Bài giảng địa chất đại cương - Pdf 22

Bài Giảng ñịa chất ñại cương Tiến sĩ: Nguyễn Văn Canh

Convert to pdf by Phúc Tùng
ðại học Khoa Học Huế

ðỊA CHẤT ðẠI CƯƠNG
CHƯƠNG I. NHỮNG NÉT ðẠI CƯƠNG VỀ MÔN HỌC
I. ðịa chất học và nội dung nghiên cứu của nó
1. ðnh nghĩa
ðịa chất học xuất xứ từ thuật ngữ Geologes (Hy Lạp) Ge: Trái ñất. Logos:
lời nói, học thuyết. Geology (Anh) Geologie (Pháp) reoπouπ (Nga). Là môn học
về trái ñất ñịa chất học bao gồm các kiến thức của ngành khoa học về trái ñất,
trong ñó có những ngành như ðịa lý, ñịa vật lý, ñịa hoá, ñịa mạo Hiện nay,
người ta hiểu ñịa chất học theo nghĩa hẹp là môn học khoa học nghiên cứu vỏ
trái ñất, ñúng ra là nghiên cứu thạch quyển (quyển ñá) bao gồm cả phần vỏ và
phần trên của lớp manti (Manti: có người còn gọi là lớp cùi, là lớp trung gian giữa
nhân và vỏ trái ñất). ñịa chất ñịa cương là phần nhập môn, phần khái quát bước
ñầu ñể hiểu biết ñịa chất học, giới thiệu những lý luận chung, những khái niệm
cơ sở của ñịa chất học. Rất quan trọng vì phục vụ cho việc học các môn chuyên
môn về ñịa chất ở những năm trên.
2. ði tng và nhim v ca ña cht hc
ðối tượng: Phần vật chất cứng của vỏ Trái ñất như thành phần vật chất
tạo thành cấu trúc của chúng quá trình hình thành, biến ñộng và tiến triển của
chúng.
Nhiệm vụ của ñịa chất học: Trong lĩnh vực tìm kiếm thăm dò ñịa chất, môn
học có nhiệm vụ nghiên cứu sự hình thành, quy luật phân bố của các tài nguyên
khoáng sản, bao gồm cả nguồn năng lượng ñể ñưa vào sử dụng có ích cho con
người.
ðối với các lĩnh vực ñịa chất công trình, ñịa chất thuỷ văn và các ngành có
liên quan thì ñịa chất học ñóng góp những hiểu biết cần thiết cho công tác xây
dựng, thiết kế. Qui hoạch kinh tế, ñô thị, bảo vệ môi trường sống, phòng chống

3. Mi liên quan ca ña cht hc vi các ngành khoa hc t nhiên
Vật chất trong Trái ñất và quá trình hoạt phát triển của các hiện tượng ñịa
chất xảy ra trong những ñiều kiện vật lý, hoá học, sinh học và các ñiều kiện tự
nhiên khác vô cùng phức tạp, vì thế ñịa chất học có liên quan mật thiết với nhiều
ngành khoa học: vật lý, hoá học toán học, sinh vật học, cơ học ð.C.H sử dụng
các thành quả nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu của các ngành
khoa học nói trên. Từ ñó ñã nảy sinh các môn khoa học có tính liên kết mà mục
ñích là nhằm giải quyết các nhiệm vụ của ñịa chất học. ðó là: ðịa vật lý: ñịa hoá,
sinh ñịa hoá, ñịa chất phóng xạ, toán ñịa chất, ñịa cơ học, ñịa chất mô phỏng
4. Xu hng phát trin ñi sâu ca ña cht hc
Bài Giảng ñịa chất ñại cương Tiến sĩ: Nguyễn Văn Canh

Convert to pdf by Phúc Tùng
ðại học Khoa Học Huế

Cũng như các ngành khoa học khác, nhờ những công cụ, thiết bị hiện ñại
ñịa chất học hướng sự nghiên cứu vào cả thế giới vật chất của Trái ñất trong
phạm vi vĩ mô cũng như vi mô. Mặt khác ñịa chất học còn hướng vào quá khứ
lâu dài trước khi có dấu vết của sự sống nảy sinh. ði vào những vấn ñề cụ thể,
ñịa chất học có xu hướng.
- Tìm hiểu dần vào sâu trong vỏ ñến nhân Trái ñất. ðộ sâu trực tiếp mà
con người với ñến ñược với những lỗ khoan sâu trên 10 km ở Mỹ và Liên Xô.
- Tìm hiểu mối liên hệ của Trái ñất như là một thiên thể vũ trụ, với các hành
tinh trong hệ mặt trời và xa hơn là trong vũ trụ.
- Nghiên cứu các hành tinh gần Trái ñất như nghiên cứu Mặt trăng, sao
Hoả, sao Kim qua ñó mà hiểu ñược sự phát sinh của Trái ñất. Những số liệu và
kiến thức năng cung cấp cho sự hoàn thiện môn ñịa chất vũ trụ học.
II. Các phương pháp nghiên cứu của ñịa chất học
1. ða cht hc là một môn học khoa học tự nhiên. Giống như các ngành khoa
học tự nhiên khác, ðịa chất học sử dụng phương pháp nghiên cứu theo logich

những ñiểm riêng biệt. Môn học còn sử dụng:
- Phương pháp nghiên cứu ngoài thực ñịa bao gồm khảo sát, thu thập
mẫu, phân tích từ kết quả có ñược dự ñoán những khảo sát, phát hiện mới. Các
quan sát trực tiếp ngoài thực ñịa về sau ñược nhiều phương tiện máy móc thay
thế và nâng cao hiệu quả nghiên cứu như máy móc ðịa - vật lš, các công trình
khoan ðặc biệt các phương tiện viễn thám (máy bay, vệ tinh, con tàu vũ trụ) ñã
mở rộng tầm mắt, nối dài tầm tay cho con người. Ngày nay nghiên cứu ñịa chất
nhất là trong ño vẽ bản ñồ ñịa chất không thể thiếu ñược công tác phân tích ảnh
viễn thám. M.N.Petruxevich (1961) ñã nhận xét rằng sự xuất hiện ảnh viễn thám
với kính lập thể là một bước ngoặt lịch sử ñể nghiên cứu cấu trúc vỏ Trái ñất, nó
có ý nghĩa to lớn như sự xuất hiện kính hiển vi phân cực ở thế kỷ trước ñể tìm
hiểu thành phần vật chất vi mô.
- Phương pháp nghiên cứu trong phòng ñược chú ý với những hướng sau:
Các phương pháp phân tích mẫu ngày càng ñược cải tiến với phương
hướng nâng cao hiệu quả và tốc ñộ phân tích, ñồng thời ñi sâu vào cấu trúc bên
trong của vật chất.
Sử dụng phương pháp tổng hợp thực nghiệm (ví dụ trong việc tạo ra các
khoáng vật tổng hợp, các ñá nhân tạo ) song song với xử lš, phân tích số liệu.
- Phương pháp mô phỏng trên cơ sở của nguyên lý tương tự ñể mô hình
hoá các quá trình biến dạng, biến ñộng cấu tạo, sự hình thành các khoáng sàng.
Trong công tác thăm dò ñịa chất thường sử dụng mô hình hoá toán học có sự
tham gia ngày một nhiều của máy tính ñiện tử.
- Phương pháp hiện tại luận C.Lyell thực chất là “lấy mới suy cu‹ hay là
“Phương pháp so sánh lịch sử”. Trong tác phẩm “Nguyên l› ñịa chất học‹ (1830)
Lyell ñã nêu nguyên tắc cơ bản “Hiện tại là chìa khoá ñể hiểu ñược quá khứ”.
ðây là phương pháp nghiên cứu ñặc trưng của ñịa chất học, không có trong các
môn khoa học khác. Theo nguyên tắc này thì những ñiều kiện môi trường của
hiện nay giải thích chi tình hình ñịa chất xa xưa. Ví dụ ngày nay người ta thấy
muối mỏ có màu ñỏ của ôxyt Fe do ñược hình thành trong ñiều kiện khô hạn thì
Bài Giảng ñịa chất ñại cương Tiến sĩ: Nguyễn Văn Canh

- Phương pháp ñối sánh ñịa chất: Sử dụng những tài liệu về ñịa chất ñã
ñược nghiên cứu hiểu biết kỹ của một khu vực, một vùng ñể liên hệ so sánh và
rút ra kết luận ñúng ñắn cho nơi mình ñang nghiên cứu. Ví dụ khi nghiên cứu
vùng than ở Than Thùng Yên Tử, mạo Khê - Tràng Bạch có thể ñối sánh với
vùng than ở Hoàn Gai. Có thể nghiên cứu ñối với các vùng than có ñiều kiện ñịa
chất tương tự, chẳng hạn vùng than ở Nông Sơn, Ngọc Kinh. Việc ñối sánh ñịa
chất không chỉ làm trong nước mà còn liên hệ ñối sánh với các tài liệu của nước
Bài Giảng ñịa chất ñại cương Tiến sĩ: Nguyễn Văn Canh

Convert to pdf by Phúc Tùng
ðại học Khoa Học Huế

ngoài. Chẳng hạn có thể ñối sánh tình hình ñịa chất khoáng sàng apatit ở Lao
Cai với vùng photphorit ở Côn Minh (Trung Quốc), ở Liên Xô
- ðặc biệt từ nửa sau thế kỷ này nhiều thành tựu và phương pháp nghiên
cứu của các ngành khoa học khác, nhất là khoa học cơ bản ñã thâm nhập vào
ñịa chất học, hình thành những phương pháp nghiên cứu mới như phương pháp
mô hình hoá. Các phương pháp xử l› bằng máy tính các dữ liệu của ñịa chất (cả
những vấn ñề mà trước kia các nhà ñịa chất cho là không thể dùng toán học và
máy tính giải quyết ñược).
III. ðịa chất học và sự phát triển cơ sở tài nguyên khoáng sản, phát hiện
nền kinh tế của ñất nước.
ðịa chất là cơ sở lý luận khoa học bao gồm cả l› thuyết và thực hành giúp
cho việc phát hiện, thăm dò các tài nguyên khoáng sản có ích ñiều tra và ñánh
giá các nền móng cho các công trình xây dựng kiến trúc phòng chống các hiện
tượng ðịa chất gây tác hại cho cuộc sống loài người. Vì thế mỗi quốc gia ñều có
cơ sở tổ chức nghiên cứu về ðịa chất cho nước mình ñể tiến hành các mặt công
tác.
Về lĩnh vực ñiều tra khoáng sản: Thông qua việc lập các bản ñồ ðịa chất
từ các tỷ lệ khái quát ñến chi tiết nhà nước hiểu biết ñược tiềm năng các mặt về

I. Khái niệm chung
Nguồn gốc Trái ñất và sự tiến hoá của nó từ xưa ñã ñược con người và
nhiều ngành khoa học như thiên văn, ñịa lý ðịa chất, vật lý, triết học quan tâm
nghiên cứu giải thích. Nhận thức trải qua nhiều giai ñoạn. Trước thế kỷ XVIII việc
giải thích thường mang màu sắc thần bí, duy tân, tôn giáo. Từ thế kỷ XVIII trở ñi
việc giải thích gắn với các giả thuyết khoa học. Ngày nay người ta nhận thấy sự
hình thành và phát triển của Trái ñất có liên quan với thành phần vật chất, các
diễn biến tiến hoá của các trường ðịa - vật lý, các trạng thái ñịa nhiệt, với nguồn
gốc của các vòng quyển bao quanh Trái ñất. Mặt khác nhiều tư liệu cho thấy sự
hình thành Trái ñất chịu ảnh hưởng rất lớn của các hệ thống thiên thể gần và xa
trong vũ trụ, trước mắt quan trọng hơn cả là hệ Mặt trời. Những biến ñổi lớn về
mặt ðịa chất, khí hậu trên Trái ñất phản ánh sự tiến hoá của các thiên thể trong
hệ Mặt trời.
II. Hệ mặt trời và các ñặc ñiểm cơ bản.
1. Ví trí ca Trái ñt trong vũ tr.
Trái ñất là một thiên thể trong vũ trụ. Vũ trụ là thế giới vật chất bao quanh
(“Vũ” là khái niệm về không gian không bờ bến,”Trụ” là khái niệm về thời gian
không ñầu, không cuối). Trong vũ trụ có vô số hệ thiên thể (hệ sao). Hiện nay
khoa học cho biết có ñến 10 tỷ hệ sao, hệ xa nhất mà con người có thể quan sát
ñược với trình ñộ kỹ thuật hiện ñại là 1010 năm ánh sáng (một năm ánh sáng
bằng 94,6 x 10
12
km). Khoảng cách giữa các hệ sao khoảng 1,6 x 10
9
năm ánh
sáng.
Trái ñất nằm trong hệ mặt trời. Hệ Mặt trời nằm trong một hệ lớn hơn
nhiều gọi là hệ Ngân Hà. Hệ Ngân Hà lại là một hệ nhỏ trong một hệ sao lớn hơn
gọi là Thiên Hà. Nhiều Thiên hà nằm trong một hệ lớn hơn nữa là Siêu Thiên Hà.


tạo thành (ñường kính bụi mây từ 0,3 - 3 (m, tỷ trọng rất bé, chỉ bằng của bụi ở
mặt ñất vài phần của 1000 tỷ).
Ngân Hà là một hệ sao nhỏ của vũ trụ. Qua những bức ảnh chụp những
năm gần ñây nhận thấy chúng có dạng trứng, dạng elipxoid, dạng thấu kính và
ña số là dạng xoáy ốc.
3. H Mt tri.
Hệ mặt trời gồm có mặt trời và quay quanh mặt trời có 9 hành tinh, từ
trong ra ngoài là Thuỷ tinh (Meccuya), Kim tinh (Vecne) Trái ñất (ðịa tinh), Hoả
tinh (Mars), Mộc tinh (Jupiter), Thổ tinh (Saturn), Thiên Vương tinh (Uran), Hải
Vương Tinh (Neptuyn), Diêm Vương Tinh (Pluton). Nếu lấy quỹ ñạo của Diêm
Vương Tinh là ranh của hệ thì ñường kính của hệ Mặt trời là 11,8 x 10
9
km
(tương ñương 7,9 ñơn vị thiên văn. (ðơn vị thiên văn là khoảng cách từ Trái ñất
tới Mặt trời, khoảng 150 triệu kilômet). Trong hệ mặt trời ngoài các hành tinh và
Mặt trời còn có trên 50 vệ tinh quay quanh các hành tinh, vô số thiên thạch, sao
chổi, hạt bụi, khí và các tia bức xạ, tia vũ trụ. Giữa sao Hoả và sao Mộc có trên
2100 hành tinh nhỏ, trên 600 sao chổi.
Trong khoảng không khí vũ trụ sự phân bố của các sao trong mặt trời là rất
thưa. Ví dụ khoảng cách từ Trái ñất tới Mặt trời là 150 triệu kilômét, trong khi
ñường kính của mặt trời là 1. 392. 000km, ñường kính của Trái ñất là 12. 742
km.
+ Mặt trời có ñường kính lớn hơn của Trái ñất 109 lần, thể tích lớn hơn thể
tích Trái ñất 1. 300 000 lần, khối lượng vật chất gấp 333.000 lần của Trái ñất
nhưng tỷ trọng chỉ bằng 1/4 của Trái ñất. Phân tích quang phổ thấy mặt trời có
Bài Giảng ñịa chất ñại cương Tiến sĩ: Nguyễn Văn Canh

Convert to pdf by Phúc Tùng
ðại học Khoa Học Huế


160g/cm3, áp suất là 344 x 1012 Pa, nhiệt ñộ ñến 15 x 106oC, thuộc loại siêu
cao áp và siêu cao nhiệt. Về nguồn gốc của năng lượng dự ñoán là do nguồn
năng lượng nhiệt hạch.
+ Các hành tinh: Dựa vào các tài liệu gần ñây của vệ tinh nhân tạo thu
thập, số liệu lấy từ ñất ñá của mặt trăng, số liệu của ngành khoa học mới Vũ trụ
ðịa chất học (hoặc ðịa chất học ñối sánh các hành tinh), dưới ñây xin nêu một số
ñặc ñiểm chính của các hành tinh trong hệ mặt trời.
Các thông số của hành tinh trong hệ mặt trời ñược ghi trong bảng “Các
tham số vật lý của các hành tinh trong hệ mặt trời”.
Các nghiên cứu cho thấy thành phần vật chất của các hành tinh về căn
bản không khác nhau mấy, chỉ có tỷ lệ các thành phần và trạng thái tồn tạo của
chúng có biến ñổi. Ví dụ CO
2
và H
2
O các hành tinh ñều có, nhưng Trái ñất có
Bài Giảng ñịa chất ñại cương Tiến sĩ: Nguyễn Văn Canh

Convert to pdf by Phúc Tùng
ðại học Khoa Học Huế

nhiều nhất. ða số CO
2
và H
2
O O ở các hành tinh khác ñều ở trạng thái lỏng, CO
2

ít khi ở dạng khí nhưng ở sao kim thì khí CO
2

Bảng
Các
tham
số
Sao
Thuỷ

Sao
kim
Trái
ñất
Sao
Hoả
Sao
Mộc
Sao
Thổ
Sao
Thiên
vươn
g
Sao
Hải
vươn
g
Sao
Diêm
vươn
g
-

sao
Lớp vỏ Lớp manti Nhân
Sao Thuỷ Dày 500 km, silicat
nhiều Fe
Dày 200 km silicat
rắn
170 km Fe – Ni nóng
chảy
Sao Kim Dày 100 km, silicat và
cacbonnát
Dày 1800 -2000 km,
phần trên nóng
chảy, phần dưới rắn

3000 km Fe – Ni
Nhân ngoài có thể có
Si. Nhân trong thêm
Fe, K
Sao Hoả Dày 200 km, silicat 2000 km Silicat 1200 km Fe và Fé
nóng chảy. Có thể
thêm K.
Sao Mộc Dày 2700 km. Phân tử
H lỏng.
28000 km kim loại
H thể lỏng
1500 km, chủ yếu là
Fe, S thể rắn
Sao Thổ 2600 km. Phân tử H
lỏng.
3000 km kim loại H

Mộc. Giữa hai nhóm có một ñai các tiểu hành tinh.
+ Mặt trăng: Trong hệ mặt trời, có các thiên thể xoay quanh hành tinh, bản
thân không phát sáng. ðó là các vệ tinh. Cho ñến nay các nhà thiên văn ñã xác
ñịnh ñược Trái ñất chỉ có một vệ tinh là mặt trăng, sao Hoả có 2, sao Mộc - 16,
sao Thổ - 23, sao Thiên vương - 5, sao Hải vương 2 và sao Diêm vương - 1,
tổng cộng là 50 vệ tinh.
- Bề mặt của mặt trăng: mặt trăng tự quay xung quanh nó cùng một chu
kỳ với chu kỳ quay quanh Trái ñất, do ñó luôn luôn chỉ có một mặt của nó hướng
về Trái ñất. Mặt hướng về Trái ñất gọi là mặt trước, còn mặt kia là mặt sau. Bề
mặt của mặt trăng là một bề mặt lạnh lẽo, yên tĩnh vì trê nó không có nước, khí
quyển rất loãng (chưa bằng 1/10
12
mặt ñộ không khí của Trái ñất về mặt ñộ
không khí). Chính vì vậy trên mặt trăng không có các hiện tượng gió, mây, mưa,
sấm sét, không có sinh vật. Mức ñộ lồi lõm của bề mặt Mặt trăng rất lớn thể hiện
ở các chỗ sáng và tối. Chỗ sáng gọi là ‘lục ñịa Trăng” có các núi nổi rõ. Chỗ nói
phân thành “biển Trăng”, “hồ Trăng”, “cảng Trăng”, “ñầm Trăng”, “thung lũng
Trăng”, gọi theo cách liên hệ với mặt ñất. “Biển Trăng” lớn nhất là “Biển bão táp”
với diện tích 5 triệu km
2
. “Biển Mưa” nhỏ hơn, diện tích khoảng 8,87 x 10
5
km
2
.
Diện tích của “lục ñịa Trăng” ở bề mặt sáng (mặt trước) bằng diện tích “biển
Trăng” ñược giải thích là do thiên thạch va ñập tạo thành.
Cấu tạo ñứt vỡ Mặt Trăng cũng phát triển. Có những ñường ñứt gãy sâu
dạng tuyến dài hàng trăm ki lô mét, hoặc dạng vòng cung dài hàng chục ñến 200
- 300km. ðịnh hướng chiếm ña số rõ nhất là hai hệ ðB - thí nghiệm và TB - ðN.

trong khi ñó tỷ trọng toàn bộ Mặt trăng cũng chỉ 3,34g/cm3, chênh lệch không
ñáng kể.

Hình 2.1. Cu to bên trong ca Mt trăng
+ Các tiểu hành tinh, sao chổi, thiên thạch:
Các tiểu hành tinh (asteroid) phân bố ở giữa sao Hoả và sao Mộc. Trước
kia theo công thức quỹ ñạo của sao dự ñoán phải có một hành tinh. Sau ñó vào
ngày một tháng giêng năm 1801 các nhà thiên văn ñã phát hiện ñược một ngôi
sao nhỏ co ñường kính 760 km gọi là sao Thần. ðó là ngôi sao lớn nhất. Sau ñó
người ta tiếp tục phát hiện ñược nhiều tiểu hành tinh khác và cho ñến nay ñã biết
ñược trên 2000 sau và dự ñoán phải có ñến mấy chục vạn sao. ðường kính các
sao thường là 60 - 70 km, có loại nhỏ chỉ vài trăm m hình dạng có góc cạnh. Chu
kỳ quay quanh mặt trời ñộ 3 năm.
Sao chổi (Comet): ðây là loại thiên thể ñặc biệt trong hệ mặt trời: Cấu tạo
của sao Chổi gồm 2 phần là ñầu sao Chổi và ñuôi sao Chổi. ðầu sao chổi rất
sáng, ở phần giữa nhân của nó gồm các chất dạng mây rất dày, sáng gọi là “tóc
Bài Giảng ñịa chất ñại cương Tiến sĩ: Nguyễn Văn Canh

Convert to pdf by Phúc Tùng
ðại học Khoa Học Huế

sao chổi”, thành phần là các khí, các nguyên tử, phân tử khí bốc hơi của kim loại
và các hạt bụi. Tỷ trọng của tóc sao chổi rất bé, nhỏ hơn chân không do con
người tạo ra ñến 100 triệu lần. ðôi sao chổi cực sáng, hình dáng giống cái chổi,
thành phần gồm các ñiện tử, nguyên tử, phân tử khí. Khi ở xa Mặt trời chưa thấy
ñuôi. Khi sao chổi ñến gần mặt trời, ñầu sao chổi chịu ảnh hưởng bức xạ mạnh
của mặt trời làm cho “tóc sao chổi” nở ra ñẩy các hạt bụi ra sau tạo thành ñuôi
dài có thể 200 - 300 x 106km với ñường kính từ 50 - 250 x 103km. Sao chổi
cũng chuyển ñộng quanh mặt trời nhưng khác với các hành tinh khác là quỹ ñạo
của chúng có hình elip rất dẹt. Chu kỳ chuyển ñộng trên 200 năm. Hệ mặt trời có

tinh. Thành phần chủ yếu là các silicat chứa Fe, có thể là thành phần nguyên
thuỷ của hành tinh, dự ñoán là do Mặt trời nguyên thuỷ nóng chảy và thoát rời
khỏi mặt trời, ñông cứng lại tạo thành.
- Thiên thạch không hạt cầu: Chiếm ñộ 8% số lượng thiên thạch và rất
giống các loại ñá mafic, siêu mafic của Trái ñất. ða số có kiến trúc granit biến
tinh.
Thiên thạch sắt (Siderite): Chiếm ñộ 6%, thành phần chủ yếu là Fe, Ni và
một số nguyên tố khác. Tỷ trọng 8 - 8,5g/cm3. ðã từng gặp một khối nặng 30 tấn,
trong ñó sắt chiếm 88,67%, Ni = 9,27%, còn lại là Co, P, Si, Cu
Thiên thạch sắt - ñá (hondrite): Chỉ chiếm 2%. Thành phần hỗ hợp của sắt,
niken và silicat.
Các thiên thạch nếu ñâm vào Trái ñất tạo ra một hố lớn với một ñộng năng
lớn gây biến chất ñặc biệt cho nơi bị va chạm thì trọng lượng ít nhất phải ñạt 10 -
100 tấn và tốc ñộ bay phải giữ ñược từ 10 - 70 km/s.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu thiên thạch: Nghiên cứu thiên thạch cũng
như các vệ tinh sao chổi có ý nghĩa giúp tìm hiểu thành phần vật chất của Mặt
trời, của Trái ñất, tìm hiểu thời gian hình thành và nguồn gốc của Trái ñất. Mặt
trời, xây dựng các giả thuyết về sự tạo thành bề dày vật chất của Trái ñất. Một số
thiên thạch là ñá quý. Thí dụ Tectit ở Việt Nam là một loại thiên thạch màu ñen
ñược sử dụng làm các chuỗi hạt, các loại ñồ trang sức. Trước phát hiện nhiều ở
miền Nam, ở Tây Nguyên, sau này cũng ñã tìm thấy ở nhiều nơi trên miền Bắc.
Theo một số nàh nghiên cứu thì thiên thạch rơi ở Xibia với ñộng năng lớn gay
ñập vỡ với áp suất và nhiệt ñộ cao tạo ra các hạt kim cương.
4. Nhận xét một số ñiểm chủ yếu về hệ mặt trời:
- Tất cả các hành tinh của hệ mặt trời ñều quanh mặt trời theo một phương
hướng chung trên một quỹ ñạo gần với mặt phẳng xích ñạo của Mặt trời. Mặt
phẳng quỹ ñạo chênh với mặt phẳng qu xích ñạo của Mặt trời (mặt hoàng ñạo)
một góc nhỏ hơn 70, trừ mặt quỹ ñạo của sao Diêm vương chênh 1709. Hướng
chuyển ñộng quay quanh mặt trời ngược chiều kim ñồng hồ.
- Mỗi hành tinh tự quay xung quanh một trục của nó và cũng hướng quay

mặt trời và hành tinh ñều do từ một tinh vân tạo thành, giả thuyết tai biến cho
rằng mặt trời xuất hiện từ trước sau ñó thu hút những vật chất trong hệ Ngân Hà
ñể tạo ra hành tinh và vệ tinh. Dưới dây là giả thuyết của một số tác chính.
- Giả thuyết của I.Kant (1755): Ikant cho rằng trong vũ trụ có nhiều bụi, hơi
tạo thành tinh vân. Do lực hút hấp dẫn chúng liên kết lại thành những khối nhỏ.
Do lực ñẩy và hút lẫn nhau, các khối nhỏ tập trung thành khối lớn. Và cũng do
lực ñẩy và hút gây ra sự va chạm tạo thành sự quay tròn. Sự tập trung vật chất
trong vũ trụ lớn dần thành mặt trời nguyên thuỷ. Mặt trời tự quay làm cho vật chất
tập trung dần vào xích ñạo, dần dần thành dạng bẹt tròn và vật chất tập trung
vào trung tâm. Cũng do quay mà mặt trời ñã văng ra các hành tinh và vệ tinh
quay quanh mặt trời.
- Giả thuyết laplaxơ: P.S. Laplaxơ, 1796 ñộc lập nên ra giả thuyết về
nguồn gốc của hệ mặt trời. Ông cho rằng hệ mặt trời lúc ñầu rất rộng lớn, gồm
Bài Giảng ñịa chất ñại cương Tiến sĩ: Nguyễn Văn Canh

Convert to pdf by Phúc Tùng
ðại học Khoa Học Huế

những khối tinh vân hình cầu nóng và vật chất thưa mỏng. Tinh vân này lúa ñầu
chuyển ñộng chậm chạp sau ñó nguội dần co lại, vật chất ñặc xít dần làm cho tốc
ñộ quay tăng lên và do ñó lực ly tán cũng tăng. Tinh vân biến dần thành ñĩa dẹt.
Khi lực ly tâm lơn hơn lực hút thì tách các hành tinh là khoảng cách của vòng tới
tâm của tinh vân nguyên thuỷ. Các vòng tạo hành tinh nóng cũng với phương
thức như trên tạo ra các vệ tinh. Vòng của sao Thổ ñược xem như là vòng mà
chúng chưa ñông nén lại ñể thành vệ tinh. ở giữa sao Hoả và sao Mộc (vòng thứ
5) vật chất càng bị phân chia thành rất nhỏ tạo ra ñới các tiểu hành tinh.
Giả thuyết của I.Kant và của Laplaxơ ñược xây dựng ñộc lập nhưng vì tính
chất và cách giải thích gần giống nhau nên ñược gọi chung là thuyết Kant -
Laplaxơ: Giả thuyết thống trị trong thế kỷ XIX. Về sau bị chứng minh là không
hợp lý vì Laplaxơ ñã không giải quyết ñược vấn ñề mômen ñộng lượng. Bằng

của thế kỷ này, hai nhà thiên văn Anh và Pháp nêu trên tìm cách giải thích theo
hướng ñiện từ trường tác dụng trong quá trình thành tạo mặt trời và hành tinh.
Hai ông cho rằng ban ñầu ñám tinh vân trong vũ trụ tụ tập dần thành khối quay
chuyển với tốc ñộ không cao, nhiệt ñộ cũng thấp. Dần dần nó co rút thể tích và
tốc ñộ quay vì thế tăng nhanh. ðến một mức ñộ nhất ñịnh thì thành hình dẹp,
xích ñạo sình ra ñến nỗi một số vật chất bị văng ra ngoài tạo thành dạng một ñĩa
tròn quay quanh mặt trời. Trọng khối của ñĩa tròn cũng chỉ bằng 1/100 của mặt
trời. Vật chất của ñĩa tròn dần dần hình thành các mần hành tinh và sau ñó thành
hình tinh. mặt trời bức xạ nhiệt hạch tạo ra một ñiện từ trường trong không gian
của hệ mặt trời. Khi ñĩa tròn vật chất rời khỏi mặt trời thì ở chỗ ranh giới của
chúng phát sinh hiện tượng cơ học từ lưu (chảy từ cơ học) ñưa ñến chỗ từ dẫn
ñến mômen và mặt trời chuyển mômen ñộng lượng sang cho ñĩa tròn. Nhờ
mômen ñộng lượng tăng lên mà ñĩa tròn mở rộng ra ngoài. Mặt trời thu nhỏ lại,
nhưng vì mất ñi mômen ñộng lượng tăng lên mà ñĩa tròn mở rộng ra ngoài. Mặt
trời thu nhỏ lại, nhưng vì mất ñi mômen ñộng lượng tăng lên mà ñĩa tròn mở rộng
ra ngoài. Mặt trời thu nhỏ lại, nhưng vì ñi mất mômen ñộng lượng nên tốc ñộ
quay chậm lại. Mặt trời bức xạ gió mặt trời thổi bay xa các vật chất nhẹ hình
thành các hành tinh thuộc nhóm sao Mộc, các vật chất nặng ở lại hình thành các
hành tinh thuộc nhóm Trái ñất.
=
a
ba
d

Tại Hội nghị trắc ñịa thế giới lần thứ XVI (IUGG) ở Grenoble, 1975, người
ta ñã thống nhất xác ñịnh a = 6.378,140km ± 5m; b = 6356.779km và d =
1/298.275.
Ngày nay qua ño ñạc người ta xác ñịnh ñược Trái ñất có hình elipxoit 3
trục. Mặt phẳng xích ñạo có 2 bán kính a1 và a2. Do ñó sẽ có 2 ñộ dẹt: ñộ dẹt
xích ñạo
,375.110/1
21
=

=
a
aa
d
e
ñộ dẹt chung
9,279
1
1
1
=

=
a
ba

phẳng kinh tuyến) cũng không bằng nhau. Bán kích Bắc dài hơn bán kính Nam là
242 mét. Dưới ñây là bảng các thông số về kích thước của Trái ñất (theo IUGG,
1975).

Bán kính xích ñạo (a): 6378, 140 km Chu vi xích ñạo : 40075, 24 km
Bán kính ở cực (b): 6356,77km Chu vi kinh tuyến 40008,08 km
Bán kính bình quân (a
2
b)
1/3
: 6371, 01
km
Diện tích trên mặt: 5, 1007 x 10km
ðộ dẹt
275,298/1=

=
a
ba
d

thể tích (V): 1,0832 x 10
12
km
2
Trọng khối (M):95,942+0,0006)x10
24
kg

3. Hình thái b mt Trái ñt

Pêru - Chilê sâu trên 8000mét, chênh lệch ñộ cao giữa hai nới là 14 700 mét. Bờ
Tây Thái Bình Dương hình thành một loạt cung ñảo nhô về phía biển nằm cạnh
các máng nước sâu cũng là ñới chênh lệch ñộ cao rất lớn.
Hai ñai núi nêu trên cũng là nơi có hoạt ñộng núi lửa (chiếm 75% của thế
giới) và ñộng ñất mãnh liệt, (80% tâm ñộng ñất nóng của thế giới). Chúng có thời
gian hình thành trẻ.
Ngoài ra còn một số núi hình thành sớm hơn, bị bóc mòn nhiều nên chênh
lệch ñộ cao không lớn (từ 500 - 2000m), ví dụ dãy núi Iran (Liên Xô), Hoàng Liên
Sơn, Trường Sơn (Việt Nam).
Dựa vào chiều cao người ta chia ñịa hình núi ra các loại núi thấp có ñộ cao
trên mực nước biển từ 500 - 1000 mét, núi trung bình từ 1000 - 3500 mét, núi
cao từ 3500 - 5000 mét và núi rất cao trên 500 mét. ðịa hình cao dưới 500 mét
so với mặt biển hoặc chênh lệch ñộ cao tương ñối nhỏ hơn 200 mét gọi là ñồi.
ðịa hình tương ñối bằng phẳng, ít lồi lõm, có diện tích rộng gọi là bình nguyên
hay ñồng bằng ví dụ ñồng bằng Amazôn, ñồng bằng Nga, ñồng bằng Xibêri,
ñồng bằng Hoa Bắc ở Việt Nam có ñồng bằng Cửu Long và ñồng sông Hồng.
Những nơi có ñịa hình lồi lõm, diện tích rộng ở trên cao hơn 600 mét so với mặt
biển gọi là cao nguyên cao trên 750 mét. Ở Việt Nam có cao nguyên Trung Bộ
(hay Tây Nguyên). Ngoài ra còn có ñịa hình trồn trũng (basin), ñó là ñịa hình
dạng trũng chậu, ở giữa thấp xung quanh cao. Thí dụ bồn trũng ðiện Biên, bồn
trũng Than Uyên, bồn trũng Nà Dương ở Việt Nam. ðịa hình riptơ là vùng ñất
trũng thấp theo dạng tuyến do ñứt gãy cấu tạo ra, qui mô lớn có thể dài hàng
nghìn km, rộng 30 - 50 km. Ví dụ ríptơ ðông Phi dài 6500km, hai cánh nâng cao
từ vài trăm ñến vài nghìn mét. ở ñây thường có hàng laọt dãy hồ, nơi hoạt ñộng
Bài Giảng ñịa chất ñại cương Tiến sĩ: Nguyễn Văn Canh

Convert to pdf by Phúc Tùng
ðại học Khoa Học Huế

núi lửa, ñộng ñất. Các riptơ sông Ranh, Bai - cần có quy mô nhỏ hơn. Ngoài các

vùng nước sâu 2000 - 5000 mét, bề rộng khoảng 1000 km. Châu lục ñịa do các
vật liệu vụn của dòng biển hoặc trượt lở tạo thành. Châu lục ñịa không có ở Thái
Bình Dưiwng, chỉ thấy ở ðại Tây Dương và ân ðộ Dương.
Bài Giảng ñịa chất ñại cương Tiến sĩ: Nguyễn Văn Canh

Convert to pdf by Phúc Tùng
ðại học Khoa Học Huế

- Máng nước sâu (trench) và cung ñảo (island arc):
Máng nước sâu là những vực thẳm dạng tuyến dài ñến trên 1000km, rộng
100km, sâu trên 6000 mét. Thế giới có gần 30 máng nước sâu như thế, ña số ở
Thái Bình Dương và ðại Tây Dương, ở Ấn ñộ Dương ít hơn. ở Tây Thái Bình
Dương máng nước sâu thường ñi kèm với cung ñảo, còn ở ÐÖng Thái Bình
Dương máng nước sâu lại phân bố gần dãy núi hình cung ở lục ñịa. Gần máng
nước sâu là nơi có hoạt ñộng núi lửa và hoạt ñộng ñộng ñất mạnh mẽ. Chênh
lệch ñộ cao giữa máng nước sâu và ñịa hình dâng cao bên cạnh khá lớn. Ví dụ
hố Mariana ở máng nước sâu ÐÖng Philippin và quần ñảo Philippin có ñộ cao
chênh lệch là 11515 mét (hố Mariana sâu - 11033m, quần ñảo Philippin) cao +
478 mét).
Rìa lục ñịa nói chung chia hai loại lớn: loại rìa lục ñịa kiểu ðại Tây Dương
gồm có thềm lục ñịa, sườn lục ñịa, chân lục ñịa và loại rìa lục ñịa kiểu Thái Bình
Dương gồm thềm lục ñịa, thềm lục ñịa và máng nước sâu.
+ Bồn ðại dương (Ocenic basin): Là ñới bằng phẳng nằm giữa rìa lục ñịa
và dãy sống núi giữa ðại dương ở ñộ sâu 4000 - 6000 mét. Người ta phân ñịa
hình bồn ñại dương ra ñồi biển thẳm và ñồng bằng biển thẳm.
- ðồi biển thẳm (abysal hill) có ñịa hình nhô cao hơn ñáy biển ñộ 75 - 900
mét.
- ðồng bằng biển thẳm (abyssal plain) có ñộ dốc rất nhỏ (không quá
1/1000) ñược phủ các trầm tích mang từ lục ñịa ñến. Trong ñồng bằng biển
thẳm phân bố các núi ở biển (hải sơn) ñường kính ñến 100kilômet, ñộ cao ñếb 1


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status