1
TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHƯƠNG ĐÔNG QUẢNG NAM
www.phuongdongqn.vn / phuongdongqn.edu.vn
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG:
1.1.1. Khái niệm:
Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng
hoá. Sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình
phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của
nó - kinh tế thị trường - thì ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định
chế tài chính không thể thiếu được.
Luật các tổ chức tín dụng: Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng trực tiếp giao dịch với
các Công ty, Xí nghiệp, tổ chức kinh tế, cơ quan đoàn thể và các cá nhân bằng việc nhận tiền gửi, tiền
tiết kiệm cho vay và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên
Như vậy ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất
trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo
lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế.
Từ đó có thể nói bản chất của ngân hàng thương mại được thể hiện qua các điểm sau:
- Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế
- Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng
1.1.2. Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam:
a- Ngân hàng thương mại Quốc doanh (State owned Commercial bank):
b- Ngân hàng thương mại cổ phần (joint Stock Commercial bank):
c- Ngân hàng liên doanh (thuộc loại hình tổ chức tín dụng liên doanh)
d- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
1.2. CÁC NGHIỆP VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Nghiệp vụ nguồn vốn (Tài sản Nợ - NGUỒN VỐN) của Ngân hàng thương mại
Nghiệp vụ huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như
XDCB.
Vốn tự có của ngân hàng là yếu tố tài chính quan trọng bậc nhất, nó vừa cho thấy qui mô của ngân
hàng vừa phản ánh khả năng đảm bảo các khoản nợ của ngân hàng đối với khách hàng
b- Vốn huy động:
Đây là nguồn vốn chủ yếu của các ngân hàng thương mại, thực chất là tài sản bằng tiền của các
chủ sở hữu chủ mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng nhưng phải có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy
đủ khi khách hàng yêu cầu. Nguồn vốn huy động là nguồn tài nguyên to lớn nhất, bao gồm:
Tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức, cá nhân
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
Tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu
Các khoản tiền gửi khác
Đối với tiền gửi của cá nhân và đơn vị, ngoài lãi suất, thì nhu cầu giao dịch với những tiện lợi nhanh
chóng và an toàn là yếu tố cơ bản để thu hút nguồn tiền này.
Đối với tiền gửi tiết kiệm, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu thì lãi suất là yếu tố quyết định và
người gửi tiết kiệm hay mua kỳ phiếu đều nhằm mục đích kiếm lời
c- Vốn đi vay:
Nguồn vốn đi vay có vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại.
Thuộc loại này bao gồm:
+ Vốn vay trong nước:
Vay ngân hàng trung ương: NHTW sẽ tiếp vốn cho ngân hàng thương mại thông qua biện pháp
chiết khấu, tái chiết khấu nếu các hồ sơ tín dụng cùng các chứng từ xin tái chiết khấu có chất lượng. Làm
như vậy, NHTW sẽ trở thành chỗ dựa và là người cho vay cuối cùng đối với ngân hàng thương mại.
Vay các ngân hàng thương mại khác thông qua thị trường liên ngân hàng (Interbank Market)
+ Vốn vay ngân hàng nước ngoài
d- Vốn tiếp nhận:
Đây là nguồn tiếp nhận từ các tổ chức tài chính ngân hàng, từ ngân sách nhà nước để tài trợ
theo các chương trình, dự án về phát triển kinh tế xã hội, cải tạo môi sinh nguồn vốn này chỉ được sử
dụng theo đúng đối tượng và mục tiêu đã được xác định
e- Vốn khác:
Phương pháp phong toả: Theo đó toàn bộ mức dự trữ bắt buộc phải gửi vào một tài khoản tại
ngân hàng TW và sẽ bị phong toả để đảm bảo thực hiện đúng mức dự trữ.
Phương pháp bán phong toả: Theo đó một phần của mức dự trữ bắt buộc sẽ đƣợc quản lý và phong
toả tại một tài khoản riêng ở NHTW.
Phương pháp không phong toả: theo phương pháp này tiền dự trữ đƣợc tính và thực hiện hàng
ngày trên cơ sở số dư thực tế về tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn. Toàn bộ mức dự trữ sẽ
không bị phong toả, nó có thể tồn tại dƣới hình thức tiền mặt hay tiền gửi ngân hàng TW hay dưới dạng
chứng khoán ngắn hạn là tuỳ NH thương mại, tuy nhiên đến cuối mỗi tháng, NHTW sẽ kiểm tra việc thực
hiện dự trữ bắt buộc, nếu các NHTM không thực hiện đúng sẽ bị phạt (cảnh cáo, phạt tiền nếu tái phạm)
b- Cấp tín dụng: (Credits):
Số nguồn vốn còn lại sau khi để dành một phần dự trữ, các ngân hàng thương mại có thể dùng để
cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân bao gồm:
- Cho vay (Loans):
Là tín dụng nghiệp vụ của ngân hàng thương mại. Trong đó ngân hàng thương mại sẽ cho ngƣời
đi vay, vay một số vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tƣ hoặc tiêu dùng. Khi đến hạn người đi vay phải hoàn
trả vốn và tiền lãi. Ngân hàng kiểm soát được ngƣời đi vay, kiểm soát được quá trình sử dụng vốn. Người đi
vay có ý thức trả nợ cho nên bắt buộc họ phải quan tâm đến việc sử dụng làm sao có hiệu quả để hoàn trả nợ
vay. Trong cho vay thì mức độ rủi ro rất lớn, không thu hồi được vốn vay hoặc trả không hết hoặc không
đúng hạndo chủ quan hoặc khách quan. Do đó khi cho vay các ngân hàng cần sử dụng các biện pháp bảo
đảm vốn vay: thế chấp, cầm cố
- Chiết khấu (Discount)
Đây là nghiệp vụ cho vay (gián tiếp) mà ngân hàng sẽ cung ứng vốn tín dụng cho một chủ thể và
một chủ thể khác thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng. Các đối tượng trong nghiệp vụ này gồm hối phiếu, kỳ
phiếu, trái phiếu và các giấy nợ có giá khác.
- Cho thuê tài chính (Financial leasing):
CPD College
4
TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHƯƠNG ĐÔNG QUẢNG NAM
www.phuongdongqn.vn / phuongdongqn.edu.vn
quản, mua bán hộ chứng khoán theo uỷ nhiệm của khách hàng
- Kinh doanh mua bán ngoại tệ, vàng bạc đá quí
- Tư vấn tài chính, giúp đỡ các công ty, xí nghiệp phát hành cổ phiếu, trái phiếu
1.4. THU NHẬP,CHI PHÍ VÀ LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.4.1. Thu nhập của ngân hàng:
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại với mục đích là lợi nhuận. Muốn thu được lợi
nhuận cao thì vấn đề then chốt là quản lý tốt các khoản mục tài sản Có, nhất là khoản mục cho vay và đầu
tư, cùng các hoạt động trung gian khác. Các khoản thu nhập của ngân hàng bao gồm hai khoản
a- Thu về hoạt động tín dụng (thu lãi cho vay, thu lãi chiết khấu, phí cho thuê tài chính, phí bảo
lãnh)
b- Thu về dịch vụ thanh toán và ngân quỹ (thu lãi tiền gửi, dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ)
c- Thu từ các hoạt động khác:
. Thu lãi góp vốn, mua cổ phần
. Thu về mua bán chứng khoán
CPD College
5
TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHƯƠNG ĐÔNG QUẢNG NAM
www.phuongdongqn.vn / phuongdongqn.edu.vn
. Thu về kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc đá quí .
Thu về nghiệp vụ uỷ thác, đại lý
. Thu dịch vụ tư vấn .
Thu kinh doanh bảo hiểm
. Thu dịch vụ ngân hàng khác (bảo quản cho thuê tủ két sắt, cầm đồ)
. Các khoản thu bất thường khác
1.4.2. Chi phí của ngân hàng:
a- Chi về hoạt động huy động vốn:
. Trả lãi tiền gửi Trả lãi tiền tiết kiệm
. Trả lãi tiền vay . Trả lãi kỳ phiếu, trái phiếu
b- Chi về dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:
Lợi nhuận thuần
H (ROE) =
Vốn chủ sở hữu bình quân
Ý nghĩa: một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả
hoạt động kinh doanh của ngân hàng, khả năng sinh lời trên một đồng vốn chủ sở hữu
CPD College
6
TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHƯƠNG ĐÔNG QUẢNG NAM
www.phuongdongqn.vn / phuongdongqn.edu.vn
+ Chỉ tiêu tỷ suất doanh lợi là chỉ tiêu so sánh giữa lợi nhuận thuần với số tài sản Có sinh lời.
Lợi nhuận thuần
P =
Tổng tài sản có sinh lời
Trong đó tài sản Có sinh lời bao gồm:
. Các khoản cho vay + Đầu tư chứng khoán + Tài sản Có sinh lời khác
Chi tiêu này cho thấy hiệu suất sinh lời của tài sản Có sinh lời. Tỷ suất này càng gần H(ROA) thì
hiệu suất sử dụng tài sản của ngân hàng càng lớn.
cho các hoạt động này ngân hàng phải huy động vốn từ khách hàng. Nghiệp vụ huy động vốn, do
vậy, có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngân hàng cũng như đối với khách hàng.
2.1.2.1. Đối với NHTM
Nghiệp vụ huy động vốn góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ
kinh doanh khác. Không có nghiệp vụ huy động vốn, ngân hàng thương mại sẽ không đủ nguồn vốn
tài trợ cho hoạt động của mình. Mặt khác, thông qua nghiệp vụ huy động vốn tài trợ ngân hàng
thương mại có thể đo lường đươc uy tín cũng như sự tin nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng.
Từ đó, ngân hàng thương mại có những biện pháp không ngừng hoàn thiện hoạt động huy động vốn
để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng. Có thể nói, nghiệp vụ huy động vốn góp phần giải
quyết “ đầu vào” của ngân hàng.
2.1.2.2. Đối với khách hàng
Nghiệp vụ huy động vốn không chỉ mang ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng mà còn có ý
nghĩa quang trọng đối với khách hàng. Nghiệp vụ huy động vốn cung cấp cho khách hàng một kênh
tiết kiệm và dầu tư nhằm cho tiền của họ sinh lợi, tạo cho họ có thể tham gia tăng tiêu dùng trong
tương lai. Mặt khác, nghiệp vụ huy động vốn còn cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn đễ cất
giữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi. Cuối cùng, nghiệp vụ huy động vốn giúp cho khách hàng có cơ
hội tiếp cận với các dịch vụ khác của ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua gân hàng và dịch
vụ tín dụng khi khách hàng cần vốn cho sản xuất kinh doanh hoặc cần tiền cho tiêu dùng.
Ngày nay, giữa các ngân hàng thương mại và khách hàng doanh nghiệp cũng như các tổ chức
khác có mối quan hệ gắn bó, theo đó ngân hàng vừa cung cấp dịch vụ ngân hàng vừa thực hiện
nghiệp vụ huy động vốn. Cụ thể ngân hàng thương mại nhận chi trả tiền lương cho các tổ chức khác
thông qua dịnh vụ ghi Có trực tiếp (direct credit). Bằng việc ghi Có trực tiếp tiền lương vào tài khoản
của khách hàng mở ở ngân hàng NHTM đồng thời thực hiện luôn nghiệp vụ huy động vốn.
2.1.3. Nguyên tắc huy động vốn của NHTM
2.1.3.1. Thực hiện đúng các quy định của pháp luật và của ngân hàng Nhà nước về huy động vốn
- Hoàn trả đầy đủ vốn gốc và tiền lãi cho khách hàng đúng hạn.
- Tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định hiện hành.
- Giữ bí mật thông tin liên quan đến tài khoản tiền gửi của khách hàng.
- Thực hiện đúng các quy định của pháp luật về chống rửa tiền.
2.1.3.2. Đảm bảo tính hiệu quả trong huy động vốn
- Đây chính là tiền gửi thanh toán của các doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu thanh toán qua
NH. Loại tiền gửi này lãi suất thấp vì NH không chủ động trong các công tác cho vay. Mặt khác loại
tiền gửi thanh toán này NH phải thường xuyên thu và chi trả theo yêu cầu của khách hàng nên tốn
kém chi phí về kiểm đếm, bảo quản
- Khách hàng có thể rút vốn ra bất kỳ lúc nào để phục vụ cho việc chi trả qua các hình thức
như phát hành séc, lập ủy nhiệm chi, lệnh chi
- Tiền gửi không kỳ hạn thể hiện trên số dư của tài khoản tiền gửi khách hàng. NH không cấp
sổ cho khách hàng như tiền gửi tiết kiệm vì như thế sẽ làm phức tạp đối với việc cập nhập trên sổ.
NH có thẻ lưu theo dõi và khách hàng cũng phải mở sổ theo dõi riêng. Căn cứ vào sổ phụ được NH
gửi đến để khách hàng cập nhập sổ sách, hàng ngày hoặc hàng tuần phải đối chiếu với NH, nếu số
liệu đôi bên sai sót, thì phải phối hợp tìm nguyên nhân và điều chỉnh kịp thời .
2.2.1.2. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
- Tiền gửi này chủ yếu là tiền nhàn rỗi của cư dân. Nhưng do nhu cầu chi tiêu không xác định
được trước nên khách hàng chỉ gửi không kỳ hạn , nghĩa là có thể rút ra bất kỳ lúc nào.
- Loại tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn lãi suất thấp nguyên nhân giống như tiền gửi không kỳ
hạn.
- Khi khách hàng đến gửi không kỳ hạn thì NH phải mở sổ theo dõi. Khi khách hàng có nhu
cầu chi tiêu có thể rút một phần trên số tiền tiết kiệm, sau khi xuất trình các giấy tờ hợp lệ. NH rút số
dư trên sổ tiết kiệm không kỳ hạn và trả lại cho khách hàng.
- Đối với gửi tiết kiệm không kỳ hạn lãi được nhập vốn và thường tính lãi theo nhóm ngày gửi
tiền (Vd : Gửi ngày 10/01 thì đến ngày 10/02 là đủ một tháng để nhập lãi vào vốn). Còn đối với tiền gửi
thanh toán thì lãi nhập vốn vào cuối tháng theo năm dương lịch.
2.2.1.3. Tiền gửi tiết kiệm định kỳ (có kỳ hạn)
- Tiền gửi tiết kiệm định kỳ có thể được phân thành nhiều loại
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn 3 tháng
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn 6 tháng
- Khách hàng gửi tiết kiệm định kỳ thì được NH cấp sổ tiết kiệm.
- Về nguyên tắc khách hàng chỉ được rút vốn khi đến hạn. Nếu rút trước hạn phải được sự
đồng ý của NH và chỉ được hưởng lãi bằng mức lãi suất của tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn hoặc
không được hưởng lãi nếu gửi có kỳ hạn mà rút ra chưa được một tháng.
Ni
Ni X Di
D
Trong đó:
-
D
: Số dư bình quân trong tháng
- Di
: Số dư tại thời điểm i
- Ni : Số ngày duy trì số dư D
-
i
N
: Tổng số ngày trong tháng (tính chẵn là 30 ngày)
Ví dụ: Trong tháng 4/N, tài khoản tiền gởi thanh toán của bà Nguyễn Thị Bình như sau:
ĐVT: đồng
Ngày Phát sinh Nợ Phát sinh Có
Số dư trên tài
khoản TG
Số ngày tương
ứng với số dư
1/4 500.000
5/4 2.000.000 2.500.000
- Thời hạn: Là khoản thời gian từ lúc tổ chức tín dụng nhận nợ đến hết thời gian cam kết thanh
toán toàn bộ khoản nợ.
- Lãi suất được hưởng: Là tỷ lệ lãi áp dụng để tính cho người mua giấy tờ có giá được hưởng.
2.2.2.1. Huy động vốn ngắn hạn qua phát hành giấy tờ có giá
Trong NHTM, việc huy động vốn thường giao cho phòng nguồn trong đó có thể chia ra thành
hai bộ phận: huy động vốn ngắn hạn và huy động vốn dài hạn.
a. Huy động vốn ngắn hạn thông qua phát hành kỳ phiếu: Kỳ phiếu là một loại giấy tờ có giá
do ngân hàng phát hành để huy động vốn ngắn hạn, trong đó ngân hàng cam kết sẽ trả lãi được
hưởng và vốn gốc cho nhà đầu tư khi kỳ phiếu hết hạn. Thời gian qua, Vietcombank đã có và thường
xuyên phát hành kỳ phiếu để huy động vốn ngắn hạn.
b. Huy động vốn ngắn hạn thông qua phát hành chứng chỉ tiền gửi:
Ngoài kỳ phiếu, các NHTM còn có thể phát hành chứng chỉ tiền gửi để huy động vốn ngắn
hạn. Ở Việt Nam thời gian qua, các NHTM cổ phần ít khi sử dụng các công cụ huy động vốn ngắn
hạn này. Trong khi đó, các NHTM Nhà nước sử dụng thường xuyên hơn. Chẳng hạn, gần đây Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) có thông báo phát hành chứng chỉ tiền gửi huy động
vốn ngắn hạn bằng USD.
c. Cách tính lãi đối với giấy tờ có giá:
Giấy tờ có giá ngắn hạn có nhiều loại khác nhau, nhưng cách tính lãi tương tự nhau. Ở đây
trình bày cách tính lãi kỳ phiếu như là ví dụ điển hình. Khi bán kỳ phiếu cho khách hàng, NHTM
ngoài cam kết trả nợ gốc khi kỳ phiếu hết hạn còn cam kết trả lãi tính trên mệnh giá của kỳ phiếu.
NHTM có thể thỏa thuận với khách hành sử dụng một trong các phương thức trả lãi sau đây:
* Trả lãi sau: Theo phương thức này, NHTM xác định và trả lãi kỳ phiếu một lần và thời
điểm đáo hạn hay thời điểm thanh toán kỳ phiếu.
* Trả lãi trước: Theo phương thức này, NHTM xác định và trả lãi kỳ phiếu một lần tại thời
điểm phát hành. Trong trường hợp này, kỳ phiếu được bán ở mức giá chiết khấu, tức là ở mức giá
thấp hơn mệnh giá và lãi của kỳ phiếu chính là số tiền chênh lệch giữa mệnh giá và giá bán kỳ phiếu.
* Trả lãi định kỳ: Theo phương thức này, NHTM xác định và trả lãi kỳ phiếu theo từng định
kỳ cho người sở hữu kỳ phiếu. Định kỳ trả lãi thường áp dụng theo tháng.
Các loại kỳ phiếu và chứng chỉ tiền gửi như vừa trình bày trên đây chỉ thích hợp đối với nhu
cầu huy động vốn ngắn hạn của NHTM. Từ thực tế hoạt động cho thấy, các NHTM cần khối lượng
phiếu.
- Thời hạn của trái phiếu: Là khoảng thời gian tính từ lúc phát hành cho đến khi trái phiếu
đến hạn hoàn trả vốn gốc.
- Phương thức trả lãi: Là cách thức ngân hàng áp dụng để xác định và trả lãi được hưởng
cho nhà đầu tư. Nhìn chung phương thức trả lãi cũng có thể áp dụng một trong ba phương thức trả
trước, trả sau hoặc trả theo định kỳ. Trong đó, trả lãi định kỳ còn có thể chi thành trả lãi theo định kỳ
hàng năm hoặc trả lãi theo định kỳ sáu tháng hay nửa năm.
b. Huy động vốn dài hạn bằng phát hành trái phiếu chuyển đổi
Trái phiếu chuyển đổi (convertible bond) là loại trái phiếu mà tổ chức phát hành bán cho nhà
đầu tư, trong đó thỏa thuận đến một thời điểm nào đó nào đó sau khi phát hành các nhà đầu tư có
quyền chuyển đổi thành cổ phiếu theo một tỷ lệ chuyển đổi nào đó (convertible rate).
Loại trái phiếu này được xem như là một dạng chứng khoán lai (hybrid), do vừa có các tính
chất của một chứng khoán nợ, đồng thời vừa có các tính chất của một chứng khoán vốn. Nó rất phổ
biến ở các nước có thị trường vốn phát triển. nhưng chưa được phổ biến lắm ở Việt Nam.
Việc phát hành các loại kỳ phiếu cũng như chứng chỉ tiền gửi để huy động vốn ngắn hạn và
trái phiếu để huy động vốn dài hạn như trình bày trên đây có tác dụng giúp các NHTM tăng nguồn
vốn hoạt động, nhưng không giúp ngân hàng tăng vốn chủ sở hữu, bởi vì các loại giấy tờ có giá trên
đây là công cụ nợ chớ không phải công cụ vốn.
Mặt khác, khi phát hành các công cụ nợ để huy động vốn, NHTM phải chịu áp lực trả lãi và
vốn gốc cho các nhà đầu tư. Nếu muốn tăng vốn chủ sở hữu và không bị áp lực trả lãi và vốn gốc,
các NHTM có thể phát hành cổ phiếu để huy động vốn.
c. Huy động vốn dài hạn bằng phát hành cổ phiếu
Cổ phiếu nói chung là chứng nhận đầu tư vào công ty cổ phần. Các NHTM cổ phần cũng là
một dạng công ty cổ phần, do đó, có thể phát hành cổ phiếu huy động vốn cổ phần. Do cổ phần, phần
CPD College
12
TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHƯƠNG ĐÔNG QUẢNG NAM
www.phuongdongqn.vn / phuongdongqn.edu.vn
hùn vốn bằng nhau trong công ty, là một khái niệm vô hình cho nên cổ phiếu cần thiết như là một từ
Thứ tư: Yếu tố thuộc về văn hoá - xã hội, tâm lý khách hàng
2.2.5.2. Các yếu tố thuộc về ngân hàng
Thứ nhất: Các hình thức huy động vốn mà ngân hàng sử dụng
Thứ hai: Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Thứ ba: Ảnh hưởng của lãi suất huy động
Thứ tư: Trình độ công nghệ ngân hàng
Thứ năm: Uy tín của ngân hàng
2.2.6. Các giải pháp gia tăng huy động vốn
- Nhóm giải pháp từ chính sách Marketing của NH
- Sử dụng chính sách lãi suất huy động hợp lý: LSHĐ = %LP + LS thực
- Tăng lãi suất tiền gửi (thận trọng =>tìm lãi suất hợp lý?)
- Đa dạng hóa sản phẩm (SP huy động tiền gửi theo kỳ hạn, theo loại đồng tiền gửi, theo số dư,
theo nhóm khách hàng và SP thẻ: Visa, Master ,ATM)
CPD College
13
TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHƯƠNG ĐÔNG QUẢNG NAM
www.phuongdongqn.vn / phuongdongqn.edu.vn
- Tối đa hóa tiện ích cho khách hàng (mở rộng mạng lưới, phát triển công nghệ, cở sở vật chất
kinh tế hiện đại, thanh toán nhanh, an toàn)
- Trình độ, kỹ năng và thái độ phục vụ ân cần, chu đáo, chuyên nghiệp
- Bảo hiểm tiền gửi, ổn định tiền tệ, hệ thống NH
lý ngân hàng cố gắng giữ nó càng ít càng tốt.
3.1.2.2. Tài sản chứng khoán
CPD College
14
TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHƯƠNG ĐÔNG QUẢNG NAM
www.phuongdongqn.vn / phuongdongqn.edu.vn
Các ngân hàng thương mại mua các chứng khoán vì các mục đích:
- Thanh khoản
- Tìm kiếm lợi nhuận
- Đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro.
Tất cả các chứng khoán đều đem lại thu nhập cho ngân hàng. Tùy theo mục đích hoạt động
mà các ngân hàng đầu tư vào loại chứng khoán cụ thể. Với các ngân hàng có các khoản thu nhập từ
tín dụng tốt, không cḥu áp lực phải tìm kiếm các khoản thu nhập khác thì họ thường lựa chọn việc
đầu tư vào các chứng khoán Chính phủ. Việc đầu tư ngắn hạn vào các chứng khoán Chính phủ
thường có mức laơi suất thấp nhưng không phải chịu rủi ro tín dụng và ít rủi ro về laơi suất so với
các chứng khoán dài hạn khác. Hơn nữa, các chứng khoán Chính phủ có tính linh hoạt cao. Chúng có
thể dễ dàng được bán lại trên thị trường giúp cho ngân hàng giải quyết các vấn đề thanh khoản. Với
các ngân hàng chú trọng vào mục tiêu lợi nhuận, họ thường đầu tư vào các chứng khoán công ty, có
kỳ hạn dài vì đây là các chứng khoán có lãi suất cao. Như vậy, ngân hàng phải chấp nhận rủi ro lớn
hơn và khó có khả năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
Ngoài ra, đầu tư vào chứng khoán cũng tạo điều kiện phân tán rủi ro. Đối với các ngân hàng
hoạt động trong một phạm vi một đ
̣
a phương nhất định thường các khoản mục tín dụng bị bó hẹp
trong một số lĩnh vực cho nên rủi ro sẽ rất cao khi lĩnh vực đó suy thoái. Vì vậy đầu tư vào chứng
khoán sẽ chuyển một phần vốn phân tán sang lĩnh vực khác giúp ngân hàng có thể vượt qua thời kỳ
khó khăn.
Như vậy, đầu tư chứng khoán không phải là khoản mục tài sản quan trọng nhất của ngân
hàng. Ở các ngân hàng lớn tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với ngân càng nhỏ.
Trong quan hệ giao dịch giữa người cho vay và người đi vay thể hiện các nội dung sau:
* Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định. Giá trị này có thể
dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như hàng hoá, máy móc, thiết ḅ bất động sản.
* Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn
sử dụng theo thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay. Xuất phát từ gốc từ latinh,
tín dụng là cred – sự tín nhiệm; điều đó có nghĩa là trong quan hệ tín dụng người cho vay tin tưởng
người đi vay sẽ hoàn trả vào một ngày nào đó trong tương lai mà hai bên đã thỏa thuận.
* Giá trị được hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay hay nói cách khác người cho
vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần vốn gốc đã mượn của người cho vay trước đó.
* Trong quan hệ tín dụng ngân hàng người đi vay phải có trách nhiệm hoàn trả tiền vay vô
điều kiện khi đến hạn trả nợ. Tuy nhiên, về mặt pháp lý thì cơ sở của việc hoàn trả vô điều kiện này
chính là các hợp đồng tín dụng, các khế ước nhận nợ, các giấy tờ có giá khác,…
Trên thực tế, tín dụng có nghĩa rộng hơn cho vay. Nhưng trong lĩnh vực ngân hàng, tín dụng
nhiều khi được hiểu là cho vay bởi vì cho vay là một nội dung lớn của những quan hệ tín dụng mà
trong đó ngân hàng tham gia. Chính việc sử dụng số tiền huy động được từ các thành phần kinh tế có
hiệu quả hay không, tức là việc cho vay hiệu quả sẽ quyết định uy tín của ngân hàng để từ đó các chủ
thể có vốn nhàn rỗi quyết định gửi tiền vào ngân hàng.
3.2.2. Phân loại cho vay
Ngân hàng thực hiện cho vay đối với nhiều đối tượng khác nhau, với nhiều hình thức khác
nhau, với nhiều thời hạn khác nhau. Để thuận tiện cho quá trình nghiên cứu chương này cũng như
các chương sau thì cần phải tiến hành phân loại các loại cho vay theo các tiêu thức thích hợp:
3.2.2.1. Căn cứ vào mục đích
a. Cho vay bất động sản
b. Cho vay công nghiệp và thương mại
c. Cho vay nông nghiệp
d. Cho vay cá nhân
e. Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu
3.2.2.2. Căn cứ vào thời hạn cho vay
Dựa vào tiêu thức này tín dụng có thể chia thành ba 1oại sau:
a. Tín dụng ngắn hạn:
3.2.4. Điều kiện vay vốn
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy
định của Pháp luật.
- Mục đích sử dụng khoản tín dụng được cấp hợp pháp
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ (gốc và lãi) cho Ngân hàng trong thời hạn cam kết.
- Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi, có hiệu quả hoặc có dự án
đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi kèm theo phương án trả nợ khả thi phù hợp với quy định
của pháp luật.
- Thực hiện đảm bảo tín dụng theo đúng quy định của Chính phủ, hướng dẫn của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam và của NH.
- NH có thể yêu cầu khách hàng phải có mức vốn nhất định để tham gia vào phương án/dự án xin
cấp tín dụng của mình.
3.2.5. Bảo đảm tín dụng và các hình thức bảo đảm tín dụng
Đảm bảo tín dụng hay còn gọi là đảm bảo tiền vay là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện
pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi các khoản nợ đã cho khách
hàng vay.
Hoạt động tín dụng Ngân hàng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro, vì vậy bảo đảm tiền vay có
thể sử dụng như là một trong các cách thức nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng.
3.2.5.1. Nguyên tắc bảo đảm tín dụng
- Giá trị bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ được đảm bảo
- Tải sản dùng làm bảo đảm nợ vay phải tạo ra được ngân lưu (phải có giá trị và có thị trường
tiêu thụ).
- Có đầy đủ cơ sở pháp lý để người cho vay có quyền xử lý tài sản dùng làm bảo đảm tiền vay
3.2.5.2. Các hình thức đảm bảo tín dụng chủ yếu gồm
- Bảo đảm tín dụng bằng tài sản thế chấp: Theo Luật dân sự và Luật đất đai của Việt Nam thì
có hai loại thế chấp là thế chấp bất động sản và thế chấp giá trị quyền sử dụng đất.
- Bảo đảm tín dụng bằng cầm cố: Như xe cộ, máy móc, hàng hóa, tàu biển, máy bay, tiền trên
tài khoản tiền gửi, giấy tờ có giá, quyền tài sản phái sinh từ quyền tác giả, lợi tức và quyền phát sinh
từ tài sản cầm cố,
- Bảo đảm tín dụng bằng tài sản hình thành từ vốn vay: Là tài sản của khách hàng vay mà giá
Các bước cơ bản của một quy trình tín dụng thường được diễn ra như sau:
3.2.7.1. Lập hồ sơ yêu cầu cấp tín dụng
Một bộ hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cần thu thập từ khách hàng những thông tin sau:
a) Hồ sơ pháp lý: Năng lực pháp lý và năng lực hành vi của KH
- Quyết định thành lập (nếu có)
- Giấy đăng ký kinh doanh
- Giấy phép hành nghề (nếu có)
- Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp (nếu có)
- Điều lệ hoạt động (nếu có)
- Quyết định bổ nhiệm người điều hành, kế toán trưởng
- Giấy chứng nhận phần góp vốn của từng thành viên (đối với khách hàng hoạt động theo luật
DN).
- Giấy phép đầu tư và Hợp đồng liên doanh (đối với doanh nghiệp liên doanh) hoặc hợp đồng
hợp tác kinh doanh.
- Biên bản họp của Hội đồng quản trị (đối với công ty cổ phần, công ty liên doanh…) hoặc văn
bản uỷ quyền của các thành viên góp vốn (đối với Công ty TNHH, Công ty hợp danh …) về việc uỷ
quyền người đại diện hợp pháp thực hiện các quan hệ giao dịch với NH: vay nợ, cầm cố, thế chấp…
(nội dung uỷ quyền phải ghi rõ ràng, cụ thể).
- Đăng ký mã số thuế
- Các văn bản khác theo quy định của pháp luật (nếu có)
b) Hồ sơ tài chính
c) Hồ sơ về phương án SXKD
CPD College
18
TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHƯƠNG ĐÔNG QUẢNG NAM
www.phuongdongqn.vn / phuongdongqn.edu.vn
d) Hồ sơ về tài sản đảm bảo
3.2.7.2. Thẩm định (phân tích tín dụng) khách hàng và phương án vay vốn
Là phân tích và thẩm định khả năng hiện tại và tiềm tàng của KH về sử dụng vốn tín dụng, khả
- Khoản tín dụng đã đến hạn
Những việc cần xử lý:
- Thu nợ cả gốc và lãi
- Tái xét hợp đồng tín dụng
- Thanh lý hợp đồng tín dụng
3.2.8. Lãi suất tín dụng
3.2.81. Một số khái niệm cơ bản:
a. Lợi tức tín dụng:
Lợi tức tín dụng là thu nhập mà người cho vay nhận được từ người đi vay sau khi họ chuyển
nhượng quyền sử dụng vốn cho người đi vay trong một thời gian nhất định.
Thực chất, lợi tức tín dụng chính là giá cả của quyền sử dụng vốn vay.
CPD College
19
TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHƯƠNG ĐÔNG QUẢNG NAM
www.phuongdongqn.vn / phuongdongqn.edu.vn
b. Lãi suất tín dụng:
Lãi suất tín dụng hiểu theo nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng, vì nó là giá của quyền sử
dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định mà người sử dụng phải trả cho người cho vay.
Lãi suất tín dụng là tỷ lệ phần trăm giữa lợi tức thu được trong một đơn vị thời gian với tổng số
vốn bỏ ra cho vay trong thời gian đó.
Lãi suất tín dụng Tổng số lợi tức thu được trong kỳ
= x 100%
trong kỳ ( %) Tổng số vốn vay trong kỳ
3.2.8.2.Các phương pháp tính lãi:
Trên cơ sở lãi suất xác định, có thể tính giá trị thu được của vốn cho vay sau 1 kỳ hoặc n kỳ cho vay
như sau:
Giá trị thu được = Vốn gốc + Lợi tức
a. Lãi đơn
* Khái niệm:
Co: Vốn vay ban đầu(vốn gốc).
I : Lãi suất của một kỳ cho vay.
CPD College
20
TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHƯƠNG ĐÔNG QUẢNG NAM
www.phuongdongqn.vn / phuongdongqn.edu.vn
n : Số chu kỳ tính lãi.
- Lợi tức tín dụng theo hình thức lãi kép:
I = Co x [ ( 1+i )
n
– 1]
Ví dụ 2: Có 1 khoản tiền 100 triệu đồng cho vay theo hình thức lãi kép, lãi suất 18%/ năm,
thời hạn cho vay là 3 năm. Tính tổng giá trị mà người cho vay nhận được sau 3 năm?
3.2.8.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng:
* Quan hệ cung cầu về vốn tín dụng
+ Cầu vốn tín dụng là nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của các
chủ thể trong nền kinh tế. Cầu vốn vay được cấu thành bởi các bộ phận: Nhu cầu vay vốn của các
doanh nghiệp và các cá nhân nhằm hình thành vốn đầu tư và trang trải cho các chi phí liên quan đến
sản xuất và tiêu dùng, nhu cầu vay vốn của Chính phủ nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách.
+ Cung vốn vay là vốn dùng để cho vay kiếm lời của các chủ thể kinh tế trong xã hội. Cung
vốn vay được tạo bởi các nguồn: Tiền gửi tiết kiệm của các cá nhân, nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi
của các doanh nghiệp, các khoản thu chưa sử dụng đến của ngân sách Nhà nước.
Tác động của cung cầu tín dụng cũng tương đương như giá cả của sản phẩm. Cung sản phẩm
tăng lên thì giá sản phẩm giảm mà cầu sản phẩm tăng lên thì giá sản phẩm tăng, dẫn đến cung cầu
sản phẩm cũng ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng tương tự như giá cả sản phẩm. Cụ thể khi cầu tín
dụng tăng lên thì lúc đó nhu cầu về vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền
kinh tế tăng lên, khi nhu cầu về vốn tăng lên thì giá cả sẽ tăng lên mà giá cả chính là lãi suất tín
dụng. Vì vậy khi cầu tín dụng tăng lên thì lãi suất tín dụng sẽ tăng theo.
hay thấp.
Thời hạn cho vay dài, khả năng thu hồi vốn giảm, rủi ro cao, giá trị khoản vốn giảm theo thời
gian. Vì thế, lãi suất cho vay cao.
- Thực trạng nền kinh tế đang tăng trưởng hay suy thoái.
+ Khi nền kinh tế đang tăng trưởng, các công ty càng có nhiều ý định vay vốn nhằm mở rộng
sản xuất, đầu tư. Cầu tiền vay tăng lên, lãi suất có xu hướng tăng lên.
+ Khi nền kinh tế suy thoái, hoạt động sản xuất của doanh nghiệp bị trì truệ nên không có
nhu cầu vay vốn. Cầu tiền vay giảm và lãi suất giảm.
- Hiệu quả hoạt động của sản xuất kinh doanh.
Khi hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế có lãi thì nhu cầu
vay vốn của doanh nghiệp tăng lên nhằm mở rộng quy mô sản xuất và đầu tư. Cầu tiền vay tăng, lãi
suất tăng. Đồng thời, lợi tức tín dụng phải luôn nhỏ hơn lợi nhuận người vay làm ra được để đảm
bảo cho người vay có lãi khi sử dụng vốn vay. Vì vậy lợi nhuận của người vay tăng lên thì thông
thường lãi suất cũng tăng lên.
3.3. Nghiệp vụ cho vay khách hàng doanh nghiệp
3.3.1. Cho vay bổ sung vốn lưu động (ngắn hạn)
3.3.1.1. Nhu cầu vốn ngắn hạn của DN
- Nhu cầu vốn ngắn hạn thường xuyên:
+ xuất phát từ sự chênh lệch không ăn khớp nhau về thời gian và quy mô giữa dòng tiền vào và
dòng tiền ra của DN
+ Nhu cầu vốn ngắn hạn thường xuyên do đặc điểm luân chuyển vốn của DN quyết định
- Nhu cầu vốn ngắn hạn không thường xuyên
Xuất phát từ đặc điểm thời vụ của hoạt động sxkd khiến cho nhu cầu vốn ngắn hạn của DN tăng
đột biến
3.3.1.2. Phương thức cho vay
a) Theo món (cho vay từng lần)
* Trường hợp áp dụng: áp dụng cho các đơn vị tổ chức kinh tế có đủ điều kiện vay vốn nhưng
không đủ điều kiện vay theo phương thức hạn mức tín dụng.
* Đặc điểm:
+ Trong cho vay từng lần vốn tín dụng chỉ tham gia vào một giai đoạn hay một quá trình nhất
bao nhiêu sẽ trừ vào nợ gốc hoặc thu tương ứng gốc và lãi.
* Cách tính lãi
Ví dụ: Ngày 01/2/2009 Ngân hàng cấp cho công ty A một khoản tín dụng để bổ sung vốn lưu
động kinh doanh với số tiền 1.000 (ĐVT: 100.000 đ). Thời hạn cho vay là 8 tháng với lãi suất là
0,85%/tháng. Kế hoạch trả nợ của công ty như sau: kỳ hạn thứ nhất vào ngày 01/3/2009 là 320; kỳ
hạn thứ 2 vào ngày 01/4/2009 là 330 còn kỳ hạn cuối vào ngày 01/5/2009 là 350.
Yêu cầu: Tính tiền lãi hàng kỳ trong các trường hợp:
- Trường hợp lãi thu theo nợ gốc:
- Trường hợp lãi thu theo số tiền trả gốc
b) Theo hạn mức tín dụng hai tài khoản (cho vay luân chuyển)
Hạn mức tín dụng: Là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời hạn nhất định mà NH và
KH đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
*Trường hợp áp dụng:
+ Đơn vị vay vốn có nhu cầu vay vốn phát sinh thường xuyên, liên tục.
+ Đơn vị vay vốn là đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi ổn định, vững chắc.
+ Đây là đơn vị có uy tín trong giao dịch, thanh toán.
+ Công tác quản lý tổ chức kế toán nề nếp, ổn định.
+ Tốc độ luân chuyển vốn ngắn hạn nhanh.
* Đặc điểm cho vay:
+ Cho vay luân chuyển vốn tín dụng tham gia toàn bộ vào vòng quay vốn của xí nghiệp, từ
khâu dự trữ đến khâu sản xuất, lưu thông
+ Vốn cho vay phát sinh theo nhu cầu của quá trình tuần hoàn luân chuyển vốn mà không phụ
thuộc vào tình hình dự trữ vật tư hàng hóa của đơn vị.
+ Do vốn cho vay tham gia vào toàn bộ quá trình luân chuyển vốn của doanh nghiệp nên các
thủ tục vay được thực hiện hết sức đơn giản, tạo điều kiện cho đơn vị được nhận vốn kịp thời. Đồng
thời các đơn vị không phải ký vào khế ước các trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên đi vay được ràng
buộc trong điều khoản của hợp đồng cho vay.
* Cách xác định hạn mức tín dụng
Hạn mức TD
ngắn hạn
* Cách cho vay:
Sau khi hạn mức tín dụng đã được duyệt cho đơn vị hai bên sẽ ký hợp đồng tín dụng để làm cơ
sở cho vay, thu nợ, mỗi lần có nhu cầu vốn phát sinh đơn vị chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ
hóa đơn hoặc chứng từ thanh toán sẽ được ngân hàng giải ngân, nếu chứng từ hóa đơn hợp lệ, hợp
pháp.
Tiền vay sẽ được hạch toán vào bên NỢ của tài khoản cho vay để sử dụng theo các hướng sau:
+ Thanh toán trực tiếp cho người thụ hưởng (nhà cung cấp)
+ Giải ngân bằng tiền mặt, vay tiền mặt để đơn vị mua hàng hóa, nguyên liệu
Việc giải ngân sẽ được thực hiện hoàn toàn theo tiến độ thực hiện sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp và được thực hiện trong nhiều đợt trong một thời gian nhất định. Không kể vay đợt
trước đã được hoàn trả chưa miễn là số dư trên tài khoàn tiền vay không được vượt quá hạn mức tín
dụng đã quy định.
Trường hợp hạn mức tín dụng đã vay hết mà đơn vị vẫn còn phát sinh nhu cầu vay vốn thì ngân
hàng có thể cho vay theo hạn mức bổ sung.
* Thu nợ và thu lãi:
- Thu nợ: Vì cho vay luân chuyển là loại cho vay mà vốn tín dụng tham gia vào toàn bộ chu kỳ
luân chuyển vốn do đó trong hợp đồng tín dụng sẽ có điều khoản quy định tất cả những khoản thu từ
tiền thu bán hàng và các khoản thu khác phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp đều
phải trả nợ vay luân chuyển, có thể áp dụng theo một trong 2 cách sau:
+ Thu theo định kỳ
+ Thu theo doanh thu thực tế, mỗi lần doanh nghiệp có tiền thu bán hàng thì doanh nghiệp phải
dùng khoản tiền đó để trả nợ cho ngân hàng.
Các khoản thu bằng tiền mặt: doanh nghiệp vay vốn phải nộp tiền mặt vào ngân hàng để trả nợ
và chỉ để lại quỹ tiền mặt của mình một số tiền nhất định theo thỏa thuận với ngân hàng.
- Thu lãi: tiền lãi cho vay luân chuyển được tính và thu mỗi tháng một lần. Thời điểm tính lãi
vào ngày cuối tháng hay một ngày nhất định.
Phương pháp tính lãi: Tiền lãi được tính theo phương pháp tích số
1/5
3/5 2.000.000
10/5 1.500.000
20/5 5.000.000
25/5 3.000.000
Yêu cầu : Hãy xác định lãi vay của công ty trong tháng 5/2006 biết lãi suất cho vay là
1%/tháng.
*Xử lý nợ vay cuối kỳ
Trong cho vay luân chuyển, ngân hàng sẽ ký với khách hàng mỗi quý 1 lần, 6 tháng 1 lần, hoặc
1 năm 1 lần nhưng thông thường hiện nay các khách hàng khi được ngân hàng cho vay theo hạn mức
tín dụng thì thường ngân hàng sẽ ký 1 năm 1 lần. Vì vậy, khi kết thúc cho vay luân chuyển, ngân
hàng thường phải xử lý số nợ vay luân chuyển cuối quý, 6 tháng hay 1 năm thực tế trong các trường
hợp sau:
Trường hợp 1: Kỳ kế hoạch tiếp theo khách hàng vẫn tiếp tục được vay luân chuyển
- Nếu hạn mức tín dụng mới lớn hơn dư nợ thực tế cuối quý, 6 tháng, 1 năm thì ngân hàng
không phải xử lý gì cả.
- Nếu hạn mức tín dụng mới nhỏ hơn dư nợ thực tế của quý, 6 tháng, 1 năm thì số chênh lệch
giữa dư nợ thực tế với hạn mức tín dụng mới cần phải được xử lý. Lúc này Ngân hàng yêu cầu khách
hàng trả hết số chênh lệch. Nếu khách hàng không còn vốn bằng tiền thì khách hàng phải ký nhận nợ
và yêu cầu cam kết trả hết trong phạm vi 1 tháng. Nếu trong thời hạn 1 tháng mà khách hàng vay vốn
không trả số chênh lệch nói trên thì ngân hàng sẽ chuyển số chênh lệch đó sang tài khoản nợ quá hạn
và thông báo cho khách hàng biết để xử lý phạt và yêu cầu khách hàng tìm biện pháp trả nợ.
Trường hợp 2: kỳ tiếp theo vì lý do nào đó khách hàng không được vay luân chuyển thì toàn bộ
dư nợ thực tế còn lại hai bên thỏa thuận thống nhất phương thức xử lý như sau:
- Nếu dư nợ thực tế không lớn và khách hàng có điều kiện để trả hết nợ cho ngân hàng thì ngân
hàng tất toán nợ cho khách hàng.
- Nếu dư nợ thực tế còn lại lớn, khó có thể trả hết trong một thời gian ngắn thì hai bên sẽ thống
nhất xác định kỳ hạn nợ trong thời gian nhất định và phân chia số nợ trả làm nhiều kỳ.
c) Cho vay hạn mức tín dụng một tài khoản (cho vay thấu chi)
nên ngoài cách thức thu nợ cũng thực hiện phức tạp hơn.
+ Cách 1: Ngân hàng khống chế mức nộp tiền vào bên có của tài khoản vãng lai hàng tháng.
+ Cách 2: Ngân hàng khống chế mức dư nợ giảm dần theo thời gian
+ Cách 3: Thu nợ theo vòng quay vốn vay.
- Tính lãi: tương tự như cho vay luân chuyển.
Cho vay theo hạn mức thấu chi tuy là loại hình tín dụng cổ điển nhưng có ưu điểm là giảm bớt
nhiều thủ tục vay vốn rườm rà, tiết kiệm được nhiều chi phí cho ngân hàng và khách hàng. Thấu chi
là một trong những phương thức cho vay mới được áp dụng ở Việt nam từ năm 2002 theo quyết định
số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001.
Ví dụ: TK tiền gửi thanh toán của công ty A có số dư các tháng của năm 2009 như sau :
(Đơn vị tính: Triệu đồng)
Tháng Số dư TK TGTT Tháng
Số dư TK
TGTT
1 300 7 440
2 360 8 500
3 320 9 420
4 400 10 360
5 380 11 450
6 370 12 500
Số dư bình quân năm 2009 = 400trđ
Ngân hàng và công ty A thỏa thuận hạn mức thấu chi là 20% số dư bình quân năm 2009
Như vậy, công ty A được quyền chi vượt số dư TKTG của mình trong phạm vi 20% x 400 =
80 trđ để giao dịch thanh toán mà không cần phải tiến hành thủ tục nào.
d) Cho vay tài trợ xuất khẩu