TÀI LIỆU MÔN CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
Văn hóa Việt Nam, hay nói riêng là văn hóa của dân tộc Kinh mà đã có nguồn gốc tại
miền bắc Việt Nam, là một trong những nền văn hóa lâu đời nhất ở trong khu vực Thái
Bình Dương. Mặc dù như vậy, nhưng qua ảnh hưởng lớn của Trung Hoa, văn hóa Việt
Nam đã lập ra rất nhiều đặc điểm gần giống với những dân tộc của miền Đông Á, và khác
những nước ở khu Thái Bình Dương (như là Campuchia, Lào và Thái Lan) mà đã chịu
một phần lớn ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ.
Nhưng tuy là ảnh hưởng Trung Hoa được coi là ảnh hưởng lớn nhất của một nước ngoài
trên nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, dân tộc Kinh đã vẫn giữ gìn được rất nhiều nét văn
hóa riêng của mình, mà cho tới ngày hôm nay những phong tục riêng đó vẫn quan trọng
vô cùng trong đời sống của người Việt.
Có nhiều nhà viết sử cho rằng là trước khi ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa, Văn hóa
Đông Sơn có gốc ở miền bắc Việt Nam (mà cũng đã phát triển mạnh ở những nước khác
ở khu Thái Bình Dương) là phần đầu của lịch sử Việt Nam.
Có thể nói chung văn hóa của Việt Nam là một pha trộn đặc biệt giữa nhiều những văn
hóa cổ xưa cùng với văn hóa bản xứ của người Việt, ngoài ảnh hưởng lớn nhất của Trung
Hoa cũng có ảnh hưởng rất nhỏ hơn của văn hóa Ấn Độ, Chàm, và sau này ảnh hưởng
lớn của văn hóa phương tây (Pháp, Nga, Mỹ).
Đất nước
Chùa Thiên Mụ ở Huế, Viẹt Nam
Văn hóa Việt Nam đặc biệt là văn hóa miền Bắc rất đa dạng. Nó được đúc kết qua hàng
ngàn năm lịch sử. Các phong tục như tục nhuộm răng, ăn trầu, các lễ hội như: lễ hội Chùa
Hương, giỗ tổ Hùng Vương, hội Lim, hội xuống đồng của người Tày. Ở các dân tộc miền
núi có ngày hội tình yêu, đến mỗi dịp Xuân về những đôi trai gái tập trung lại họ chơi các
trò chơi như ném Còn, hát Đối
Tổ chức cộng đồng
Cộng đồng người Việt được tổ chức theo các đơn vị cơ bản là làng. Làng là một tổ chức
khá khép kín. Làng thường có đình làng là nơi thờ cúng các vị thành hoàng và hội họp
dân làng, nơi tổ chức các lễ hội quan trọng. Làng được bao bọc bởi lũy tre làng và có
cổng làng, trong làng còn có cây đa, có thể có chùa. Những người đứng đầu làng được
mọi người tôn kính, thường là những người già cả, người có tiền. Làng thường có những
Một điểm đăc biệt trong kiến trúc nhà cửa, là các kiến trúc đều thuận theo thuật phong
thủy. Đó là sự hài hòa giữa thế đất, thế núi, nguồn nước Điều này thể hiện rất rõ trong
kiến trúc kinh thành như thành Thăng Long, thành nhà Hồ, kinh thành Huế hay trong
thuyết tam tài của người dân là : "thiên - địa - nhân".
Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của con người còn được thể hiện trong cách ăn
mặc của người dân. Đó là cách ứng xử mùa nào thức nấy, mùa hè mặc chất liệu vải mát,
mùa đông màu áo chất liệu vải giữ nhiệt
Hay trong kinh nghiệm sản xuất, trị thủy. Dự báo thời tiết, mùa nào thì nên trồng cây nào
cho thích hợp Tuy nhiên, hiện nay, do môi trường cơ chế thị trường, con người đã xâm
hại tự nhiên quá lớn, để rồi tự nhận lãnh hậu quả là những trận lũ lụt khủng khiếp, động
đất, sóng thần Vì thế, để được thiên nhiên giúp đỡ, mọi người hãy tự nhận thức sự cần
thiết của môi trường tự nhiên, hãy bảo vệ và xây dựng để môi trtường ngày càng tốt đẹp
hơn.
Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội
Người Việt Nam ngay từ nhỏ đã được dạy dỗ theo các chuẩn mực đạo đức của dân tộc và
của đạo Khổng, trong đó chú trọng việc tu thân dưỡng tính, lấy chữ Nhân làm trọng, kính
trên nhường dưới, luôn rèn luyện để có thể cống hiến thật nhiều cho đất nước và chăm lo
cho gia đình. Đến thời hiện đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng các quan điểm đạo đức xa
xưa lên một tầm cao mới, với các lời căn dặn như: "Trung với nước, hiếu với dân" (ngày
xưa là "Trung quân ái quốc").
Người Việt Nam có tinh thần "tôn sư trọng đạo". Người Việt xem cha mẹ có công sinh
thành ra mình, còn thầy cô có công dưỡng dục mình nên người: "Mùng một Tết cha,
mùng hai Tết chú, mồng ba Tết thầy". Những nghề nghiệp được tôn phong bằng chữ "sư"
(thầy) là những nghề nghiệp được người Việt tôn kính: võ sư, thầy thuốc Việt Nam có
Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11.
Việt Nam thời phong kiến "trọng nam khinh nữ", điều này gây nhiều bất hạnh cho người
phụ nữ
[cần dẫn nguồn]
. Phụ nữ phải thực hiện "tam tòng tứ đức". Sau khi lập nước năm 1945,
Chính phủ công nhận chính thức quyền bình đẳng nam nữ. Hồ Chí Minh viết tặng chị em
riêng biệt (cửu tộc).
Hầu như mọi ngày giỗ và các ngày lễ bên trong một họ đều tuân thủ các nguyên tắc thế
hệ. Những người trẻ tuổi có thể có vị trí cao hơn theo cấp bậc triều đình so với người lớn
tuổi nhưng vẫn phải tôn trọng người lớn tuổi kia.
• Địa lý
• Nghề nghiệp
• Gia trưởng
• Hành chính
Ở thời hiện đại
Ẩm thực
Bài chi tiết: Ẩm thực Việt Nam
Ẩm thực Việt Nam dựa chủ yếu trên gạo, tương và nước mắm. Mùi vị đặc trưng của nó là
ngọt, cay, và rất nhiều loại rau thơm khác.
Món ăn cơ bản trên mâm cơm hằng ngày là: canh, mặn và món xào.
Việt Nam cũng có nhiều kiểu mì. Các vùng khác nhau sáng tạo ra các kiểu mì khác nhau,
về hình dạng, mùi vị, màu sắc vân vân. Một trong những món mì nổi tiếng nhất là Phở,
gồm các sợi bánh phở và nước dùng, thịt bò, thịt gà. Món này có nguồn gốc từ miền bắc
Việt Nam.
Miền trung Việt Nam cũng nổi tiếng với nhiều món ẩm thực ngon miệng và có những
hương vị rất riêng.
Trang phục
Áo dài ngũ thân
Trang phục Việt Nam rất đa dạng. Ở thời phong kiến, có những quy định khắt khe về
cách ăn mặc. Dân thường không được phép mặc đồ nhuộm bất kỳ màu gì ngoài đen, nâu
hay trắng. Quần áo của người dân hầu hết rất là tầm thường và đơn sơ, đễ hợp với số
phận trong xã hội (ngoài những dịp lể quan trọng hoạc đắm cưới vân vân).
Một trong những y phục cổ xưa nhất mà đã được phụ nữ bình dân mặc từ xưa đến đầu thế
kỷ 20 là bộ Áo tứ thân. Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng là Áo tứ thân có thể đã ra đời
từ thế kỷ 12.
Vào thế kỷ 18, người bình dân ở hết 3 vùng chính Việt Nam đã bắt đầu mặc bộ đồ pijama
nội sinh.
Các cộng đồng thiểu số Thiên chúa giáo chiếm khoảng 8% và đa số theo Thiên chúa giáo
La Mã, nhưng có một thiểu số nhỏ gồm những nhóm Tin Lành mới về sau này. Những
nhà thờ Tin lành lớn nhất là Nhà thờ phúc âm Việt Nam và Nhà thờ phúc âm Degar.
Một tập hợp lẫn lộn dòng Hồi giáo Sunni và Hồi giáo Bashi đã bản địa hóa cũng được thi
hành tín ngưỡng phần lớn bên trong dân tộc thiểu số Chàm, nhưng cũng có một số người
thiểu số Việt Nam theo Đạo Hồi ở phía tây nam.
Ngày lễ
Bài chi tiết: Các ngày lễ ở Việt Nam
Ngày tháng Số ngày Tên
1 tháng 1 1 Tết Dương Lịch
Từ 30 tháng 12 (hay 29 tháng 12 nếu
tháng thiếu) đến 3 tháng 1 (âm lịch)
4 Tết Nguyên Đán
10 tháng 3 (âm lịch) 1 Ngày Giỗ tổ Hùng Vương
30 tháng 4 1
Ngày Chiến thắng,
thống nhất Tổ quốc
1 tháng 5 1 Quốc tế Lao động
2 tháng 9 1 Quốc khánh
Truyền thông
Lĩnh vực truyền thông ở Việt Nam thụt lùi xa phía sau các nước Đông Nam Á khác, từ
năm 1991 Hà Nội đã có những cố gắng lớn nhằm nâng cấp hệ thống.
Tất cả các trạm truyền thông ở các tỉnh đã được số hóa, và những hệ thống truyền tín hiệu
cáp quang cũng như vi ba đã được mở rộng từ Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí
Minh tới tất cả các tỉnh. Mật độ điện thoại đã tăng gấp đôi trên toàn quốc từ 1993 đến
1995, nhưng vẫn còn thấp so với các quốc gia trong vùng.
Việt Nam có hai vệ tinh Intersputnik (Vùng biển Ấn Độ). Tới năm 1999 có 65 MW
(AM), 29 SW (sóng ngắn) và 7 FM trạm sóng radio trên toàn quốc. Có 8.2 triệu thiết bị
thu sóng radio (1997 ước tính).
• Tiểu vùng Xứ Thanh (Thanh Hoá, không kể miền núi)
• Tiểu vùng Xứ Nghệ (Nghệ An, Hà Tĩnh, không kể miền núi)
• Tiểu vùng Xứ Huế (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên)
Vùng Nam Trung Bộ
• Tiểu vùng Xứ Quảng (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định)
• Tiểu vùng Phú Yên, Khánh Hoà
• Tiểu vùng Ninh Bình Thuận
Vùng Trường Sơn - Tây Nguyên
• Tiểu vùng nam Trường Sơn (vùng núi Thừa Thiên, Quảng Nam)
• Tiểu vùng bắc Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai)
• Tiểu vùng trung Tây Nguyên (Đắc Lắc)
• Tiểu vùng nam Tây Nguyên (Lâm Đồng, Bình Phước)
Vùng Nam Bộ
• Tiểu vùng đông Nam Bộ (Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương, Long An, Bà Rịa -
Vũng Tàu, Biên Hoà)
• Tiểu vùng tây Nam Bộ (Đồng Tháp, Kiên Giang, An Giang, Mỹ Tho, Cà Mau,
Trà Vinh, Bến Tre, Bạc Liêu)
• Tiểu vùng Sài Gòn - Gia Định
Đặc điểm của tín ngưỡng Việt Nam
Tín ngưỡng Việt Nam giống như các bộ phận khác của văn hóa Việt Nam đều mang
những đặc trưng của văn hóa nông nghiệp
[cần dẫn nguồn]
.
• Tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên: thể hiện ở tín ngưỡng sùng bái tự
nhiên
• Hài hòa âm dương: thể hiện ở các đối tượng thờ cúng: Trời-Đất, Tiên-Rồng, ông
đồng-bà đồng,
• Đề cao phụ nữ: thể hiện ở rất nhiều nữ thần như các Mẫu Tam phủ (Bà Trời-Đất-
Nước), Mẫu Tứ phủ (Bà Mây-Mưa-Sấm-Chớp),
• Tính tổng hợp và linh hoạt và hệ quả là tôn giáo đa thần chứ không phải độc thần
Các hình nam nữ đang giao phối được khắc trên mặt trống đồng tìm được ở làng Đào
Thịnh (Yên Bái), có niên đại 500 trước Công nguyên. Ngoài hình tượng người, cả các
loài động vật như cá sấu, gà, cóc, cũng được khắc trên mặt trống đồng Hoàng Hạ (Hòa
Bình).
Vào dịp hội đền Hùng, vùng đất tổ lưu truyền điệu múa "tùng dí", thanh niên nam nữ cầm
trong tay các vật biểu trưng cho sinh thực khí nam và nữ
[cần dẫn nguồn]
, cứ mối tiếng trống
"tùng" thì họ lại "dí" hai vật đó lại với nhau. Phong tục "giã cối đón dâu" cũng là một
biểu hiện cho tín ngưỡng phồn thực, chày và cối là biểu tượng cho sinh thực khí nam và
nữ
[cần dẫn nguồn]
. Ngoài ra một số nơi còn vừa giã cối (rỗng) vừa hát giao duyên.
Trống đồng - biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực
Vai trò của tín ngưỡng phồn thực lớn tới mức ngay cả chiếc trống đồng, một biểu tượng
sức mạnh của quyền lực, cũng là biểu tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn thực.
• Hình dáng của trống đồng phát triển từ cối giã gạo
• Cách đánh trống theo lối cầm chày dài mà đâm lên mặt trống mô phỏng động tác
giã gạo
• Tâm mặt trống là hình Mặt Trời biểu trưng cho sinh thực khí nam
[cần dẫn nguồn]
, xung
quanh là hình lá có khe rãnh ở giữa biểu trưng cho sinh thực khí nữ
[cần dẫn nguồn]
• Xung quanh mặt trống đồng có gắn tượng cóc, một biểu hiện của tín ngưỡng phồn
thực
[cần dẫn nguồn]
(xem thêm Con cóc là cậu ông trời)
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Do là một đất nước nông nghiệp nên việc sùng bái tự nhiên là điều đễ hiểu. Điều đặc biệt
còn đẩy các con vật lên thành mức biểu trưng như Tiên, Rồng. Theo truyền thuyết thì tổ
tiên người Việt thuộc "họ Hồng Bàng" (có nghĩa là một loài chim nước lớn), thuộc giống
"Rồng Tiên". Con rồng lần đầu tiên xuất hiện ở vùng Nam Á
[cần dẫn nguồn]
, sau đó mới được
phổ biến ở Trung Quốc rồi đến các nước phương tây. Con rồng có đầy đủ đặc tính của lối
tư duy nông nghiệp: tổng hợp của cá sấu, rắn; sinh ra ở dưới nước nhưng lại có thể bay
lên trời mà không cần cánh; có thể vừa phun nước vừa phun lửa. Có rất nhiều địa danh
Việt Nam có tên liên quan đến rồng như Thăng Long, Hàm Rồng,
Thực vật được tôn sùng nhất là cây lúa, có Thần Lúa, Hồn Lúa, Mẹ Lúa, đôi khi ta thấy
còn thờ Thần Cây Đa, Cây Cau,
Tín ngưỡng sùng bái con người
Ngoài phồn thực, tự nhiên, tín ngưỡng Việt Nam rất coi trọng con người.
Hồn và vía
Người Việt xưa cho rằng con người gồm phần thể xác và phần linh hồn. Một số dân tộc
Đông Nam Á coi linh hồn gồm "hồn" và "vía". Vía được hình dung như phần trung gian
giữa thể xác và hồn
[cần dẫn nguồn]
. Người Việt cho rằng người có ba hồn, nam có bảy vía và
nữ có chín vía. Ba hồn gồm: Tinh (sự tinh anh trong nhận thức), Khí (năng lượng làm cho
cơ thể hoạt động) và Thần (thần thái của sự sống). Bảy vía ở đàn ông cai quản hai tai, hai
mắt, hai lỗ mũi và miệng. Chín vía ở nữ giới cai quản bảy thứ như ở nam giới cộng thêm
hai vía nữa. Hai vía này có nhiều cách giải thích. Chúng có thể là núm vú có vai trò quan
trọng trong nuôi con. Tuy nhiên có cách giải thích khác (xem thêm chín vía). Người Việt
thường có câu nói nam có "ba hồn bảy vía" còn nữ có "ba hồn chín vía", cũng là từ các
quan niệm trên mà ra.
Hồn và vía dùng thể xác làm nơi trú ngụ, trường hợp hôn mê ở các mức độ khác nhau
được giả thích là vía và hồn rời bỏ thể xác ở các mức độ khác nhau. Nếu phần thần của
hồn mà rời khỏi thể xác thì người đó chết. Khi người chết, hồn nhẹ hơn sẽ bay sang kiếp
khác còn vía nặng hơn sẽ bay là là mặt đất rồi tiêu tan. Thế nên mới có những câu ngạn
sinh thành dưỡng dục nên được tôn vinh nhất. Bàn thờ tổ tiên ở giữa, vị trí quan trọng
nhất, bàn thờ Thổ Công ở bên trái, quan trọng thứ hai. Nhưng khi cúng lễ tổ tiên, người ta
đều phải khấn Thổ Công trước để xin phép cho tổ tiên về.
Ở Nam bộ, Thổ Công được thay bằng Ông Địa và thờ ở dưới đất (đất phải về với đất),
nhiều nơi còn gọi Ông Địa là Thần Tài (mọi thứ đều từ đất mà ra).
Thành hoàng làng
Ở phạm vi gia đình, người Việt thờ tổ tiên và Thổ Công, ở phạm vi làng xã, người Việt
thờ Thành hoàng. Giống như Thổ công, Thành hoàng cai quản và quyết định họa phúc
của một làng. Không có làng nào ở Việt Nam mà không có Thành hoàng.
Những người được thờ thường là những người có tên tuổi và địa vị, có công lao đối với
làng đó. Tuy nhiên một số làng còn thờ những người lý lịch không "hay ho" gì như trẻ
con, ăn xin, ăn mày,trộm cắp nhưng họ chết vào "giờ thiêng".
Vua tổ
Ở phạm vi quốc gia, người Việt thờ Vua tổ, đó là Vua Hùng. Nơi thờ phụng ở Phong
Châu, Phú Thọ. Ngày giỗ tổ là ngày 10 tháng 3 âm lịch.
Tứ bất tử
Người Việt còn thờ bốn vị thánh bất tử, đó là Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử và
Liễu Hạnh.
Tản Viên biểu hiện cho ước vọng chiến thắng thiên tai, lụt lội; Thánh Gióng biểu hiện
cho tinh thần chống giặc ngoại xâm; Chử Đồng Tử biểu hiện cho cuộc sống phồn vinh về
vật chất; Liễu Hạnh biểu hiện cho cuộc sống phồn vinh về tinh thần của người dân Việt
Nam.