Chính sách tiền tệ là linh hồn của ngân hàng Trung ương - Pdf 22

LỜI MỞ ĐẦU
Chính sách tiền tệ luôn là nhu cầu để ổn định kinh tế vĩ mô với hạt nhân là ổn định
tiền tệ, tạo lập nền tảng cho sự phát triển chung. Mặt khác, nền kinh tế thị trường bản
chất là một nên kinh tế tiền tệ. Do đó việc ổn định giá trị đồng tiền cùng với việc thiết
lập nền Tài Chính Quốc Gia mạnh là cơ sở đầu tiên cho việc kiềm chế lạm phát, và ổn
định nền kinh tế.
Ngày này việc làm và phân phối thu nhập vừa là vấn đề bức thiết trước mắt, vừa là
vấn đề lâu dài để ổn định và tăng trưởng kinh tế. Vì vậy mà việc đẩy lùi và kiểm soát
lạm phát, tạo công ăn việc làm là vấn đề thường trực. Giải pháp cho việc đẩy lùi lạm
phát, trách thất nghiệp nhiều cần tập trung vào chính sách tiền tệ nhưng việc lựa chọn
giải pháp nào để xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia có hiệu quả nhất
vẫn còn là một ẩn số phức tạp và nhiều bất cập.
Được sự hướng dẫn của thầy cô em xin nhận đề tài: “Chính sách tiền tệ là linh hồn
của NHTW”.
Vì điều kiện thời gian và kiến thức còn hạn chế, chắc chắn sẽ không tránh khỏi
những thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến của cô để tiểu luận được hoàn thiện
hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LÀ LINH HỒN CỦA NGÂN
HÀNG TRUNG ƯƠNG
I. VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG TRONG ĐIỀU TIẾT VĨ

NHTW ra đời trong quan điểm là ngân hàng phát hành với chức năng phát hành tiền
cho lưu thông, về sau, khái niệm NHTW thay cho ngân hàng phát hành với chức năng
vừa phát hành tiền vừa quản lý về lưu thông tiền tệ, có các vai trò sau:
1. Điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông cho phù hợp với yêu cầu ổn định
và phát triển kinh tế.
Khối lượng tiền trong lưu thông trong mối quan hệ với khối lượng hàng hóa có tác
động rất lớn đến ổn định và phát triển kinh tế với tư cách là ngân hàng của các ngân
hàng. NHTW giữ vai trò quyết định khối lượng tiền trong lưu thông qua các công cụ

Đây là mục tiêu cơ bản và tất yếu của chính sách tiền tệ. Muốn ổn định và thúc đẩy
phát triển kinh tế cần phải khuyến khích mở rộng đầu tư bằng cách khai thác các nguồn
vốn tiềm năng trong nước và nước ngoài.
- Tạo công ăn việc làm cho người lao động, ổn định trật tự xã hội:
Ở nước ta, trong 3 nhân tố thuộc yếu tố cung là lao động, nguồn vốn và tiến bộ kỹ
thuật thì yếu tố lao động có tiềm năng lớn nhất. Vì vậy, để thúc đẩy phát triển kinh tế
với thì chính sách tiền tệ phải khai thác tối đa lực lượng lao động tro xã hội, còn tiền tệ
và tín dụng là chất xúc tác quan trọng.
Tuy nhiên cần lưu ý rằng sử dụng chính sách tiền tệ để tạo công ăn việc làm, giảm
thất nghiệp thì rất có thể đi đến tình trạng lạm phát cao. Vấn đề quan trọng ở chỗ là làm
thế nào để vừa kiềm chế và kiểm soát được lạm phát vừa tạo được công ăn việc làm.
Người ta cho rằng, nếu duy trì lạm phát ở một tỷ lệ vừa phải thì hình như đó lại là liều
thuốc kích thích tăng trưởng kinh tế.
III. CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Chính sách tiền tệ của 1 quốc gia về cơ bản có 2 loại:
- Chính sách mở rộng tiền tệ
Còn được gọi là chính sách nới lỏng tiền tệ. Chính sách này được áp dụng trong
điều kiện nền kinh tế bị suy thoái, nạn thất nghiệp gia tăng. Trong tình hình này, chính
sách nới lỏng tiền tệ làm tăng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế, mở rộng đầu tư, mở
rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động. Chính sách mở rộng tiền tệ
đồng nghĩa với chính sách tiền tệ chống suy thoái.
- Chính sách thắt chặt tiền tệ:
Còn được gọi là chính sách đóng băng tiền tệ. Loại chính sách này được áp dụng khi
nền kinh tế có sự phát triển thái quá, đồng thời lạm phát ngày càng gia tăng. Chính sách
thắt chặt tiền tệ đồng nghĩa với chính sách tiền tệ chống lạm phát.
Để thực hiện các chính sách trên NHTW sử dụng các công cụ sau:
1. Các công cụ trực tiếp:
a. Ấn định lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay
NHTW có thể ấn định lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay và bắt buộc các
NHTM áp dụng khi muốn tăng mức cho vay NHTW hạ lãi suất tiền gửi và tiền cho

Khi ngân sách bị thiếu hụt, NHTW có thể phát hành tiền để đáp ứng nhu cầu chi
tiêu của ngân sách. Biện pháp này dễ đưa đến lạm phát, thông thường biện pháp này
được áp dụng để phát hành tiền cho đầu tư phát triển xem như là ứng trước cho sản
xuất
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường các công cụ trực tiếp thường được áp dụng
trong những trường hợp nhất định. NHTW thường sử dụng các công cụ gián tiếp để
điều hành chính sách tiền tệ
2. Các công cụ gián tiếp
a. Quy định tỷ lệ dự trữ pháp định
Là phương thức quản lý khối lượng tiền trong lưu thông bằng các quy định tỷ lệ
mà các NHTM được phép cho vay khi nhận được 1 khối lượng tiền gửi, tỷ lệ dự trữ
pháp định là tỷ lệ % trên số tiền gửi mà 1 NHTM nhận được phải gửi vào Tài khoản
tại NHTW hoặc giữ tại ngân hàng theo quy định. Với biện pháp này NHTW nắm
được khối lượng tín dụng mà các NHTM và các tổ chức tín dụng khác cung cấp và
có khả năng cung cấp cho nền kinh tế. Do đó NHTW có thể tác động trực tiếp đến
khối lượng tín dụng bằng cách tăng hay giảm tỷ lệ dự trữ pháp định
b. Biện pháp thị trường mở
Nội dung của biện pháp này là NHTW tiến hành mau và bán các giấy tờ có giá
trên thị trường tiền tệ theo mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.
Trong trường hợp NHTW muốn tăng khối lượng tiền trong lưu thông NHTW sẽ
mua vào 1 lượng chứng khoán nhất định, việc các NHTM bán chứng khoán cho
NHTW sẽ làm tăng dự trữ cho các NHTM nhờ vào lượng tiền nhận được từ NHTW.
Ngược lại, nếu NHTW muốn thu hẹp khối lượng tiền tệ NHTW sẽ bán ra 1 lượng
chứng khoán nhất định, biện pháp này có ưu điểm là tác động trực tiếp đến dự trữ
của các NHTM buộc các NHTM phải gia tăng hay giảm khối lượng ín dụng. Nhưng
có nhược điểm chỉ thực hiện được trong điều kiện các khoản tiền trong lưu thông
đều nằm tại các NHTM.
c. Biện pháp chiết khấu, tài chiết khấu và cho vay của NHTW
Là hình thức cung cấp tín dụng của NHTW cho các NHTM trong điều kiện có
thế chấp, chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá của các NHTM. Việc ấn định

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LÀ LINH HỒN CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
II. KHÁI NIỆM VÀ CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TỀN TỆ.
2.1. Khái niệm _
Chính sách tiền tệ, là một bộ phận trong tổng thể hệ thống chính sách kinh tế của nhà
nước để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối vơi nền kinh tế nhằm đạt được những mục
tiêu kinh tê-xã hội trong từng giai đoạn nhất định.
Chính sách tiền tệ có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa thông thường. Theo nghĩa
rộng thì chính sách tiền tệ là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền tệ trong nền
kinh tế quốc dân nhằm tác động đền bốn mục tiêu lớn của kinh tế vĩ mô, trên cơ sở đó
đạt mục tiêu cơ bản là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả
hàng hóa. Theo nghĩa thông thường là chính sách quan tâm đến khối lượng tiền cung
ứng tăng thêm trong thời kì tới (thường là một năm) phù hợp với mức tăng trưởng kinh
tế dự kiến và chỉ số lạm phát nếu có, tất nhiên cũng nhằm ổn định tiền tệ và ổn định giá
cả hàng hóa.
Chúng ta có thể khẳng định rằng, nếu như chính sách tài chính chỉ tập trung vào thành
phần. Kết cấu các mức chi phí thuế khóa của nhà nước, thì chính sách tiền tệ quốc gia
lại tập trung vào mức độ khả năng thanh toán cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bao
gồm việc đáp ứng khối lượng cần cung ứng cho lưu thông, điều khiển hệ thống tiền tệ
và khối lượng tín dụng đáp ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện và thúc đẩy hoạt
động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn theo những quỹ đạo đã định.
2.2 Công cụ của chính sách tiền tệ.
Xét cho cùng, Ngân hàng Trung ương có thể thực thi hai loại chính sách tiền tệ, phù
hợp với tình hình thực tiền của nền kinh tế, đó là chính sách nới lỏng tiền tệ và chính
sách thắt chặt tiền tệ.
Chính sách nới lỏng tiền tệ: Là việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế, nhằm khuyến
khích đầu tư phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm.
Chính sách thắt chặt tiền tệ: Là việc giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế nhằm hạn chế
đầu tư, ngăn chặn sự phát triển quá đà của nền kinh tế là kiểm chế lạm phát.
Để thực hiện hai chính sách tiền tệ này, ngân hang trung ương có thể sử dụng hàng loạt
các công cụ tiền tệ nằm trong tầm tay của mình đó là các công cụ trực tiếp và công cụ

Tái chiết khấu và tái cấp vốn là những cách thức cho vay của NHTW đối với các
NHTM.
Công cụ này có ưu điểm là nó trực tiếp tác động ngay đến dự trữ của NHKD và buộc
các ngân hàng này phải gia tăng tín dụng hoặc giảm tín dụng đối với nền kinh tế.
III.TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN
MỤC TIÊU ỔN ĐỊNH KINH TẾ.
3.1.Dự trữ bắt buộc.
Trong hoạt động tín dụng và thanh toán, các NHTM có khả năng biến những khoản tiền
gửi ban đầu thành những khoản tiền gửi mới cho cả hệ thống, khả năng sinh ra bộ số tín
dụng, tức là khả năng tạo tiền. Để khống chế khả năng này, NHTW buộc các NHTM
phải trích một phần tiền huy động được theo một tỷ lệ quy định gửi vào NHTW không
được hưởng lãi. Do đó cơ chế hoạt động của công cụ dự trữ bắt buộc nhằm khống chế
khả năng tạo tiền, hạn chế mức tăng bội số tín dụng của các NHTM.
Khi lạm phát cao, NHTW nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khả năng cho vay và khả năng
thanh toán của các ngân hàng bị thu hẹp (do số nhân tiền tệ giảm), khối lượng tín dụng
trong nền kinh tế giảm (cung tiền giảm) dẫn tới lãi suất tăng, đầu tư giảm do đó tổng
cầu giảm và làm cho giá giảm (tỷ lệ lạm phát giảm). Ngược lại, nếu NHTW hạ thấp tỷ
lệ dự trữ bắt buộc tức là tăng khả năng tạo tiền, thì cung về tín dụng của các NHTM
cũng tăng lên, khối lượng tín dụng và khối lượng thanh toán có xu hướng tăng, đồng
thời tăng xu hướng mở rộng khối lượng tiền. Lý luận tương tự như trên thì việc tăng
cung tiền sẽ dẫn tới tăng giá (tỷ lệ lạm phát tăng). Như vậy công cụ dự trữ bắt buộc
mang tình hành chính áp đặt trực tiếp, đầy quyền lực và cực kì quan trọng để cắt cơn
sốt lạm phát, khôi phục hoạt động kinh tế trong trường hợp nền kinh tế phát triển chưa
ổn định và khi các công cụ thị trường mở tái chiết khấu chưa đủ mạnh để có thể đảm
trách điều hòa mức cung tiền cho nền kinh tế. Nhưng công cụ dự trữ bắt buộc quá nhạy
cảm, vì chỉ thay đổi nhỏ trong tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã làm cho khối lượng tiền tăng lên
rất lớn khó kiểm soát.
3.2. Tái chiết khấu:
Là phương thức để NHTW đưa tiền vào lưu thông, thực hiện vai trò người cho vay cuối
cùng. Thông qua việc tái chiết khấu, NHTW đã tạo cơ sở đầu tiên thúc đẩy hệ thống

Có nhiều đổi mới đã góp phần củng cổ và làm lành mạnh một bước nền tài chính quốc
gia, giữ ổn định và cân đối kinh tế vĩ mô, thúc đẩy phát triển kinh tế.
Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2001 tăng 14,5% so với năm 2000 và đạt 21,6%
GDP, năm 2002 tăng 14,6% và đạt 22,2% GDP. ước tình 6 tháng đầu năm 2003 tăng
9,5% và đạt 22,8% GDP. Trong các khoản thu, thu từ kinh tế nhà nước năm 2001 tăng
17,6 % và năm 2002 tăng 7,6%, thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài năm 2001
tăng 13,1% trong đó thu về dầu thô tăng 11,7%, năm 2002 tăng 2,7%, riêng dầu thô
giảm 2,6%. Thu ngân sách liên tục tăng qua các năm và tăng mạnh hơn tốc độ tăng
trưởng kinh tế, chủ yếu do hệ thống thuế đã từng bước được cải cách, đây là một bước
tiến bộ quan trọng của quá trình đổi mới chính sách tài chính, đã dần phù hợp với nền
kinh tế thị trường và yêu cầu của hội nhập nên đã từng bước giảm được phần thất thu.
Chi ngân sách nhà nước năm 2001 tăng 19,1% so với năm 2000 và băng 27% GDP,
năm 2002 tăng 13,3% và băng 27,4% GDP, ước tính 6 tháng năm 2003 tăng 14% và
băng 13,4%. Cơ cấu chi ngân sách nhà nước đã có những chuyển biến theo hướng tiếp
tục tăng chi thường xuyên ở mức cao. Chi đầu tư phát triển tập trung chủ yếu vào cho
xây dựng hạ tầng cơ sở, xong vẫn đảm bảo luôn ở mức 1/3 tổng chi ngân sách nhà
nước.
Chi thường xuyên năm 2001 tăng 15,8% và bằng 14,9%GDP, năm 2002 tăng 14.9% và
bằng 15,3% GDP, 6 tháng đầu năm 2003 tăng 14,3% (kể cả chi thực hiện chế độ tiền
lương mới) và băng 15,2% GDP. Chi thường xuyên đã tập trung và ưu tiên cho các
nhiệm vụ quan trọng như: Giáo dục-đào tạo, khoa học, công nghệ và môi trường. Bội
chi ngân sách nhà nước so với GDP bình quân hàng năm xấp xỉ 5%, ở mức an toàn và
kiểm soát được.
Thu chi ngân sách nhà nước so với GDP
2003 2004 2005
Tổng thu 20,5 21,6 22,2
Thu nội địa 10,5 10,9 11,2
Thu từ kinh tế nhà nước 4,6 4,8 4,6
Thu từ kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 1,3 1,2 1,3
Thu hải quan 4,3 4,8 5,9

tổ chức tín dụng trong các hoạt động kinh doanh, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng
chủ động trong hoạt động huy động vốn và cho vay đối với khách hàng. Cơ chế mới đã
tạo ra sự sôi động trong hoạt động kinh doanh và cạnh tranh của các tổ chức tín dụng.
Nếu như với cơ chế lãi suất cơ bản, trong các đầu năm 2002 lãi suất huy động vốn dừng
lại ở mức 0,6%/tháng, lãi suất cho vay bình quân là 0,7%/tháng, thì từ khi áp dụng cơ
chế lãi suất thỏa thuận từ tháng 6 năm 2002 và nhất là trong các tháng 8và 9 năm 2002
lãi suất huy động vốn cao nhất của các NHTM lên tới 0,7% thậm trí 0,72%/tháng. Mức
lãi suất cao nhất trong vòng gần hai năm qua, không dừng lại ở đó các tháng đầu năm
2003 do nhu cầu vốn vay trên thị trường vẫn cao các ngân hàng thương mại, các tổ
chức tín dụng vẫn tiếp tục cuộc cạnh tranh huy động vốn thông qua các biện pháp nâng
lãi suất huy động. Thực hiện các hình thức khuyến mại rầm rộ và hấp dẫn. Đã xuất hiện
diễn biến bất thường trên thị trường tiền tệ Việt Nam là lãi suất nội tệ tăng lên quá cao,
trong khi lãi suất ngoại tệ giảm xuống quá thấp.
2.2 Công cụ nghiệp vụ thị trường mở.
Ngày 12/7/2000, NHNN Việt Nam chính thức đưa công cụ nghiệp vụ thị trường vào
hoạt động đây là một sự chuyển biến quan trọng điều hành chính sách tiền tệ của ngân
hàng nhà nước Việt Nam, từ sử dụng các công cụ trực tiếp sang sử dụng các cộng cụ
gián tiếp theo tín hiệu của thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Qua hơn hai năm triển khai thực hiện, đến nay đã có 22 tổ chức tín dụng được cấp giấy
chứng nhận là thành viên nghiệp vụ thị trường mở trong đó có 4 ngân hàng thương mại
quốc dân, 10 NHTM cổ phần, 1 ngân hàng nước ngoài, một công ty tổ chức và quỹ tín
dụng nhân dân TW.
Từ tháng 5/2002 nghiệp vụ thị trường mở được đưa vào giao dịch hàng tuần, quy mô và
doanh số ngày càng tăng, lãi suất ngày càng linh hoạt. Trong các hình thức giao dịch
của nghiệp vụ thị trường mở thì việc NHNN mua các giấy tờ có giá là chủ yếu (NHNN
bơm tiền ra), chiếm tỷ lệ từ khoảng 71% lên trên 90%.
2.3 Các công cụ khác.
- Lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu:
Như đã biết đây là cửa sổ chiết khấu rất quan trọng để tăng hoặc giảm khả năng cho vay
của các NHTM làm tăng hoặc giảm lượng cung ứng cho nên kinh tế. Trong thời gian

1.1. Chưa chủ động trong điều tiết mặt bằng lãi suất thị trường tiền tệ. Do đó chưa
thực vai trò hướng dẫn sự biết động của lãi suất thị trường.
Cụ thể, mức lãi suất tái cấp vốn và lãi suất trần tăng lên vào tháng 1 năm 1998 diễn ra
sau khi mức lãi suất cho vay ngắn hạn của NHTM đã nhích lên từ tháng 10 năm 1997
trước đó. Tượng tự, mức lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh giảm từ 13,2% xuống còn
12% vào tháng 2/1999 sau khi mức lãi suất ngắn hạn có xu hướng giảm vào tháng 12
năm 1998 từ 14,7% xuống 14,5% và xuống tiếp 14% vào tháng 2/1999.
Từ thời điểm tháng 2/1999 đến tháng 8/2001, mức lãi suất thị trường giảm liên tục từ
14% xuống còn 9,3% đối với lãi suất ngắn hạn, rồi từ 14,7% xuống còn 10,3% đối với
lãi suất trung hạn và dài hạn trong khi diễn biến lãi suất trần và cơ bản lại tách khỏi xu
hướng thị trường, sự tăng lên của lãi suất tái cấp vốn vào tháng 2/2003 tới 6,6%/năm
cũng khẳng định những diễn biến của mặt bằng lãi suất thị trường đã có xu hướng tăng
vào cuối năm.
1.2 Những phản ứng của lãi suất thị trường đối với lãi suất.
Thực tế cho thấy mối quan hệ giữa các mức lãi suất lỏng lẻo, không phối hợp hiệu quả
và chức năng của chúng có biên giới. Từ tháng 6/2002 NHNN chủ yếu sử dụng nghiệp
vụ thị trường mở để phản ứng biến động của thị trường tiền tệ. Mặt nữa mối quan hệ
nhân quả truyền thống giữa lãi suất chủ đạo và lãi suất thị trường không được thể hiện
trong mối liên hệ của lãi suất tái cấp vốn và lãi suất liên ngân
hàng. Có thể chứng mình bằng con số như sau: Vào quý 4 năm 2000 và quý 3,4 năm
2001 khi thị trường lâm vào cảnh căng thẳng về nguồn vốn VNĐ, lãi suất liên ngân
hàng tăng tới 60% từ 4,5% vào tháng 9/2000 tới hơn 7% vào tháng 9/2001 và tăng nhẹ
vào năm 7/2001tới 5,5% vào tháng 11,12/2001 trong khi lãi suất tái cấp vốn không có
biểu hiện biến động. Hầu như từ tháng 8/2001 đến tháng 8/2002 lãi suất liên ngân hàng
luôn ưu thế hơn lãi suất tái suất vốn.
1.3 Các thị trường do ngân hàng nhà nước tổ chức mà thông qua đó tác động vào lãi
suất huy động vốn và cho vay của tổ chức tín dụng ngày càng lớn, quy mô tăng,
doanh số cao nhưng diễn biến lại bất thường.
Trong lúc nhiều ngân hàng thương mại thiếu vốn chung, dài hạn phải huy động với lãi
suất trên 8%/năm thì phải đầu tư hàng trăm tỷ đồng vào tín phiếu kho bạc nhà nước,

- Yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến huy động vốn trung và dài hạn và ngân hàng là thị
trường chứng khoán ở nước ta hiện nay ở giai đoạn sơ khai, các sản phẩm trên thị
trường tiền tệ chưa nhiều, hoạt động đơn giản, thuần túy. Mặt khác hệ thống pháp luật
còn thiếu những quy định toàn diện trong việc điều chỉnh các hoạt động, tiếp theo là
những hạn chế của chính ngành ngân hàng trong mọi hoạt động chu chuyển nguồn vốn
của các doanh nghiệp.
4. Tái cấp vốn và việc kiểm soát lượng tiền cung cấp.
Thực hiện mục tiêu của chính sách tài chính NHNN đã sử dụng nghiệp vụ tái cấp vốn
như là công cụ để điều tiết việc mở rộng hay thu hẹp tổng khối lượng tiền hay tổng
phương tiện thanh toán trong nền kinh tế. Từ tổng khối lượng tiền cung ứng được phép
tăng lên hàng năm NHNN kiểm soát chặt chẽ khối lượng tín dụng cho các NHTM qua
nghiệp vụ tái cấp vốn. Tuy nhiên do trong nền kinh tế chưa lưu thông hối phiếu và
thương phiếu nên NHNN chưa có điều kiện thực hiện tái cấp vốn qua tái chiết khấu các
kỳ phiếu thương mại cũng như chưa tái cấp vốn qua các thế chấp bằng những chứng từ
có giá. Trên tầm vĩ mô NHNN vẫn chưa kiểm soát được toàn bộ các kênh tín dụng nằm
ngoài ngân hàng, như khối lượng của tổng cục đầu tư và hệ thống kho bạc. Đây là 1
mảng của tổng phương tiện thanh toán cần nằm trong sự kiểm soát của NHNN
5. Dự trữ bắt buộc:
Từ năm 1991, dự trữ bắt buộc được áp dụng như một công cụ chủ yếu để điều hành
chính sách tài chính theo pháp lệnh ngân hàng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc có thể ở mức 10-
35% tổng nguồn vốn huy động của các NHTM. Song xét hoàn cảnh thực tế, tiềm lực
của các NHTM Việt Nam quyết định dự trữ bắt buộc ở mức 10%. Tỷ lệ này từ năm
1991 tới nay nhưng kỷ luật chấp hành của các NHTM chưa nghiêm túc nên tác dụng
của công cụ này kém hiệu quả.
Đầu năm 1994, NHTW đã có quy định bổ xung: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đơn vị loại tiền
gửi không kỳ hạn là 13%, đối với loại tiền gửi là 7% nhưng cũng là để thi hành cho một
thời gian dài. Sự ổn định như vậy đã nói lên rằng, ở nước ta vào thời kỳ này mới bước
đầu sử dụng công cụ này, nên chưa có khả năng điều khiển nó một cách linh hoạt theo
thị trường tài chính luôn biến động trong lưu thông, nên chưa thực hiện đầy đủ vai trò
điều khiển khối lượng tiền lưu thông hạn chế bởi số tín dụng của các NHTM như chức

tín hiệu thị trường, vừa kịp thời có những biện pháp để thu hút tiền mặt về, giảm bớt
sức ép lạm phát. Khối lượng tiền tệ tăng thêm chỉ là một chỉ tiêu có tính định hướng
NHTW phải theo dõi diễn biến của hoạt động kinh tế, sự biến đổi giá cả và tỷ giá hối
đoái để điều chỉnh kịp thời việc cung ứng tiền sao cho việc tăng, giảm khối lượng tiền
không ảnh hưởng tới giá cả thị trường và làm tắc nghẽn lưu thông. Việc điều chỉnh này
phải thực hiện thông qua các nhu cầu đối ứng tạo ra trong lĩnh vực tạo tiền bằng các
chính sách tín dụng về ngoại hối. Trong qua trình điều hành, căn cứ vào tín hiệu của thị
trường NHNN cần điều hòa khối lượng tiền cung ứng vào các mục tiêu cho thích hợp
và phương thức cung ứng tiền thông
qua các kênh:
- Mua ngoại tệ cho quỹ dự trữ.
- Cấp tín dụng cho NHTM thông qua chương trình tín dụng của nhà nước, vốn cho
ngân hàng phục vụ người nghèo.
- Cho vay tái cấp vốn và tái chiết khấu.
- Cấp đủ vốn điều lệ cho doanh nghiệp nhà nước.
- Tăng vốn điều lệ cho NHTM quốc doanh.
- Nghiệp vụ thị trường mở.
2. Chính sách quản lý ngoại hối và điều hành tỉ giá:
2.1 Chính sách quản lý ngoại hối.
Chính sách quản lý ngoại hối phải hướng tới mục tiêu chủ yếu là bảo vệ đồng tiền Việt
Nam, tạo tiền đề cho tương lai có một đồng tiền Việt Nam chuyển đổi. Chính sách quản
lý ngoại hối cần được kết hợp chặt chẽ với chính sách ngoại thương để có kết quả bội
thu trong cán cân thương mại, ổn định tỉ giá hối đoái, tăng dự trữ ngoại tệ.
Cán cân thanh toán quốc tế phải được sử dụng như một công cụ điều tiết vĩ mô. NHNN
phải phân tích điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế để đảm bảo cân bằng hợp lý trong
giao dịch đối ngoại. Cần linh hoạt trong quản lý ngoại hối cho phù hợp với quá trình
chuyển đổi nền kinh tế nhằm đảm bảo ổn định tỷ giá, ổn định tiền tệ tạo cơ để điều
hành chính sách tiền tệ một cách thuận lợi.
2.2. Chính sách điều hành tỷ giá.
Chính sách tỷ giá là một bộ phận của chính sách tiền tệ và có nhiệm vụ đảm bảo ổn

thực tiễn, trước mắt NHNN cho phép và hướng dẫn các NHTM tiến hành thực hiện
nghiệp vụ quyền chọn tiền tệ.
- Về nghiệp vụ tương lai: Nghiệp vụ này nổi tiếng là một cuộc chơi dành cho những
người chấp nhận rủi ro cao. Do đó với thị trường non trẻ của Việt Nam thì chưa lên mở
rộng nghiệp vụ thi trường này.
3.Chính sách huy động vốn và tín dụng:
Đây là kênh đã, đang và còn tiếp tục đóng vai trò chủ lực trong việc huy động vốn cho
nền kinh tế. Tuy nhiên do độ sâu tài chính bình quân của các ngân hàng Việt Nam còn
quá thấp: Năm 2002 chỉ số tổng huy động trên GDP mới đạt 55%, trong khi đó con số
này của Thái Lan là 94%, Trung Quốc là 137% điều đó nói lên rằng tiền năng vốn
trong dân cư còn rất lớn. Để huy động tốt qua kênh chủ lực này cần ít nhất ba điều kiện
cơ bản là ổn định kinh tế vĩ mô, tăng tiềm lực tài chính cho
các ngân hàng và nâng cao uy tín đồng tiền Việt Nam.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng đóng vai trò điều tiết thường xuyên
đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát. Dựa vào việc
mở rộng tín dụng người ta có thể đạt đến sứ mở rộng sản xuất kinh doanh và đầu tư xây
dựng cơ bản và ngược lại. Vì vậy công cụ hạn mức tín dụng có ý nghĩa quan trọng và
việc xác định hạn mức tín dụng là rất cần thiết để thực hiện mục tiêu chống lạm phát và
ổn định kinh tế.
3. Điều hành chính sách tiền tệ với công cụ quản lý.
3.1 Dự trữ bắt buộc.
Thông qua việc thực hiện chế độ dự trữ bắt buộc NHNN điều hành tổng phương tiện
thanh toán qua cơ chế tác động đến khối lượng và giá tín dụng của các ngân hàng
thương mại. Muốn công cụ này trở lên có hiệu quả hơn thì: Trước mắt phải hoàn hiện
từng bước các văn bản pháp lý trong lĩnh vực này, linh hoạt điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt
buộc cho phù hợp với tình hình thực tế. NHNN có thể hoàn lại số tiền lãi mà NHTM
phải trả cho khách hàng có tiền gửi để đảm bảo cho NHTM kinh doanh có lãi. Cần
thống nhất một tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho các loại tiền gửi có kì hạn và không có kì hạn.
Thống nhất lập số tiền dự trữ bắt buộc vào một tài khoản tiền gửi không kì hạn và quản
lý theo hạn mức; thực hiện việc thay đổi hay hoàn lại tiền lãi số tiền lãi, số tiền hụt hay

thị trường mở với các nghiệp vụ khác như:
Chiết khấu giấy tờ có giá ngắn hạn, hoán đổi ngoại tệ Để tạo ra được môi trường
kinh doanh lành mạnh, bình đẳng giữa các TCTD, đồng thời giúp cho nghiệp vụ thị
trường mở ngày càng củng cố và trở thành công cụ điều hành chính sách tiền tệ có hiệu
quả của NHTW.
KẾT LUẬN
Qua quá trình nghiên cứu chính sách tiền tệ quốc gia nói riêng và chính kinh tế vĩ mô
nói chung, chúng ta thấy rõ được vai trò và ý nghĩa của nó trong nền kinh tế bởi chính
sách tiền tệ là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô của nhà nước. Nên vị trí của chính
sách tiền tệ trở nên hết sức quan trọng.
Hoạch định một chính sách tiền tệ đòi hỏi cả một quá trình, sự linh hoạt và sự thống
nhất trong sự áp dụng trên thực tiễn trước bối cảnh kinh tế quốc tế hiện nay.
Bằng sự nỗ lực hiện tại và trong tương lai, sự kế thừa và phát huy những thành tựu của
chính sách tiền tệ, chắc chắn chính sách tiền tệ Việt Nam sẽ đóng góp vai trò quan trọng
trong việc xây dựng một đất nước Việt Nam giầu mạnh, ổn định và phát triển sánh vai
với các bạn bè quốc tế.
Qua bài viết, tuy bản thân là người Laos, em cũng hiểu rõ phần nào về chính sách tiền
tệ, tuy còn nhiều vấn đề bất cập song em cũng cố gắng hoàn thành bài viết, em mong có
được sự đóng góp ý kiến của Thầy cô và bạn đọc.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình lý thuyết tiền tệ- Trường Học Viện Tài Chính Hà
Nội
2. Đổi mới chính sách tiền tệ và kiểm soát ở Việt Nam.
3. Tạp chí nghiên cứu tài chính số 4 (2003), số 5,6 (2004)
4. Thời báo kinh tế và dự báo số 4 (2004)
5. Tạp chí nghiên cứu khoa học sinh viên số 5 (2004)
6. Tạp chí thuế nhà nước số 8 (2004)
7. Kinh tế học –david begg
8. Kinh tế xã hội Việt Nam từ năm 2001-2010
MỤC LỤC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status