KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NĂM 2014 VỀ CÁC
PHƯƠNG PHÁP BẢO TOÀN ÁP DỤNG GIẢI
NHANH CÁC BÀI TOÁN HÓA HỌC
MỤC LỤC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NĂM 2014 VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP BẢO
TOÀN ÁP DỤNG GIẢI NHANH CÁC BÀI TOÁN HÓA HỌC 1
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Bài tập về sắt là một trong những bài tập hay, phổ biến trong các đề kiểm tra.
Đặc biệt trong các kì thi tốt nghiệp và đại học từ trước đến nay, hình thức thi tự luận
cũng như trắc nghiệm, bài tập về sắt chiếm một tỉ lệ khá cao (khoảng 20 – 30%
trong các đề thi tự luận và 10% trong các đề thi trắc nghiệm).
Hiện nay, với việc chuyển đổi hình thức thi từ tự luận sang trắc nghiệm
khách quan, thời gian làm bài mỗi câu trắc nghiệm khách quan chưa tới hai phút.
Việc giải các bài toán hoá học dạng trắc nghiệm theo phương pháp tự luận không
còn thích hợp nữa vì nó tốn quá nhiều thời gian cho việc viết và cân bằng phương
trình hoá học.
Để làm nhanh các bài toán hoá học dạng trắc nghiệm, đòi hỏi học sinh ngoài
việc nắm vững kiến thức hoá học, có một năng lực tư duy tốt, kỹ năng phản ứng
nhanh đối với các dạng bài tập trắc nghiệm khác nhau, học sinh còn phải biết vận
dụng các phương pháp giải nhanh để giải.
Một trong các phương pháp giải nhanh các bài toán hoá học là áp dụng các
định luật bảo toàn như: “ Định luật bảo toàn khối lượng, định luật bảo toàn nguyên
tố, định luật bảo toàn electron, định luật bảo toàn điện tích ” Trong quá trình áp
dụng, học sinh không khỏi mắc các sai lầm. Việc nghiên cứu, phân tích các sai lầm
để giúp học sinh không mắc phải những sai lầm đó, nhằm giúp học sinh đạt điểm
cao trong các kì thi là một việc làm rất cần thiết và bổ ích.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu áp dụng
các định luật bảo toàn vào việc giải nhanh các bài toán về kim loại sắt” để
nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp.
2. KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
học sinh khi áp dụng các định luật bảo toàn để giải nhanh các bài toán về kim loại
sắt.
6. ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu và dự đoán các sai lầm có thể gặp của học sinh khi áp dụng các
định luật bảo toàn để giải nhanh một số bài toán về kim loại sắt. Đề xuất biện pháp
để khắc phục những sai lầm đó.
4
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÀI TẬP HOÁ HỌC: [11]
1.1.1. KHÁI NIỆM VỀ BÀI TẬP HÓA HỌC:
Bài tập hóa học là những bài tập mà khi hoàn thành chúng, học sinh sẽ nắm
được một tri thức hay kỹ năng nhất định nào đó về hóa học. Bao gồm:
- Những bài tập chỉ đòi hỏi học sinh tái hiện lại kiến thức như những
câu hỏi về những định luật, quy tắc, khái niệm
- Những bài tập đòi hỏi hoạt động sáng tạo ở học sinh đó là những bài
toán hóa học.
Chính những bài toán hóa học là phương tiện cực kỳ quan trọng để phát triển
tư duy cho học sinh chứ không phải những câu hỏi. Việc hình thành và phát triễn kỹ
năng giải các bài toán hóa học cho phép thực hiện những mối liên hệ qua lại mới
giữa các tri thức thuộc cùng một trình độ của cùng một năm học và thuộc những
trình độ khác nhau của những năm học khác nhau. Đặc biệt là mối liên hệ qua lại
giữa tri thức và kỹ năng.
1.1.2. TẦM QUAN TRỌNG CỦA BÀI TẬP HÓA HỌC:
- Trong dạy học hóa học, bài tập hóa học vừa là nội dung vừa là phương
pháp dạy học tích cực, hiệu nghiệm, được áp dụng phổ biến và thường xuyên ở các
cấp học và các loại trường khác nhau. Được sử dụng ở tất cả các khâu của quá trình
dạy học như nghiên cứu tài liệu mới, củng cố, vận dụng, khái quát hóa – hệ thống
hóa và kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh.
1.1.4. BẢN CHẤT CỦA VIỆC GIẢI MỘT BÀI TOÁN HÓA HỌC:
Ta có thể biểu diễn bản chất của việc giải một bài toán hóa học theo sơ đồ
sau:
1.1.5. CÁC BƯỚC GIẢI MỘT BÀI TOÁN HÓA HỌC TỔNG HỢP:
Để giải một bài toán hoá học một cách nhanh và chính xác, đầu tiên ta cần
phân tích kĩ đề, tìm những phương pháp có thể giải được bài toán đó, rồi suy nghĩ
xem đâu là cách giải nhanh nhất, tối ưu nhất. Cụ thể các bước thường sử dụng để
giải một bài toán hoá học tổng hợp như sau:
- Bước 1: Liệt kê các dữ kiện, yêu cầu của đề bài.
- Bước 2: Đặt ẩn số: thường là số mol, công thức chung.
- Bước 3: Viết tất cả các phương trình phản ứng hoá học xảy ra (nhớ cân
bằng phương trình phản ứng).
- Bước 4: Dựa vào các dữ kiện đề bài cho và các dữ kiện biện luận theo
phương trình phản ứng để thiết lập mối liên hệ giữa dữ kiện đề bài với yêu cầu đề
bài, lập các phương trình đại số.
- Bước 5: Sử dụng các thủ thuật tính toán như phương pháp trung bình,
phương pháp ghép ẩn , áp dụng các định luật cơ bản của hoá học như định luật
bảo toàn khối lượng, bảo toàn electron để giải quyết vấn đề.
- Bước 6: Kiểm tra lại và kết luận.
* Các công thức thường sử dụng khi giải bài toán hoá học:
M
m
n =
;
4,22
V
n =
( đktc) ;
%100% x
2s
2
2p
6
3s
2
3p
6
3d
6
4s
2
- Phân bố các e lớp ngoài cùng vào các obitan:
3d
6
4 s
2
→ nguyên tử Fe có thể nhường 2e
pl4s
hoặc 3e (2e
pl4s
+ 1e
pl3d
) để tạo ra các ion
Fe
2+
hoặc Fe
3+
.
3+
1.2.3.1. Tác dụng với phi kim:
Fe + S FeS
2Fe + 3Cl
2
2FeCl
3
1.2.3.2. Tác dụng với axit:
- Với dd HCl và H
2
SO
4
loãng: tạo muối Fe
2+
+ H
2
↑
Fe + 2HCl → FeCl
2
+ H
2
Fe + H
2
SO
4
→
FeSO
4
(SO
4
)
3
+ SO
2
+ H
2
O
HNO
3
loãng
Fe(NO
3
)
3
+ NH
4
NO
3
hoặc N
2
hoặc N
2
O hoặc NO
đặc, t
o
+NO
2
* Lưu ý: Fe + ( HNO
4
+ H
2
Fe + H
2
O
FeO + H
2
1.2.4. TRẠNG THÁI TỰ NHIÊN:
- Fe là kim loại phổ biến nhất trong vỏ quả đất sau Al
- Trong tự nhiên, Fe tồn tại chủ yếu ở dạng hợp chất. Ở trạng thái tự do chỉ
có trong các thiên thạch.
- Một số quặng sắt quan trọng như: quặng hematit đỏ (chứa Fe
2
O
3
khan),
quặng hematit nâu (chứa Fe
2
O
3
. nH
2
O), quặng manhetit (chứa Fe
3
O
4
), quặng xiđerit
4
( đặc, t
o
), Cl
2
, dd KMnO
4
/H
2
SO
4
tạo hợp chất Fe(III).
Ví dụ: 3FeO + 10HNO
3
→ 3Fe(NO
3
)
3
+ 5H
2
O + NO↑
+ Thể hiện tính oxi hoá khi tác dụng với chất khử như: H
2
, CO, Al
Ví dụ: FeO + Al
→ Fe + Al
2
O
3
+ CO 2FeO + CO
2
Fe(OH)
2
FeO + H
2
O
- Fe(OH)
2
: Fe
2+
+ 2OH
-
→ Fe(OH)
2
↓ (trắng xanh)
- Muối Fe
2+
: hợp chất Fe(II) (như FeO, ) + ddHCl hoặc H
2
SO
4
loãng
- Ví dụ: điều chế muối FeCl
2
: FeO + 2HCl → FeCl
2
+ H
2
O
2
O
3
+ Al
→ Fe + Al
2
O
3
- Oxit và hidroxit sắt (III) có tính bazơ:
Tác dụng với axít tạo muối Fe(III)
Fe
2
O
3
+ 3H
2
SO
4
→ Fe
2
(SO
4
)
3
+ 3H
2
O
Fe(OH)
3
3
: Fe
3+
+ 3OH
-
→ Fe(OH)
3
↓ (nâu đỏ)
- Muối Fe
3+
: có thể cho Fe + ( Cl
2
hoặc HNO
3
, H
2
SO
4
đặc, t
o
) hoặc hợp chất
Fe(III) + axít.
Ví dụ: Fe + 4HNO
3
→ Fe(NO
3
)
3
+ NO↑ + 2H
2
O
3
: dùng để pha chế sơn chống gỉ
1.2.5.3. HỢP KIM CỦA SẮT:
t
o
C
12
Trong thực tế phần lớn Fe được sử dụng không phải ở dạng nguyên chất
mà dưới dạng hợp kim của sắt là gang và thép:
Thành phần Phân loại
Gang Fe>85% C Gang trắng Gang xám
Thành
phần
ít C,Si,
nhiều Fe
3
C
nhiều C,Si
Tính
chất
rất cứng và giòn
ít cứng, ít giòn hơn gang
trắng
Ứng
dụng
dùng để luyện
thép.
C
<0,1%
rất
cứng
rất cứng
dù ở t
o
rất
cao
rất
bền,
chịu
được
va đập
mạnh
Ứng
dụng
thường dùng trong
xây nhà cửa, chế
tạo các vật dụng
trong đời sống.
dùng
để chế
tạo
dụng
cụ y
tế
dùng dể
chế tạo
lưỡi dao
3
và cát) vào lò cao qua
miệng lò. Thổi liên tục không khí đã được nung nóng đến 600-800
0
C từ dưới lên
qua các phễu lò vào lò cao. Tương tác giữa không khí và C nóng đỏ tạo CO. CO
13
khử các oxít sắt đến sắt kim loại theo sơ đồ: Fe
2
O
3
→ Fe
3
O
4
→ FeO → Fe. Fe
nóng chảy tạo ra di chuyển xuống bụng lò, một phần tác dụng với than cốc và CO
tạo Fe
3
C (xementit). Cùng với quá trình khử oxit sắt là quá trình khử các tạp chất
( SiO
2
, MnO, P
2
O
5
) nhờ C tạo Si, P, Mn. Hỗn hợp C, Fe
3
C, Si, P, Mn, tan vào
Fe nóng chảy tạo thành gang. Và quá trình tạo xỉ CaSiO
)
2
) nổi trên bề mặt thép lỏng.
Có 3 phương pháp dùng trong quá trình luyện thép:
- Phương pháp Bet-xơ-me: Thời gian luyện thép ngắn, chủ yếu dùng để
luyện thép thường.
- Phương pháp Mac-tanh: Chủ yếu dùng để luyện thép có chất lượng cao.
- Phương pháp lò điện: Dùng để luyện thép đặc biệt mà thành phần có những
kim loại khó nóng chảy như W, Mo, Cr, S, P.
14
Chương 2
ÁP DỤNG CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN VÀO VIỆC
GIẢI NHANH BÀI TOÁN VỀ KIM LOẠI SẮT
2.1. NHỮNG ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN CÓ THỂ ÁP DỤNG ĐỂ GIẢI
NHANH BÀI TOÁN HOÁ HỌC: [3], [6], [12]
2.1.1. ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN KHỐI LƯỢNG:
2.1.1.1 Nội dung của định luật:
2.1.1.2. Kinh nghiệm áp dụng định luật:
- Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng khi một phản ứng hoá học có n chất
mà ta biết được khối lượng của (n - 1) chất (kể cả chất phản ứng và sản phẩm).
- Khi áp dụng định luật bảo toàn khối lượng cho một phản ứng thì phản ứng
đó không cần cân bằng mà chỉ cần quan tâm chất tham gia phản ứng và sản phẩm
thu được.
2.1.1.3. Công thức của định luật:
Xét phản ứng: A + B → C + D (1)
Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng cho pứ (1) có:
Trong đó: m
A
, m
2
SO
4
, thu được dung dịch X và 0,672 lít SO
2
(đktc) duy nhất
thoát ra. Cô cạn dung dịch X thu được 9 gam muối khan. Tính m
Giải
Fe
x
O
y
+ H
2
SO
4
→ Fe
2
(SO
4
)
3
+ SO
2
+ H
2
O (1)
Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng cho phản ứng (1) ta được:
m
FexOy
2.1.2.2. Kinh nghiệm áp dụng định luật:
- Áp dụng định luật bảo toàn nguyên tố khi gặp các bài toán không thể áp
dụng được định luật bảo toàn khối lượng hoặc viết phương trình phản ứng nhưng lại
không thấy hướng giải.
- Các bài toán dùng phương pháp bảo toàn nguyên tố thì thường giữa chất đề
bài cho và hỏi có cùng một nguyên tố nào đó.
- Khi giải một bài toán dùng phương pháp bảo toàn nguyên tố thì không cần
viết các phương trình phản ứng để tìm quan hệ giữa số mol mà chỉ cần xét trạng thái
đầu và cuối đối với nguyên tố đó.
Tổng số mol nguyên tử của một nguyên tố trước phản ứng bằng tổng số
mol nguyên tử của nguyên tố đó sau phản ứng.
16
2.1.2.3. Công thức của định luật:
Trước phản ứng nguyên tố X có trong các chất A,B
Sau phản ứng nguyên tố X có trong các chất C, D
Áp dụng định luật bảo toàn nguyên tố cho nguyên tố X có:
n
A
.số ntử X trong A + n
B
.số ntử X trong B =n
C
.số ntử X trong C +n
D
.số ntử X trongD
* Ví dụ: Cho hỗn hợp A
bmolOFe
/B
→ a.1+b.2 = x.2 + y.1 + z.3 +t.1
2.1.3. ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN ELECTRON:
2.1.3.1. Nội dung của định luật:
Khi có nhiều chất oxi hoá và chất khử trong một hỗn hợp phản ứng (nhiều
phản ứng hoặc phản ứng qua nhiều giai đoạn) thì tổng số electron mà các chất khử
cho phải bằng tổng số electron mà các chất oxi hoá nhận.
→
2.1.3.2. Kinh nghiệm áp dụng định luật:
- Áp dụng định luật bảo toàn electron khi gặp các bài toán mà những phản
ứng xảy ra là phản ứng oxi hoá khử (phức tạp, nhiều giai đoạn, nhiều quá trình)
- Khi giải bài toán dùng phương pháp bảo toàn electron không cần viết
phương trình phản ứng mà chỉ cần tìm xem trong quá trình phản ứng có bao nhiêu
mol e do chất khử cho và bao nhiêu mol e do chất oxi hoá nhận. Muốn vậy ta cần
xác định đúng trạng thái đầu và trạng thái cuối (bỏ qua các giai đoạn trung gian).
Tổng số mol electron mà các chất khử cho bằng tổng số mol electron mà các
chất oxi hoá nhận
17
2.1.3.3. Công thức của định luật:
Giả sử bài toán hoá học có: chất khử là A có số mol : n
A
chất oxi hoá là B có số mol : n
B
Áp dụng định luật bảo toàn electron cho 2 quá trình oxi hoá và khử của 2
chất A,B có:
* Ví dụ: Tính thể tích dd FeSO
4
0,5M cần thiết để phản ứng vừa đủ với 100
∑số e nhường x n
A
= ∑số e nhận x n
B
Tổng số mol các điện tích dương của ion dương bằng tổng số mol các điện
tích âm của ion âm
18
- Hoặc những bài toán yêu cầu tính khối lượng chất rắn sau khi cô cạn
một dung dịch khi biết số mol các chất hoặc ion trong dung dịch.
- Các bài toán pha chế dung dịch, xử lý nước cứng.
2.1.4.3. Công thức của định luật:
* Ví dụ: Giả sử trong một dung dịch tồn tại các ion: A
n+
có số mol là x,
B
m+
có số mol là y, C
p-
có số mol là z, D
q-
có số mol là t
Áp dụng định luật bảo toàn điện tích có:
2.2. MỘT SỐ DẠNG TOÁN THƯỜNG GẶP VỀ KIM LOẠI SẮT CÓ
THỂ ÁP DỤNG CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN ĐỂ GIẢI NHANH [ 1],
[3], [4], [7],[8], [10], [11].
2.2.1. DẠNG TOÁN SẮT TÁC DỤNG VỚI AXIT (HCl, H
2
SO
3+
+ sản phẩm khử chứ N hoặc S + H
2
O
Nếu axit (HNO
3
/ H
2
SO
4
đặc) dư thì sau phản ứng chỉ thu được muối
sắt (III).
Nếu sau phản ứng vẫn còn kim loại chứng tỏ Fe dư (hoặc đề cho Fe
dư sau phản ứng) thì sản phẩm cuối cùng sau phản ứng chỉ có muối sắt (II) vì:
Fe + 2Fe
3+
3Fe
2+
.
Nếu Fe và axit cùng hết có thể muối tạo thành sau phản ứng là hỗn
hợp 2 muối sắt (II) và sắt (III).
- m
muối tạo thành
= m
Fe
+ m
gốc axit tạo muối
Đối với phản ứng Fe + HNO
3
ta có:
−
tạo muối
= số mol electron nhường hoặc số mol electron nhận).
∑ n
ion dương
x điện tích ion dương = ∑ n
ion âm
x điện tích ion âm
x. n + y. m = z. p + t. q
19
2.2.1.2. Bài tập vận dụng
Ví dụ 1: Cho Fe phản ứng với 0,04 mol dung dịch HNO
3
loãng, sau phản
ứng thu được dung dịch A, khí NO và chất rắn B. Khối lượng muối thu được trong
dung dịch X là:
A. 9,68g B. 2,42g C. 10,8g D. 2,7g
Giải:
Cách 1: Theo phương pháp bảo toàn e và bảo toàn nguyên tố
Tóm tắt quá trình pứ: Fe Fe
3+
Fe
2+
Áp dụng ĐLBT nguyên tố N: 1. n
HNO
3
pứ
= 3. n
Fe(NO
3
3
)
3
+ NO + 2H
2
O (1)
0,04 0,01
Fe
dư
+ 2Fe(NO
3
)
3
→ 3Fe(NO
3
)
2
(2)
0,01 0,015
→ m
Fe(NO
3
)
2
= 0,015. 180 = 2,7g
* Phân tích một sai lầm của học sinh:
+ Sai lầm 1: Cho muối thu được trong dung dịch X là muối sắt(III) nên xác
định số mol e do Fe cho sai: Fe → Fe
3+
+2
+5 +2
20
+ Sai lầm 2: xác định đúng muối tạo thành là muối sắt (II) nhưng xác định
số mol HNO
3
oxi hoá sai nên xác định số mol e nhận sai như sai lầm 1:
Fe → Fe
2+
+ 2e N + 3e → N
x 2x 0,04 0,12
Áp dụng ĐLBT e: 2x = 0,12 → x = 0,06 mol
→ m
Fe(NO
3
)
2
= 0,06. 180 = 10,8g → chọn C (sai)
Ví dụ 2: Cho m gam Fe tác dụng với dung dịch H
2
SO
4
loãng thu được
6,72 lít khí (ở đktc). Cũng m gam Fe trên cho tác dụng với dung dịch HNO
3
loãng
thì thể tích khí NO (ở đktc) duy nhất sinh ra là:
A. 224 ml B. 448 ml C. 672 ml D. 336 ml
Giải:
+ NO + 15H
2
O
0,03 0,03
→ V = 672 ml
* Phân tích một số sai lầm của học sinh:
+ Sai lầm 1: Cho Fe tác dụng với HNO
3
cũng tạo ra muối sắt (II) như Fe
tác dụng với H
2
SO
4
loãng nên xác định số mol e cho sai:
Fe → Fe
2+
+ 2e N + 3e → N ( NO)
0,03 0,06 3x x
Áp dụng ĐLBT e có: 3x =0,06→ x = 0,02 mol
→ V
NO
= 0,448 lít→ chọn B(sai)
+5 +2
+5 +2
+5 +2
21
+ Sai lầm 2: Cho Fe tác dụng với H
2
SO
4
Fe(OH)
2
) khi tác dụng với axit HNO
3
và H
2
SO
4
đặc, nóng đều tạo thành muối sắt
(III) và kèm theo các sản phẩm khử chứa nitơ (hoặc chứa lưu huỳnh).
- Hỗn hợp (Fe + oxit sắt) khi tác dụng với axit (HCl và H
2
SO
4
loãng), sau
phản ứng thu được khí H
2
, khí H
2
sinh ra là do Fe tác dụng với axit, khi đó:
n
Fe
= n
H
2
- Các oxit sắt (FeO, Fe
2
O
3
, Fe
Ví dụ 1: Cho 18,5g hỗn hợp Z gồm Fe, Fe
3
O
4
tác dụng với 200 ml dung
dịch HNO
3
loãng đun nóng và khuấy đều. Sau khi phản ứng xảy ra hoàn toàn thu
được 2,24 lít khí NO duy nhất, dung dịch Z
1
và còn lại 1,46g kim loại. Nồng độ
mol/l của dung dịch HNO
3
là:
A. 4,15M B. 3,17M C. 0,32 D. 3,2M
Giải:
Cách 1: Theo phương pháp bảo toàn e và bảo toàn nguyên tố
Fe → Fe
3+
+ 3e
x x 3x N + 3e → N
0,3 0,1
3Fe (Fe
3
O
4
) → 3Fe
3+
+ 1e
y → 3y y
3
+ n
NO
→ n
HNO
3
= 3. (x + 3y) + 0,1 = 0,64
mol
→ C
M
3
HNO
= 3,2M → Đáp án: D
Cách 2: Theo phương pháp biện luận
Fe + 4HNO
3
→ Fe(NO
3
)
3
+ NO + 2H
2
O
x 4x x x
3Fe
3
O
4
3yx +
→
=+
=+
04,1731684
1,0
3
yx
y
x
→
=
=
03,0
09,0
y
x
→ n
HNO
3
= 4x +
3
e cho
= n
chất khử cho
. số e cho
Nên 1 ptử Fe
3
O
4
có số mol là y cho 1e → n
e cho
= y.1 = y, không phải
3
y
Fe
3
O
4
→ Fe(NO
3
)
3
Áp dụng ĐLBT nguyên tố Fe: 3. n
Fe
3
O
4
= 1. n
Fe(NO
3
đặc nóng
dư, sau phản ứng thu được 1,12 lít khí N
2
O ( sản phẩm khử duy nhất, ở đktc). Cô
cạn dung dịch sau phản ứng được 145,2g muối khan. Giá trị của m là:
A. 44,8g B. 42,8g C. 46,4g D. 56g
Giải
Fe
3
O
4
= FeO.Fe
2
O
3
nên có thể xem hỗn hợp gồm FeO và Fe
2
O
3
Cách 1: Theo phương pháp bảo toàn e và bảo toàn nguyên tố
Fe
2+
(FeO) → Fe
3+
+1e 2N + 8e → 2N(N
2
O)
+8/3
3
= 1. 0,6
→ n
Fe
2
O
3
= 0,1 mol
m = m
FeO
+ m
Fe
2
O
3
= 0,4. 72 + 0,1. 160 = 44,8g → Đáp án: C
Cách 2: Theo phương pháp biện luận
8FeO + 26HNO
3
→ 8Fe(NO
3
)
3
+ N
2
O + 13H
2
O (1)
x x
)
3
= x + 2y = 0,6 mol → y = 0,1 mol
→ m = m
FeO
+ m
Fe
2
O
3
= 0,4. 72 + 0,1. 160 = 44,8g
* Phân tích một số sai lầm của học sinh:
+ Sai lầm 1: n
N
2
O
= 0,05 mol nhưng khi đưa vào bán phản ứng:
2N + 8e → 2N(N
2
O)
2
05,0.8
0,05
Dẫn đến số mol e nhận là: 0,2 mol → n
FeO
= n
Fe