhiều người đến Thuận Hóa làm ăn sinh sống, chúa Nguyễn đã thi hành
chính sách khuyến khích đặc biệt đối việc khai phá đất hoang, cho phép người dân
biến ruộng đất khai hoang được thành sở hữu tư nhân. Đồng thời, chúa Nguyễn còn
thi hành một chế độ khoan hòa, khuyến khích sản xuất, người mới đến không phải trả
thuế trong 3 năm đầu định cư.
Vì vậy, làn sóng tự phát di cư vào Nam tìm đất sinh sống của đông đảo những
người nông dân Thuận - Quảng, chúa Nguyễn đã cho lập thành các xã, thôn, phường,
ấp của người Việt. Chúa Nguyễn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho những địa chủ giàu
có ở Thuận - Quảng đem tôi tớ và chiêu mộ nông dân lưu vong vào đây khai hoang
lập ấp.
Bảo vệ dân chúng khẩn hoang và xác lập chủ quyền là hai quá trình được các
chúa Nguyễn tiến hành song song đồng thời. Trong đó xác lập chủ quyền là để bảo vệ
tính hợp pháp của công cuộc khẩn hoang và thành quả của công việc khẩn hoang
Trang 4
chính quy ở các dinh và thổ binh hay tạm binh. Các loại quân đều chia thành cơ, đội,
thuyền.
Các chúa Nguyễn đã bố trí lực lượng quân sự thiết lập các đồn thủ “nơi xung
yếu” để chống giặc, giữ dân, bảo vệ chủ quyền,…Quân đội thời chúa Nguyễn gồm bộ
binh, thủy binh, tượng binh và pháo binh. Đầu thế kỉ XVII, người Đàng Trong học
được cách đúc súng, các thuyền lớn đều có 5 khẩu đại bác. Chúa Nguyễn cũng
thường tổ chức các hội thi bắn súng, huấn luyện thủy quân.
Như vậy, từ sau khi Nguyễn Hoàng từ bỏ đất Bắc đi vào vùng đất Thuận -
Quảng, họ Nguyễn dần dần phát triển xuống phía Nam, xây dựng vùng đất Đàng
Trong thành một lãnh địa riêng có quyền độc lập mặc dầu cho đến trước năm 1744
vẫn giữ tước vị Quốc công, dùng niên hiệu của vua Lê. Nhưng nhân dân luôn luôn
xem vùng đất Thuận – Quảng là Đàng Trong của Đại Việt xưa kia.
B. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN ĐÀNG TRONG
Năm 1558 Nguyễn Hoàng xin vào trấn đất Thuận Hóa và lập nên căn cứ của mình tại
phương Nam, mở rộng biên giới của mình xuống phía nam, tới tận đồng bằng sông Cửu
Long.
B.I. Địa hình
Vùng đất này bao gồm một dải đất dài và hẹp, nằm giữa núi ở phía tây và biển ở phía
đông. Địa hình của vùng đất này có đặc điểm : vùng núi là dãy Trường Sơn phủ đầy rừng
rậm, chạy dài, ở phía Bắc thường hẹp và gồ ghề, càng xuống phía nam càng thấp dần, có
chiều mở rộng tạo thành cao nguyên, thường được gọi là Tây Nguyên hay Cao Nguyên
Trung phần, có diện tích khoảng 20.000 dặm vuông (100 dặm chiều rộng và 200 dặm chiều
dài). Vùng cao nguyên này thường được dùng làm nơi trú ẩn. ngoài ra còn có các dãy núi bị
nhiều con sông nước chảy mạnh và mũi núi cắt ngang làm thành một khu vực nhỏ và hẹp, ít
gắn kết với nhau về mặt địa lý.
Trang 6
Diện mạo kinh tế-xã hội Đàng Trong
Địa hình bị chia cắt mạnh, các dãy núi đâm ngang ra biển hình thành nên các vũng
vịnh tạo điều kiện xây dựng các hải cảng. Đây cũng là một trong những điều kiện để Đàng
Trong phát triển về mặt kimh tế đặc biệt là ngoại thương.
Đất phù sa được bồi đắp bởi các con sông thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp đặc
biệt là trồng lúa nước.
Các loại đất như: đất cát ven biển có độ màu mỡ thấp, khả năng giữ nước và chất dinh
dưỡng đều rất kém do đó không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.
Đất phù sa sông Cửu Long có độ phì nhiêu khá nhưng phải cải tạo đất phèn, đất
mặn…
Đất đỏ bazan tập trung ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ
Ngoài ra còn có các loại đất khác như: đất xám. đất phù sa cổ, đất phù xa mới…
Tóm lại: điều kiện tự nhiên ở vùng ở vùng đồng bằng và ven biển phía đông thuận lợi cho
sự phát triển nông nghiệp và ngoại thương do có đường bờ biển dài và nhiều cảng nước sâu,
thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán với nước ngoài. Tuy nhiên cũng phải đối phó với thiên
tai( lũ, lụt, bão…), mất mùa thường xuyên
Vùng núi tuy đi lại khó khăn, địa hình hiểm trở , do khai thác theo kiểu làm rẫy, năng
suất không cao nhưng luôn luôn được mùa.
C. Kinh tế-xã hội
C.I. Kinh tế
C.I.1. Nông nghiệp.
Là vùng đất ở xa mới khai phá việc quản lí của nước lỏng lẻo, người nông dân có điều
kiền phát huy hết sức lao động, nâng cao năng suất sản xuất.
Ruộng đất ở Thuận Quảng khá nhỏ hẹp so với Bắc Hà. Ruộng đất công Đàng Trong chia
làm “quân điền trang” và “quân đồn điền” thuộc quyền quản lý của chúa Nguyễn. Chúa
Nguyễn cấp ruộng này cho người thân thích và công thần. Người thân thích nhà chúa được
10 mẫu, chưởng cơ 5 mẫu, cai cơ 4 mẫu, cai đội 3 mẫu.
Trang 8
Diện mạo kinh tế-xã hội Đàng Trong
Ruộng đất ở các xã được phân chia theo lệ làng. Sang thế kỷ 18, mỗi xã dân được chia 5-
6 sào ruộng, binh lính thì được khẩu phần gấp 3 lần.
Ruộng đất tư được gọi là bản bức tư điền. Các chúa Nguyễn có chính sách kích thích sự
phát triển ruộng tư: các đầm, đất thổ nhưỡng chiêm trũng, vùng nhiễm mặn, rừng rú đều được
cải tạo thành các làng xã mới. Ruộng đất tư ở vùng Thuận Quảng phân tán, chủ yếu là loại vừa và
ruộng đất ở các huyện, định ra 3 bậc và chia các hạng ruộng để thu thuế thóc.
Ruộng công, ruộng tư đều được chia làm 3 hạng, đánh thuế ngang nhau:
Nhất đẳng nộp 40 thăng thóc 8 hợp gạo
Nhị đẳng nộp 30 thăng thóc 6 hợp gạo
Tam đẳng nộp 20 thăng thóc 4 hộp gạo
Ruộng mùa thu và đất khô thì không chia hạng, mỗi mẫu nộp 3 tiền.
Ngoài ra, người nông dân cày ruộng công phải nộp các loại: phiến cót, tiền cung đốn, tiền
nộp thóc vào kho, tiền bao mây, tiền trình diện.
Quan điền trang và quan đồn điền thì có lệ thế riêng (khoảng 205 thăng/mẫu)
Ruộng ở vùng cực nam được thu theo thửa hoặc từ 4-10 hộc, hoặc từ 2-4 hộc (mỗi hộc =
70-75 thăng)
Ngoài tô chính, người nông dân còn phải nộp gạo đầu mẫu, tiền phụ trình diện, tiền cót
tre (cứ 1000 thăng thóc nộp 5 tấm cót hay 2 tiền)
Thuế nhân đinh gồm 4 loại : sai dư, cước mễ, thường tân, tiết liệu với mức khá
nặng:
Tráng hạng: 3 quan 3 tiền
Dân hạng: 1 quan 9 tiền
Lão hạng: 2 quan 1 tiền
Bất cụ: 1 quang 5 tiền 30 đồng.
Các chức sắc, con cháu quan viên đều phải nộp. Ở nhiều nơi, mức thuế còn lên đến 4-5
quan.
Nghĩa vụ binh dịch rất nặng nề. Ngoài ra người dân còn bị bắt làm phu canh gác, quét
dọn cho các quan. Các quan chức địa phương hàng năm phải nộp cho chúa nhiều loại tiền:
lĩnh bằng, nhận ấn, lễ mừng sinh nhật, dỗ tết…để có tiền làm các việc đó, quan lại phải lấy
thêm ở người dân.
Tuy nhiên, do những điều kiện đặc biệt của Đàng Trong, nhân dân nghèo đói đi lưu
vong có thể tìm đến các vùng đất hoang, khai khẩn, lập nghiệp và sống một cuộc đời ít
nhiều tự do, mặc dù không phải lúc nào cũng thuận lợi tốt đẹp. Mâu thuẫn xã hội tạm thời
Trang 10
Diện mạo kinh tế-xã hội Đàng Trong
nhiễu, đoạn, vải nhỏ, vải trắng, vải hoa, vải sợi đôi…kĩ thuật dệt, theo như nhận định của Lê
Quý Đôn là “không thua kém gì Quảng Đông”
Về tổ chức sản xuất chủ yếu mang tính chất gia đình. Những hạn chế của nhà nước về
khổ vải, độc quyền thu mua tơ và bán tơ cho thương nhân nước ngoài, thuế má, lao dịch…
đã làm cho nghề dệt không phát triển mạnh lên để chuyển sang một phương thức sản xuất
mới.
Nghề làm đường, vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, nghề làm đường đặt biệt phát triển.
Hàng năm, nhà chúa đã thu 15.922 cân đường phên, 7960 cân đường cát thuế của châu
Xuân Đài (Quảng Nam) 24.438 cân đường phên của xã Đông Phiên (Quảng Nam)…tính
chung toàn miền Nam, nhà chúa thu thuế 48.320 cân 9 lạng đường, 5300 chĩnh mật mía.
Theo Bori, đường Việt Nam thuộc loại “đẹp nhất Ấn Độ”. Trong nghề làm đường đã có sự
phân công: người thì trồng mía, người thì mua mía ép lấy nước, người thì đốt lò đun mía ép
và tinh chế đường.
Nghề rèn sắt: phổ biến ở khắp các làng xã, chế tạo các công cụ cần cho sản xuất hay
trong sử dụng của các gia đình. Sản xuất cũng mang tính chất hộ gia đình. Một số thợ rèn
sắt đã phát triển nghề mình lên thành nghề đúc súng và được nhà nước trưng dụng.
Các nghề thủ công cổ truyền phổ biến khác như dệt chiếu, làm nón, nhuộm, đúc
đồng… cũng tăng cường hoạt động, sản xuất ra hàng loạt mặt hàng khác nhau, phục vụ cuộc
sống. Nhìn chung thủ công nghiệp nhân dân ở các thế kỉ XVII-XVIII vừa mở rộng, vừa phát
triển, đáp ứng ở một mức độ nhất định nhu cầu của nhân dân trong nước và nhu cầu của
thương nhân nước ngoài, đi sâu hơn vào nền kinh tế thị trường có tính quốc tế.
Nghề khai mỏ: ở Đàng Trong ít mỏ nhưng công cuộc khai quặng cũng giữ một vị trí
quan trọng. Ở Phú Bài (Thừa Thiên) có mỏ sắt, dân khai mỏ hàng năm nộp thuế sắt và được
miễn phu dịch. Ở Bố Chính (Quảng Bình) cũng có mỏ sắt, một năm dân nộp thuế 500 khối
sắt. Vàng rải ra ở nhiều nơi từ Thừa Thiên cho đến Bình Định, Phú Yên. Tóm lại, ở các thế
kỉ XVII-XVIII, khai thác hầm mỏ đã trở thành một bộ phận quan trọng của thủ công nghiệp.
Do tính chất của công việc, ở đây đã hình thành một phương thức sản xuất tập trung, thuê
mướn có tính tư nhân.
Trang 12
Diện mạo kinh tế-xã hội Đàng Trong
Trang 13
Diện mạo kinh tế-xã hội Đàng Trong
xuôi. Dân buôn thường chở gạo thóc từ Gia Định ra bán cho dân Thuận Quảng và mua các
hàng phương bắc trở vào.
b/ Ngoại thương
Vùng đất Thuận – Quảng, một trung tâm kinh tế quan trọng của miền Trung, có tài
nguyên và nguồn lâm thổ sản phong phú, có những cảng biển nổi tiếng đã từng thu hút
thương khách nước ngoài trong nhiều thế kỷ trước đó. Đối với Nguyễn Hoàng, việc tận
dụng và phát huy những tiềm năng của xứ Thuận – Quảng để nó có khả năng đảm bảo cho
một tương lai chính trị mà thuở ra đi ông đã bắt đầu toan tính là những việc làm tiên quyết.
Nhận thấy những hạn chế của điều kiện tự nhiên đối với cư dân nông nghiệp vùng khô,
Nguyễn Hoàng và sau đó là Nguyễn Phúc Nguyên đã xác lập một chiến lược phát triển mới
với những bước đi và hình thức khác biệt nhằm hòa nhập mạnh mẽ hơn với những bước
chuyển biến chung của khu vực. Cách thức lựa chọn con đường phát triển đó đã đưa Đàng
Trong hội nhập với mô hình phát triển chung của hầu hết các quốc gia Đông Nam Á lúc bấy
giờ là hướng ra biển. Phát triển ngoại thương đã trở thành một chiến lược kinh tế liên quan
đến sự sống còn của thể chế mà các chúa Nguyễn ra công tạo dựng.
Với chủ trương trọng thương, các chính sách khuyến khích kinh tế đối ngoại của các
chúa Nguyễn đã có tác dụng cổ vũ ngoại thương Đàng Trong. Vào thế kỷ XVII – XVIII,
Đàng Trong đã có quan hệ buôn bán với nhiều quốc gia, trong đó có những quốc gia có nền
kinh tế hàng hóa phát triển thuộc loại bậc nhất của thế giới. Hầu hết các cường quốc kinh tế
lúc bấy giờ, cả ở châu Á lẫn châu Âu đều đến và thiết lập quan hệ giao thương với chính
quyền Đàng Trong.
Về tình hình thế giới:
Trong hơn 40 năm:1592-1635, là thời kỳ Nhật Bản thực hiện chính sách mở cửa, hàng
trăm thương thuyền được Mạc phủ cấp “ châu ấn” (Shuin sen) để xuất bến buôn bán với
nước ngoài góp phần tạo nên một hiện tượng thương mại sôi động ở các nước Đông Nam Á
trong đó có Hội An của Đàng Trong.
Về phía Trung Quốc, sau hơn hai thế kỷ thực hiện chính sách “ hải cấm” để độc quyền
ngoại thương thông qua con đường “thương mại - triều cống” nhằm nâng cao vị thế chính
của các chúa Nguyễn mà việc buôn bán Đàng Trong ngày càng phát triển và hình thành nên
những thương cảng nổi tiếng, trong đó tiêu biểu là thương cảng Hội An.
Trang 15
Diện mạo kinh tế-xã hội Đàng Trong
Các đối tác phương Đông
1. Trung Quốc
Khi nhà Thanh diệt nhà Minh (1661), nhiều người Hoa không chịu quy phục người
Mãn đã vượt biển chạy vào Đàng Trong làm nghề buôn bán.
Các lái buôn Trung Quốc đi đường biển thường xuất phát từ Triều Châu, Quảng Châu,
Thiều Châu, Phúc Kiến. Các thuyền buôn vào cửa Eo hay cửa Đại Chiêm để lên phố Thanh
Hà hoặc Hội An. Các thương nhân người Hoa có sự hỗ trợ của những người Hoa sinh sống
tại Đại Việt, hơn nữa lại được sự ưu đãi hơn của các chúa Nguyễn so với người phương
Tây. Do đó họ là những người lũng đoạn thị trường các đô thị như Phiên Trấn, Hội An, Hà
Tiên, Gia Định. Ngoài ra, họ còn đóng vai trò làm môi giới, phiên dịch giữa người Việt và
người phương Tây.
Cùng với thương nhân Nhật Bản, thương nhân Trung Quốc cũng có mặt khá sớm ở đất Đàng
Trong. Từ rất lâu, Trung Quốc đã là một bạn hàng gần gũi của Đại Việt. Tuy nhiên, so với các triều
đại trước đó, việc người Hoa đến buôn bán trên đất Đại Việt vào thế kỷ XVII – XVIII phát triển cao
hơn nhiều với số lượng tàu thuyền và khối lượng hàng hóa lớn mà hàng năm họ mang tới Phố Hiến
ở Đàng Ngoài cũng như Hội An ở Đàng Trong. Sự xuất hiện phố người Hoa bên cạnh phố người
Nhật tại Hội An nói lên sự phát triển quan hệ giao thương giữa hai nước. Khác với người Nhật,
người Hoa từ Trung Quốc được phép đến buôn bán với Đàng Trong không chỉ trong buổi đầu nền
thống trị của chúa Nguyễn mà còn kéo dài suốt thời kỳ sau đó. Hoạt động ngoại thương giữa Đàng
Trong với Trung Quốc có ý nghĩa lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển nền thương mại ở vùng đất
mới mẻ này, nhất là nửa sau thế kỷ XVII và cả thế kỷ XVIII, khi chính phủ Nhật đã thực hiện lệnh
tỏa quốc (1636) làm cho hoạt động của Châu ấn thuyền giảm dần vai trò của nó tại Hội An.
Li Tana cho biết, từ năm 1647 đến năm 1720, số ghe thuyền Trung Hoa từ các nước Đông
Nam á tới Nhật Bản như sau: Đàng Ngoài: 63 chiếc, Đàng Trong: 203 chiếc, Campuchia:
109 chiếc, Xiêm: 138 chiếc, Patani: 49 chiếc, Malacca: 8 chiếc, Jakacta: 90 chiếc, Bantam:
3chiếc. (Dẫn theo Xứ Đàng Trong – Lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18
Trong số các nước phương Tây, Bồ Đào Nha là nước đầu tiên có mặt ở Đàng Trong.
Theo Booc-Vút (Birdwood), người Bồ Đào Nha tiến hành các hoạt động giao lưu buôn bán
với Đàng Trong vào khoảng năm 1540, thương nhân Bồ Đào Nha từ Macao hoặc Nam
Dương (Indonesia) đến Hội An vào tháng chạp hoặc tháng giêng bán, mua hàng như tơ, lụa,
Trang 17
Diện mạo kinh tế-xã hội Đàng Trong
hồ tiêu, gỗ quý, thông qua các đại lý người Hoa hay người Nhật ở Hội An rồi quay thuyền
về các căn cứ trên (Macao, Nam Dương). Điều cần nhận thấy ở đây là để thiết lập quan hệ
buôn bán với các nước châu Á, Bồ Đào Nha đã xây dựng nên hệ thống thương điếm trên
toàn cõi châu Á nhằm tạo ra một mạng lưới thương mại hùng mạnh vào thế kỷ XVI. Tuy
nhiên đối với Việt Nam, Bồ Đào Nha không thiết lập hệ thống thương điếm cho nên mọi
quan hệ giao lưu buôn bán đều thông qua môi giới trung gian để gom hàng hoá hoặc giao
dịch. Điều đáng lưu ý là các thương nhân Bồ Đào Nha không để lại người thường trực ở Hội
An nhưng lại muốn độc quyền buôn bán với Đàng Trong. Để làm việc đó, các thương nhân
Bồ Đào Nha tìm mọi cách để lấy lòng chúa Nguyễn, gửi tặng các đồ vật, và thường xuyên
cạnh tranh với Hà Lan, thậm chí họ còn đề nghị chúa Nguyễn không nên buôn bán với
người Hà Lan, tuy nhiên chúa Nguyễn không đồng ý mà vẫn thiết lập buôn bán với người
Hà Lan. Trước tình hình như vậy, Bồ Đào Nha càng hướng sự quan tâm đến các hoạt động
giao lưu buôn bán với Đàng Trong. Từ năm 1640 trở đi, quan hệ buôn bán giữa Bồ Đào Nha
với Nhật Bản ngày càng giảm, trong khi đó quan hệ buôn bán với Đàng Trong lại được tăng
cường. Những sản vật mà các thương nhân mua của Đàng Trong là tơ vàng, một số trầm
hương, kỳ nam và một ít benzoin. Đổi lại, các thương nhân Bồ Đào Nha mang súng ống,
diêm tiêu, kẽm, đồng có thợ kỹ thuật đi cùng để bán lại cho Đàng Trong. Người Bồ Đào
Nha đã dạy cho chúa Nguyễn kỹ thuật đúc súng nên được các chúa Nguyễn sủng ái và nể
trọng. Sở dĩ như vậy là vì, thời kỳ này xảy ra cuộc chiến tranh giữa Đàng Trong và Đàng
Ngoài nên chúa Nguyễn rất cần mua súng đạn từ xưởng đúc súng của Bồ Đào Nha ở Macao.
Điều cần nhận thấy là trong số các thương cảng của Đàng Trong thì Hội An được coi là một
trong những thương cảng sầm uất nhất. Hội An là trung tâm tập trung và phân phối hàng
hoá, là nơi xuất khẩu một số sản phẩm địa phương như kỳ nam và vàng, trong đó kỳ nam là
một thứ dầu quý được các thương nhân Bồ Đào Nha ưa chuộng “Kỳ nam hương màu đen,
Diện mạo kinh tế-xã hội Đàng Trong
Những mặt hàng mà người Hà Lan thường mang đến buôn bán là những mặt hàng
Đàng Trong cần như đại bác, diêm tiêu, lưu huỳnh; dạ châu Âu loại mịn, màu đỏ và màu
sẫm; đồng bạc rénaux như tiền đồng, bạc nén và bạc đúc; hạt tiêu để xuất khẩu sang Trung
Quốc; vải bông Ấn Độ, gỗ đàn hương… Đổi lại, người Hà Lan mua tơ lụa và các mặt hàng
thổ sản như kỳ nam hương, gỗ quý, tơ lụa, xạ hương, vàng mang về châu Âu. Trong thời
gian đầu các thương nhân Hà Lan cũng được các chúa Nguyễn đón tiếp nồng hậu, thậm chí
còn được triều đình ban tặng một số đặc quyền để buôn bán. Năm 1633, theo thư mời của
chúa Sãi, Công ty Đông Ấn Hà Lan đã có ý định đến buôn bán ở Quảng Nam và đến năm
1636, thương điếm của Hà Lan đã được thiết lập ở Hội An phố. Tuy nhiên, quá trình buôn
bán giữa Đàng Trong với Hà Lan chỉ diễn ra trong 4 thập niên đầu của thế kỷ XVII, về sau
do mâu thuẫn với dân bản địa các thương nhân Hà Lan buộc phải rời khỏi Hội An. Sau
nhiều cố gắng của Batavia, nhưng Công ty Đông Ấn Hà Lan vẫn không duy trì được mối
quan hệ thương mại với Đàng Trong.
Những chuyển biến chính trị và thương mại khu vực Đông Nam Á đầu thập niên 30 của thế
kỷ XVII buộc Chính phủ Batavia chuyển hướng trọng tâm quan hệ thương mại từ Đàng
Trong ra Đàng Ngoài.
Trang 20
Diện mạo kinh tế-xã hội Đàng Trong
Rõ ràng là, trong hơn một thế kỷ thiết lập quan hệ buôn bán với Bồ Đào Nha và Hà
Lan, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã thực thi chính sách ngoại thương rộng mở và tạo
mọi điều kiện thuận lợi cho các thương nhân Bồ Đào Nha và Hà Lan đến giao lưu buôn bán.
Trong quá trình diễn ra các hoạt động giao lưu buôn bán giữa Bồ Đào Nha và Hà Lan
thường xảy ra cạnh tranh, thậm chí dẫn đến xung đột, nhưng các chúa Nguyễn ở Đàng
Trong vẫn thực hiện chính sách cân bằng lực lượng, không dành bất cứ sự ưu tiên nào hoặc
cho Bồ Đào Nha hoặc cho Hà Lan. Nhờ vậy, quan hệ giữa Đàng Trong với Bồ Đào Nha và
Hà Lan vẫn giữ được sự hòa hiếu dẫu rằng có những thời điểm xảy ra bất đồng. Ngoài ra,
trong quan hệ với các nước phương Tây, chính quyền Đàng Trong đã biết sử dụng lợi thế
của từng nước để phục vụ cho sự phát triển đất nước. Trong thời kỳ đầu, khi Bồ Đào Nha
người Anh bèn chuyển sang thị trường Đàng Trong. Năm 1695, tàu Anh đến xin gặp chúa
Nguyễn nhưng sau 7 tuần chúa Nguyễn mới tiếp. Chúa Nguyễn chưa dứt khoát việc cho
người Anh mở thương điếm, do đó họ chán nản bỏ đi.
Năm 1702, người Anh chiếm đảo Côn Lôn có vị trí chiến lược trên biển làm chỗ kinh
doanh. Chúa Nguyễn phối hợp với những người Malay trên đảo đánh đuổi người Anh đi.
Tóm lại, hoạt động thương mại giữa Bồ Đào Nha và Hà Lan với Đàng Trong thế kỷ
XVI – XVII được coi là đỉnh cao trong quan hệ giữa Đàng Trong với các nước
phương Tây. Nhờ thiết lập được trạm trung chuyển Hội An mà Bồ Đào Nha và Hà
Lan duy trì được mạng lưới buôn bán thương mại nội Á trong suốt hơn một thế kỷ từ
giữa thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII. Đây là một trong những đóng góp hết sức
quan trọng của chính quyền Đàng Trong trong quan hệ với các nước phương Tây
thời Trung đại. Trên một phương diện khác, hoạt động thương mại của Bồ Đào Nha
và Hà Lan đã góp phần phá vỡ nền kinh tế tự cung tự cấp của Đàng Trong, thúc đẩy
nền kinh tế hàng hóa của Đàng Trong phát triển mạnh mẽ cũng như tạo điều kiện để
Đàng Trong tham gia vào quá trình hội nhập thương mại quốc tế.
C.I.4. Đô thị Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn
Trên đất Đàng Trong đã hình thành các trung tâm thương mại để cho ra đời các đô thị
cổ từ thời vương quốc Phù Nam nay còn để lại dấu tích kiến trúc của nền văn hóa Óc Eo,
xuất hiện từ thế kỷ thứ III ở tỉnh An Giang, mở rộng là cả vùng đất miền Tây Nam Bộ.
Vùng đất Thuận Quảng đã xuất hiện một Lâm Ấp phố từ thế kỷ thứ V- X của vương quốc
Chămpa nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, nay còn để lại nhiều dấu tích qua hệ thống các giếng
Trang 22
Diện mạo kinh tế-xã hội Đàng Trong
cổ và nền móng công trình đô thị ở Trung Phường, xã Duy Nghĩa, huyện Duy Xuyên, tỉnh
Quảng Nam . Cũng có một cảng Thi Nại hoạt động từ thế kỷ X-XV còn để lại dấu vết công
trình kiến trúc mà chúng tôi đã phát hiện vào năm 1986, nay ở xã Phước Hòa, huyện Tuy
Phước, tỉnh Bình Định.
Vào thời Đại Việt, người phương Tây được xem là đầu tiên thăm dò thị trường nước ta
đã đến vùng đất Quảng vào năm 1523 là Duarte Coelho (Bồ Đào Nha). Trước khi rời xứ,
ông đã tạc trên núi đá Cù Lao Chàm một hình thánh giá lớn, có ghi niên hiệu và chính danh
đất Đàng Trong.
1. Hội An
Vào năm 1980, khi bắt đầu khảo sát Hội An chúng tôi đã chú ý đến các địa danh “sông
Đò”, “bàu Dầu”; với các di vật như mảnh thuyền, cột buồm, neo tàu, tre, gỗ để cừ bờ sông
Chúng tôi xác định bờ sông cũ Hội An từ Cồn Tàu ở xã Cẩm Châu cắt dọc thành phố Hội
An theo đường chính diện qua đường Trần Phú hiện nay đến hai phường Cẩm Phô, Thanh
Hà cách bờ sông hiện thời chừng 100-200 mét. Với chiều dài hơn 4 km đó, ngày xưa là nơi
đỗ của các thuyền buôn mà cảng chính là ở Dương thương Hội quán, nay là Trung Hoa Hội
quán ở trên con đường Trần Phú.
Từ nửa sau thế kỷ XVI, khi nền thương mại phương Tây đang ồ ạt dồn về phương Đông để
tìm kiếm thị trường, lệnh “hải cấm” của nhà Minh cũng bị bãi bỏ (1567), chính sách mở cửa
của Mạc phủ Nhật Bản được ban hành (1592). Cũng trong thời gian này, chúa Nguyễn
Hoàng và trấn thủ dinh Quảng Nam là Nguyễn Phúc Nguyên đã viết nhiều thư kêu gọi
thương nhân nước ngoài đến buôn bán. Hội An, một địa chỉ có thương hiệu hấp dẫn “ Faifo”
trở thành một trung tâm thương mại hàng đầu của nước ta thu hút thương khách nhiều nước
đến buôn bán và lưu trú, đặc biệt là thương nhân Nhật Bản.
Sự thu nhận người Nhật nhập cư ở Hội An của chúa Nguyễn trước hết nhằm giải quyết
nhu cầu bức thiết cho một số thương nhân Nhật theo Thiên chúa giáo bị Nhật hoàng trục
xuất và sau đó đóng cửa không cho họ quay lại chính quốc. Sau khi có chính sách mở cửa
(1592), thương nhân Nhật Bản đến Hội An ngày càng đông. Đồng thời, thương nhân Trung
Quốc thời nhà Minh bỏ lệnh “hải cấm” cũng đến Hội An và có yêu cầu ở lại lâu dài để buôn
bán với thương nhân Nhật Bản.
Một lý do khách quan khác để Hội An trở thành đô thị quốc tế với sự lưu trú lâu dài
của giới thương nhân Nhật Bản và Trung Quốc là các thương vụ tấp nập diễn ra trên đất Hội
Trang 24
Diện mạo kinh tế-xã hội Đàng Trong
An chỉ 6 tháng đầu mỗi năm vào mùa khô. Đến cuối mùa hè các thuyền căng buồm để gió
mùa tây-nam đưa về đất bắc; Hội An trở nên hoang vắng. Trước tình hình đó, phủ chúa phải
có giải pháp nhằm thỏa mãn yêu cầu cho thương nhân Nhật Bản và Trung Quốc cũng chính
lợi ích của chính quyền sở tại là cho phép họ chọn một nơi gần thương cảng Hội An để lập