nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo hải hà - Pdf 22


1ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI

trờng đại học KINH Tế

Trần Thị vinh

NÂNG CAO năng lực cạnh tranh của công
ty cổ phần bánh kẹo hảI hà

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
M số: 60 34 05

LUậN VĂN THạC Sĩ quản trị kinh doanh

Ngời hớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Cảnh hoan

Hà Nội - 2010

2

LỜI CAM ĐOAN

bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1 Báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải
Hà 3 năm 2007, 2008, 2009
47
Bảng 2.2 Cơ cấu kinh doanh các nhóm hàng chính của Công ty 53
Bảng 2.3 Một số loại sản phẩm bánh kẹo của Công ty 55
Bảng 2.4 Hệ thống đại lý của công ty bánh kẹo Hải Hà 56
Bảng 2.5 Tình hình tiêu thụ sản phẩm ở các tháng từ năm 2007-2009 59
Bảng 2.6 Một số mặt hàng bán chạy của Công ty 61
Bảng 2.7 Giá bán một số mặt hang của công ty so với đối thủ cạnh tranh 62
Bảng 2.8 Mức chiết giá sản phẩm của công ty 63
Bảng 2.9 Tỷ lệ giảm giá theo km đường 63
Bảng 2.10

Chi phí dành cho quảng cáo 67
Bảng 2.11

Mức khuyến mãi 67
Bảng 2.12

Thị phần của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà 3 68
Bảng 2.13

Mức trợ giá cho các đại lý của công ty năm 2009 69
Bảng 2.14
5

MỤC LỤC


Hà… 46
2.2.1. Đặc điểm về sản phẩm bánh kẹo ……………………………………49
2.2.2. Đặc điểm thị trường tiêu thụ……………………………………… 50

6

2.2.3. Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phần bánh kẹo
Hải Hà…51
2.2.4. Đặc điểm về khách hàng……………………………………………… 68
2.2.5. Đặc điểm về đối thủ cạnh tranh……………………………………….72
2.2.6. Đặc điểm về tài chính………………………… ………………………76
2.3. Đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải
Hà………78
2.3.1. Về sản phẩm………………………………………………………………78
2.3.2. Về hoạt động Marketing……………………………………………… 80
2.3.3. Về thời gian và không gian………………………………………………82
2.3.4. Đánh giá chung………………………………………………………… 84
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2………………………………………………………………
86
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ TRONG QUÁ TRÌNH
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
………… …………………………………87
3.1. Thách thức đối với Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế………………………………………… ………87
3.2. Định hướng giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công
ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà ……………………………………………….88
3.2.1. Mở rộng liên kết với các công ty trong nước………………………….
88
3.2.2. Định hướng chiến lược kinh doanh lâu dài đối với Công ty cổ phần

123

8

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Năng lực cạnh tranh là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố và chịu tác
động của nhiều nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp; là quá trình lâu
dài, phức tạp và thường xuyên, liên tục; là vấn đề sống còn đối với doanh
nghiệp. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, bên cạnh các cơ hội
kinh doanh, các doanh nghiệp phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức,
đòi hỏi các tổ chức, doanh nghiệp phải nhận thức đúng cạnh tranh để từ đó
nâng cao năng lực cạnh tranh và giành thắng lợi trong kinh doanh. Để từng
bước vươn lên giành thế chủ động trong quá trình hội nhập, nâng cao năng
lực cạnh tranh chính là tiêu chí phấn đấu của các doanh nghiệp Việt Nam.
Với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và trong nước như vũ bão đồng
thời với việc Việt Nam tham gia vào các tổ chức kinh tế mà đặc biệt là việc
gia nhập WTO, mọi thành tựu khoa học công nghệ thông tin được áp dụng
rộng rãi vào sản xuất hàng hoá và dịch vụ, năng suất lao động trong sản xuất
tăng nhanh, hàng hoá sản xuất ra ngày càng nhiều thì mức độ cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt. Hơn nữa trong cơ chế thị
trường các doanh nghiệp đang ra sức cạnh tranh, luôn cố gắng, nỗ lực tìm cho
mình một vị thế, chỗ đứng trên thị trường, liên tục mở rộng thị phần sản
phẩm, nâng cao uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng. Sản phẩm hàng
hoá có thể cạnh tranh được trên thị trường phải là những sản phẩm, hàng hoá
có chất lượng cao, mẫu mã đẹp và điều quan trọng không thể thiếu đó là giá
bán phải phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng. Mặt khác, trong các doanh
nghiệp thì lợi nhuận luôn là mục tiêu là sự phấn đấu và là cái đích cần đạt tới.
Như vậy để doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, thu được lợi nhuận cao thì
không những đầu ra của quá trình sản xuất phải đảm bảo mà đầu vào cũng

10

2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề cạnh tranh của các doanh nghiệp đã được khá nhiều đề tài trong và
ngoài nước nghiên cứu nhưng ở phạm vi và hoàn cảnh khác nhau như một số
đề tài sau:
- Đề tài: “ Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng
thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh ” -
Chủ nhiệm: TS.
Lê Hùng; Phó Chủ nhiệm: CN. Lê Thanh Hải; Thành viên tham gia: TS.Nguyễn
Văn Hà, ThS. Lê Nguyễn Hải Đăng, ThS.Lê Nguyễn Quỳnh, ThS.Trần Anh Tuấn,
Trần Đình Cường, Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Đức Lệch, Nguyễn Hữu Nghĩa, Đỗ
Xuân Trung, Lê Phan Thanh Hoà, Phạm Thị Thanh Hiền.

- Đề tài: “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay ” - Nguyễn Vinh Thanh, Tạp chí nghiên cứu thế giới
- Đề tài: “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong hội
nhập kinh tế quốc tế ” -
PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa
- Đề tài:
“ Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ”
-
PGS.TS
Phạm Văn Phúc.

Tuy nhiên với phạm vi của từng doanh nghiệp cụ thể thì còn rất tản mạn.
Chính vì vậy mà trong đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu một cách hệ thống,
toàn diện ở một doanh nghiệp thuộc ngành lương thực - thực phẩm với các
đặc điểm đặc thù riêng có.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu


12

 Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần bánh
kẹo Hải Hà trong giai đoạn vừa qua.
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế. 13

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1. Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh
1.1.1.2 Cạnh tranh
Thuật ngữ “Cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều
lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, ; thường
xuyên được nhắc tới trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng như
các phương tiện thông tin đại chúng và được sự quan tâm của nhiều đối
tượng, từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau
về “cạnh tranh”, cụ thể như sau:

trong việc thực hiện sản phẩm, dịch vụ nhằm chiếm lĩnh thị trường ở mức cao
nhất, giành điều kiện tiêu thụ có lợi nhất và tối đa hoá lợi nhuận [18].
Từ những định nghĩa trên có thể rút ra nhận định chung sau đây:
Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau
tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm
lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị
trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá
trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích, đối với người sản xuất - kinh doanh là
lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.
Cạnh tranh là quy luật tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường. Các
doanh nghiệp bắt buộc phải chấp nhận cạnh tranh, ganh đua với nhau, phải
luôn không ngừng tiến bộ để giành được ưu thế tương đối so với đối thủ. Nếu
như lợi nhuận là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động

15

kinh doanh thì cạnh tranh bắt buộc họ phải tiến hành các hoạt động kinh
doanh một cách có hiệu quả cao nhất nhắm thu được lợi nhuận tối đa. Kết quả
cạnh tranh sẽ loại bỏ được các doanh nghiệp yếu kém và giúp phát triển làm
ăn có hiêu quả. Ở Việt Nam, cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế, cạnh tranh
được thừa nhận là một quy luật kinh tế khách quan và được coi như là một
nguyên tắc cơ bản trong tổ chức điều hành kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.1.2. Năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một
số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng
các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường
hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của
doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi
hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao. Như vậy, năng lực canh

mình so với các chủ thể khác. Vị thế đó, dựa trên những ưu thế nhất định về
các điều kiện sản xuất và tiêu thụ hàng hoá. Sức cạnh tranh, năng lực cạnh
tranh, khả năng cạnh tranh đều phản ánh vị thế cạnh tranh của các chủ thể
kinh tế, vị thế đó là những điều kiện để các chủ thể kinh tế tham gia vào hoạt
động cạnh tranh.
Những quan niệm trên cho thấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
dựa trên hai tiêu chí chủ yếu là thị phần và lợi nhuận. Những tiêu chí này chỉ
đánh giá trạng thái “tĩnh” của ngành (doanh nghiệp hoặc sản phẩm) trong một
thời điểm, trong khi đó cạnh tranh là một quá trình mang tính “động”, vì vậy

17

khi phân tích cạnh tranh, người ta thường bổ sung vào một số yếu tố “động”
khác như mức độ ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, vòng
đời sản phẩm v.v. Trên cơ sở phân tích đó, các nhà kinh doanh có thể đưa ra
những chiến lược kinh doanh phù hợp với thị trường để duy trì và phát huy vị
thế của mình trên thị trường hoặc đưa ra những biện pháp phòng ngừa rủi ro
có thể xảy ra. Một chủ thể có sức cạnh tranh cao là chủ thể có lợi thế, biết tạo
ra lợi thế để thu được lợi nhuận cao hơn so với các chủ thể khác.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là cái hiện hữu trong sản phẩm, việc
phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm thường được tiến hành
đồng thời bằng 3 phương pháp: (1) đánh giá trực tiếp trên sản phẩm (tính
năng, giá cả, sự tiện ích, mẫu mã v.v.), (2) đánh giá trực tiếp thị trường
(doanh số bán, thị phần, tốc độ tăng thị phần, hệ thống phân phối v.v.), (3)
điều tra xã hội học, chủ yếu qua phiếu thăm dò khách hàng (sự thoả mãn nhu
cầu, sự nhận biết tên sản phẩm, sự trung thành với nhãn hiệu v.v.). Sau đó so
sánh các tiêu chí đó với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trên cùng thị trường,
tại cùng thời điểm để xác định năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là tìm ra những biện pháp tác
động vào quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm, làm cho nó có “tính vượt

hiện ở các nội dung cơ bản sau:
- Nâng cao năng lực quản lý điều hành, trình độ tổ chức quản trị kinh
doanh của các doanh nghiệp đáp ứng đòi hỏi của cơ chế thị trường, nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Xây dựng chiến lược nghiên cứu khoa học công nghệ, phát triển sản
phẩm mới, khắc phục tình trạng chất lượng sản phẩm thấp, không ổn định và

19

giá thành cao, khiến cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc lựa chọn mặt
hàng kinh doanh và cạnh tranh bằng giá.
- Đầu tư nhiều hơn cho việc xây dựng chiến lược sản phẩm để đáp ứng
nhu cầu của thị trường, tạo ra những sản phẩm đặc thù, có kiểu dáng, tính
năng riêng biệt đáp ứng những nhu cầu mới của khách hàng.
- Đẩy mạnh hoạt động quảng bá và xúc tiến thương mại, nghiên cứu thị
trường, kể cả các quy định pháp luật của từng thị trường cụ thể. Hiện tại, hoạt
động này của các doanh nghiệp đang ở trình độ thấp, chưa có hiệu quả. Có rất
ít doanh nghiệp xây dựng được chương trình quảng bá và xúc tiến thương mại
để giới thiệu sản phẩm cho khách hàng.
- Có chiến lược liên kết, liên doanh giữa các doanh nghiệp Việt Nam để
tạo nên sức mạnh cộng đồng, khắc phục tình trạng tranh mua tranh bán trên
thị trường và sự yếu kém về quy mô nhỏ bé của mình. Các doanh nghiệp cũng
cần liên kết chặt chẽ với nhau thông qua những hợp đồng xác lập quan hệ
thương mại ổn định, tạo nên những hệ thống phân phối ổn định và rộng khắp,
tạo điều kiện để sản phẩm hàng hóa Việt Nam lưu thông thông suốt. Tham gia
các hiệp hội ngành hàng để bảo vệ quyền lợi của mình.
1.2. CÁC TIÊU CHÍ PHẢN ÁNH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
DOANH NGHIỆP
Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực
khác nhau có các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau. Mặc dù vậy,

tranh trên thị trường. Yếu tố này có thể đánh giá thông qua so sánh hai
sản phẩm với nhau về chất lượng, độ bền, tiện ích trong sử dụng … đây
là một trong những yếu tố tương đối để so sánh đối với đa số những sản
phẩm đơn giản. Tuy nhiên, nhiều sản phẩm phức tạp khách hàng không

21

thể đánh giá ngay được chất lượng sản phẩm, do đó khách hàng sẽ đánh
giá chất lượng sản phẩm gián tiếp thông qua uy tín của người sản xuất,
của nước sản xuất.
(2) Các tiêu chí trên thị trường (doanh số bán, thị phần, tốc độ tăng thị
phần, hệ thống phân phối…)
- Mức doanh thu của sản phẩm đó trong từng năm: Năng lực cạnh tranh
cũng biểu hiện qua doanh thu của sản phẩm trên thị trường nội địa. Nếu
sản phẩm có doanh thu cao, tốc độ tăng doanh thu cao so với đối thủ
cạnh tranh chứng tỏ sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao, chỉ tiêu này
thể hiện khả năng chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm so với đối thủ
cạnh tranh.
- Thị phần của sản phẩm trên thị trường nội địa: Tuỳ theo loại mặt
hàng, thị trường và theo quy mô của thị trường có thể xem xét năng lực
cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, thông qua đánh giá thị phần
của sản phẩm đó. Một sản phẩm được coi là có năng lực cạnh tranh cao
trên thị trường khi chúng chiếm thị phần lớn so với sản phẩm cùng loại
được nhập khẩu và bán trên thị trường, tuy nhiên cũng phải vận dụng
tiêu chí này một cách linh hoạt. Với một số sản phẩm mới ra đời, chưa
chiếm lĩnh được thị trường thì không thể sử dụng chỉ tiêu này để đánh
giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm đó trên thị trường vì khi đó phân
tích sẽ có sự sai lệch nhất định.
- Tốc độ tăng thị phần của sản phẩm có thể so sánh theo tính lịch sử,
tức là năm sau tốt hơn năm trước, để đánh giá năng lực cạnh tranh của

thị trường, hình ảnh của quốc gia, lòng tin của khách hàng đối với sản

23

phẩm, sự thoả mãn của khách hàng đối với sản phẩm, thương hiệu của
sản phẩm.
Năng lực cạnh tranh được phân biệt ở ba cấp độ, bao gồm năng lực cạnh
tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của
sản phẩm dịch vụ.
- Năng lực cạnh tranh quốc gia: là năng lực của một nền kinh tế đạt được
tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế, xã hội,
nâng cao đời sống của người dân, chủ yếu nhờ khả năng nâng cấp công nghệ
hoặc bằng cách tự sáng tạo hoặc tiếp thu nhanh chóng và tích cực công nghệ
từ nước khác. [14].
Ngày nay, lợi thế cạnh tranh truyền thống dựa trên tài nguyên thiên nhiên
và chi phí lao động thấp, tuy còn có giá trị, song mới chỉ là điểm khởi đầu, tri
thức và kỹ năng đang trở thành một nhân tố then chốt đảm bảo tính cạnh tranh
cao.
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng vượt qua các đối
thủ cạnh tranh để duy trì và phát triển bản thân doanh nghiệp. Thông thường
người ta đánh giá khả năng này thông qua các yếu tố nội tại của doanh nghiệp
như: quy mô, khả năng tham gia cạnh tranh và rút khỏi thị trường, sản phẩm,
năng lực quản lý, năng suất lao động, trình độ công nghệ và lao động. Tuy
nhiên những khả năng này lại bị tác động đồng thời bởi nhiều yếu tố bên
ngoài như Nhà nước và các thể chế trung gian.
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và
mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh
tranh trong và ngoài nước. Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay
nhiều sản phẩm hàng hoá dịch vụ, vì vậy người ta còn phân biệt năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ.


doanh nghiệp. Vì vậy nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp bao gồm:
1.3.1 Môi trường kinh tế
Các nhân tố môi trường kinh tế tác động đến khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp theo các hướng
+ Tốc độ tăng trưởng cao làm cho thu nhập của dân cư tăng, khả năng
thanh toán của họ tăng dẫn tới sức mua (cầu) các loại hàng hoá và dịch vụ
tăng lên, đây là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp nào nắm
bắt được điều này và có khả năng đáp ứng được nhu cầu khách hàng ( số
lượng bán, chất lượng, mẫu mã ) thì chắc chắn doanh nghiệp đó sẽ thành
công và có khả năng cạnh tranh cao.
+ Tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng tiền trong nước có tác động nhanh
chóng và sâu sắc đối với quốc gia nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng
nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở. Nếu đồng nội tệ lên giá các doanh
nghiệp trong nước sẽ giảm khả năng cạnh tranh ở thị trường nước ngoài. Vì
khi đó giá bán của hàng hóa tính bằng ngoại tệ sẽ cao hơn các đối thủ cạnh
tranh. Hơn nữa khi đồng nội tệ lên giá sẽ khuyên khích nhập khẩu, vì giá hàng
nhập khẩu giảm và như vậy khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong
nước sẽ bị giảm ngay trong thị trường trong nước. Còn khi đồng nội tệ giảm
giá, có thể khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp tăng cả trên thị trường
trong nước và thị trường ngoài nước, vì khi đó giá bán của doanh nghiệp nhỏ
hơn so với các đối thủ cạnh tranh kinh doanh hàng hóa do nước khác sản xuất,
tuy nhiên bên cạnh đó thì giá nguyên vật liệu, đầu vào cũng tăng lên.
+ Lãi suất cho vay của các ngân hàng cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp thiếu vốn
phải vay ngân hàng. Khi lãi suất cho vay của ngân hàng cao, chi phí của các

Trích đoạn Nõng cao năng lực cụng nghệ Nõng cao chất lượng sản phẩ m Tăng cường cụng tỏc quảng cỏo, xỳc tiến bỏn hàng và cỏc loại dịch Kiến nghị đối với nhàn ướ c
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status