đặc điểm phát triển địa hình trong mối liên quan với địa động lực hiện đại đới đứt gãy sông hồng - Pdf 22



ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN ĐỊA HÌNH
TRONG MỐI LIÊN QUAN VỚI ĐỊA ĐỘNG LỰC HIỆN ĐẠI
ĐỚI ĐỨT GÃY SÔNG HỒNG LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA CHẤT HÀ NỘI - 2011
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN ĐỊA CHẤT
NGÔ VĂN LIÊM

bất cứ công trình nào khác.

Tác giả luận án Ngô Văn Liêm

LỜI CẢM ƠN

Luận án được hoàn thành tại Phòng Địa động lực - Viên Địa chất, dưới
sự hướng dẫn của PGS.TS. Phan Trọng Trịnh và TS. Vy Quốc Hải. NCS xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc sự hướng dẫn sát sao và tận tình của các thầy trong
suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án. Ngoài ra, NCS còn nhận
được sự quan tâm giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi của Lãnh đạo Viện
Địa chất, của Phòng Địa
động lực; sự góp ý, trao đổi của các nhà khoa học
trong và ngoài Viện Địa chất; sự động viên, khích lệ của bạn bè và người
thân; sự hỗ trợ của đề tài Cơ bản, mã số 105.06.36.09. NCS trân trọng cảm ơn
những sự giúp đỡ quý báu này.

Hà Nội, tháng 6 năm 2011
NCS. Ngô Văn Liêm

MỤC LỤC
Trang
CÁC THUẬT NGỮ, KÍ HIỆU VIẾT TẮT
iv
DANH MỤC HÌNH
v
DANH MỤC BẢNG

1.2. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
8
1.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
11
1.3. CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU MỐI
TƯƠNG QUAN GIỮA SỰ PHÁT TRIỂN ĐỊA HÌNH VÀ ĐỊA ĐỘNG
LỰ
C HIỆN ĐẠI
18
1.4. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
1.4.1. Các phương pháp địa chất, địa mạo truyền thống
21
1.4.2. Phương pháp viễn thám và GIS
25
1.4.3. Nhóm phương pháp trắc địa
26
1.4.4. Các phương pháp phân tích cổ động đất
27

i
1.4.5. Các phương pháp đánh giá địa chấn kiến tạo và gia tốc rung
động
27
1.4.6. Các phương pháp mô phỏng, mô hình
31
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA MẠO ĐỚI ĐỨT GÃY SÔNG HỒNG
32
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊA HÌNH VÀ CÁC NHÂN TỐ THÀNH
TẠO

2.4.4. Địa hình do dòng chảy
65
2.5. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐỊA HÌNH 69
2.5.1. Khái quát sự phát triển kiến tạo và địa hình trước Pliocen
69
2.5.2. Lịch sử phát triển địa hình khu vực và vùng lân cận từ Pliocen
tới nay
72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 75
CHƯƠNG 3: KIẾN TẠO TRẺ VÀ ĐỊA ĐỘNG LỰC HIỆ
N ĐẠI ĐỚI
ĐỨT GÃY SÔNG HỒNG
76
3.1. ĐẶC ĐIỂM KIẾN TẠO TRẺ 76

ii
3.1.1. Các dấu hiệu hoạt động trẻ từ Pliocen –Hiện đại
76
3.1.2. Biên độ và tốc độ chuyển dịch thẳng đứng từ Pliocen tới nay
79
3.1.3. Đặc điểm chuyển dịch trượt bằng trẻ
82
3.2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA ĐỘNG LỰC HIỆN ĐẠI 96
3.2.1. Đặc điểm hoạt động địa chấn
96
3.2.2. Chuyển động kiến tạo hiệ
n đại dọc đới ĐGSH
102
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 115
CHƯƠNG 4: MỐI LIÊN QUAN GIỮA ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

147
PHỤ LỤC
157
Phụ lục 3.1: Kết quả tính tính toán chuyển dịch tuyệt đối dạng đầy đủ từ
hai chu kỳ đo GPS năm 2000 và 2010 bằng phần mềm Bernese 5.0
157
Phụ lục 3.2: Kết quả tính tính toán chuyển dịch tương đối khu vực đới
ĐGSH với sự cố định của điểm NAM0 bằng phần mềm Bernese 5.0
159
Phụ lục 4.1 : B
ảng kết quả tính gia tốc rung động gây ra do đứt gãy SC2
160 iii
CÁC THUẬT NGỮ, KÍ HIỆU VIẾT TẮT
BMSB Bề mặt san bằng
CCN Chia cắt ngang
CCS Chia cắt sâu
DEM Digital Elevation Model (Mô hình số độ cao)
DNCV Dãy núi Con Voi
ĐGSH Đứt gãy Sông Hồng
ĐGSC Đứt gãy Sông Chảy
ĐB Đông bắc
GEODYSSEA Geodynamics of South and South-East Asia (Địa động
lực Nam và Đông Nam Á)
GIS Geographic Informations System (Hệ thông tin địa lý)
GPS Global Positioning System (Hệ định vị toàn cầu)

Hình 2.4:
Sơ đồ chia cắt sâu đới ĐGSH khu vực Lào Cai-Việt Trì và vùng lân c
ận
Hình 2.5:
Sơ đồ chia cắt ngang đới ĐGSH khu vực Lào Cai-Việt Trì và vùng lân
cận
Hình 2.6:
Sơ đồ độ dốc đới ĐGSH khu vực Lào Cai-Việt Trì và vùng lân cận
Hình 2.7:
Sơ đồ kiến trúc hình thái đới ĐGSH khu vực Lào Cai-Việt Trì và vùng
lân cận
Hình 2.8:
Sơ đồ địa mạo trũng Lào Cai và vùng lân cận
Hình 2.9:
Sơ đồ địa mạo khu vực trũng Bảo Hà và vùng lân cận
Hình 2.10:
Sơ đồ địa mạ
o khu vực trũng Yên Bái và vùng lân cận
Hình 2.11:
Sơ đồ địa mạo khu vực trũng Bảo Yên và vùng lân cận
Hình 2.12:
(a) Sơ đồ địa mạo đới ĐGSH khu vực Lào Cai đến Phú Thọ và vùng lân
cận; (b) Chú giải tương ứng
Hình 2.13:
Các dạng địa hình thềm khu vực xã Báo Đáp
Hình 3.1:
Sơ đồ phân bố đứt gãy trẻ khu vực từ Việt Trì đến Lào Cai.
Hình 3.2:
Đoạn đứt gãy trẻ - Sông Hồng 2 (Ảnh vệ tinh Landsat TM
được chồng

Sơ đồ phân bố chấn tâm động đất miền Bắc Việt Nam và lân cận
Hình 3.12:
Sơ đồ véc tơ tốc độ chuyển dịch tuyệt đối trong khung tham chiếu toàn
cầu IGS_05 của các điểm đo dọc đới ĐGSH, theo kết quả đo lặp ~10 nă
m

của hai chu kỳ đo 2000 và 2010
Hình 3.13:
Sơ đồ đối sánh các véc tơ chuyển dịch tuyệt đối của luận án với kết qu


của đề tài trọng điểm cấp nhà nước mã số KC.09.11/06-10 [146] và nhiệm
vụ bổ sung mã số KC.09.11BS/06-10 [142]
Hình 3.14:
Sơ đồ chi tiết đối sánh véc tơ tốc độ chuyển dịch tuyệt đối của luận án với
kết quả trong đề tài trọng điểm cấp nhà nước mã số KC.09.11/06-10 [146]
và KC.09.11BS/06-10 [142]
Hình 3.15:
Sơ đồ tốc độ chuyển dịch tương đối của các điểm
đo dọc đới ĐGSH với
phương án cố định của điểm NAM0, theo kết quả đo lặp ~10 năm của hai
chu kỳ đo 2000 và 2010
Hình 4.1:
Mạng lưới sông tỏa tia thể hiện khối nâng địa phương (DNCV)
Hình 4.2:
Bản đồ địa hình (1:50.000) được chồng trên mô hình số độ cao thể hiện
“thung lũng xuyên thủng” cắt qua bậc địa hình cao 150m, được cấu tạo
bởi các đá trầ
m tích Neogen dưới các góc nhìn khác nhau ( A-Nhìn t


Yên, Yên Bái. Vị trí xem trên Hình 4.9b.
Hình 4.8a:
Địa hình hiện tại khu vực thôn Tân Xuân, xã Yên Hợp, Văn Yên, Yên Bái
(Đứt gãy cắt qua ranh giới giữa thềm bậc III và bậc II và làm biến vị đị
a

hình thềm III, ~142m). Vị trí xem trên Hình 4.9a.

vi
Hình 4.8b:
Địa hình cổ được khôi phục lại bằng phép dịch chuyển địa hình ngược
chiều chuyển dịch của đứt gãy khu vực thôn Yên Viễn, xã Xuân Ai, Văn
Yên, Yên Bái. Vị trí xem trên Hình 4.9b.
Hình 4.9a:
Sự bất chỉnh hợp của địa hình thềm bậc III và thềm II ở hiện tại, khu vực
xã Yên Hợp và Xuân Ai, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Hình 4.9b:
Khôi phục lại địa hình cổ trước giai đoạn Pleistocen giữa bị đứt gãy là
m

chuyển dịch bằng phải một đoạn ~142m, khu vực xã Yên Hợp và Xuân
Ai, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Hình 4.9c:
Đường địa hình cổ (giai đoạn trước Pleistocen giữa) và địa hình hiện tại
khu vực xã Yên Hợp và Xuân Ai, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Hình 4.10:
Biến vị của các suối nhánh, nơi có đứt gãy Pliocen-Hiện đại cắt qua
(khu vực Mậu Đông-Mậu A)
Hình 4.11:
Biến vị của các suối nhánh và trầm tích trvii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1:
Kết quả tính tính toán chuyển dịch tuyệt đối dạng rút gọn từ hai chu kỳ đo
năm 2000 và 2010
Bảng 3.2:
Kết quả tính tính toán chuyển dịch tuyệt đối chu kỳ đo năm 2000 và 2010
Bảng 3.3:
Kết quả tính tính toán chuyển dịch tương đối khu vực đới ĐGSH với
phương án cố định của điểm NAM0 (chu kỳ 2000-2010)
Bảng 4.1:
Các thông số đầu vào và kết quả
tính động đất cực đại của đới Sông Hồng
(Lào Cai – Việt Trì).
Bảng 4.2:
Kết quả tính động đất cực đại có thể xảy ra ở vùng đứt gãy SH3
Bảng 4.3:
Kết quả tính động đất cực đại có thể xảy ra ở vùng đứt gãy SC 2
Bảng 4.4:
Các giá trị gia tốc tại thân đập Thác Bà do các đứt gãy hoạt động gây ra DANH MỤC ẢNH
Ảnh 2.1:
Vết xước kiến tạo (trượt bằng phải) trong lớp trầm tích Neogen (Kh
u

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận án
Đới đứt gãy Sông Hồng (ĐGSH) kéo dài hơn 1000km từ Tây Tạng tới Biển
Đông. Khu vực này đóng vai trò quan trọng trong bình đồ kiến tạo khu vực Châu Á
và được coi là ranh giới phân chia khối lục địa Nam Trung Hoa và khối Đông
Dương. Đây là khu vực được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong
và ngoài nước. Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chủ yếu tập trung về cấu trúc địa
chất và kiến tạo mà chưa quan tâm nhiều đến vai trò và ý nghĩa địa mạo của chúng.
Các nghiên cứu còn thiếu hoặc chưa quan tâm đúng mức đến việc liên kết giữa địa
mạo, địa chất, kiến tạo trẻ và địa động lực hiện đại với việc sử dụng các công cụ
mới như phân tích viễn thám, mô hình số địa hình 3 chiều; thiếu các mô hình liên
kết giữa hình học đứt gãy, chuy
ển dịch và phân bố ứng suất. Mặt khác, vẫn đang tồn
tại nhiều tranh luận sổi nổi về cơ chế chuyển dịch kiến tạo và phát triển địa hình
[42], [43], [61], [60], [122], [125], [93], [13]; về cơ chế trồi lộ hay cơ chế nâng [89],
[3, 6]; về đặc điểm địa nhiệt với phát triển địa hình [148], [6],…
Các nghiên cứu về giai đoạn từ Pliocen - Hiện đại còn nhiều điểm chưa
thống nhất và thi
ếu các minh chứng đủ sức thuyết phục về hoạt động nâng và phát
triển trượt bằng phải của địa hình. Ví như biên độ và tốc độ dịch trượt phải theo các
tài liệu địa mạo, địa chất dọc theo đứt gãy là rất khác nhau, từ ~5km đến trên 40km,
tương ứng với tốc độ trong khoảng từ ~1mm/năm đến 1cm/năm [2, 76, 99, 111,
155, 156]. Đặc biệt, về chuyển động hiện đạ
i dọc đới ĐGSH vẫn còn nhiều điểm
chưa thống nhất giữa các nghiên cứu. Có nghiên cứu đánh giá tốc độ trượt bằng
phải dọc đới ĐGSH là 8.9 ± 4.5mm/năm [92], nghiên cứu khác cho kết quả trong
khoảng 1-5mm/năm [35], có thể không vượt quá 2mm/năm [133-135] hoặc đánh
giá hoạt động không đáng kể ở hiện tại [115]. Vậy tốc độ chuyển động hiện tại thực
tế là bao nhiêu, điều này cần thiết tiếp tục bổ sung và hoàn thiện các nghiên cứu có
tính định lượng chính xác cao bằng công nghệ GPS.

3. Nhiệm vụ của luận án
- Nghiên cứu đặc điểm địa mạo đới đứt gãy Sông Hồng.
- Nghiên cứu đặc điể
m đặc điểm kiến tạo trẻ và địa động lực nội sinh từ
Pliocen tới nay.
- Phân tích mối quan hệ giữa đặc điểm địa hình hiện tại với chế độ địa động
lực từ Pliocen tới nay và tai biến động đất liên quan.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Là các dạng địa hình được hình thành hoặc bị biến
dạng bởi các quá trình
địa động lực nội sinh từ Pliocen đến nay.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu giới hạn phạm vi thời gian từ Pliocen
(N
2
) đến nay.
- Phạm vi không gian: Khu vực nghiên cứu là một phần của đới ĐGSH trong
phạm vi từ Lào Cai tới Việt Trì, kéo dài khoảng 250km và bề rộng khoảng 100km

2
với dải trung tâm là thung lũng sông Hồng, trong giới hạn kinh tuyến 103
0
13’ đến
105
0
43’ và vĩ tuyến từ 21
0
12’ đến 22
0
52’ (Hình 1.1).

7. Cơ sở tài liệu
Luận án được xây dựng trên cơ sở tài liệu của chính bản thân NCS thu thập,
thực hiện trong quá trình tham gia 9 đề tài nghiên cứu khoa học các cấp từ năm
2006 đến nay. Tiêu biểu là đề tài “Đặc điểm phát triển địa hình trong mối tương
quan với địa động lực đới ĐGSH từ Pliocen-Hiện tại” (Đề tài cấp Việ
n Địa chất,
năm 2009; NCS làm chủ nhiệm); Đề tài “Tiếp tục quan trắc và nâng cao độ chính
xác, xác định chuyển dịch đới ĐGSH bằng công nghệ GPS” (Đề tài cấp Viện Khoa
học và Công nghệ Việt Nam; thời gian thực hiện năm 2006-2007; NCS với vai trò
là người tham gia chính); Đề tài “Kiến tạo trẻ và nguy hiểm động đất Việt Nam”
(Đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản, Mã số: 105.06.36.09; thời gian thực hiện từ
n
ăm 2009-2012; NCS với vai trò là người tham gia chính); Đề tài “Nghiên cứu hoạt
động kiến tạo trẻ, kiến tạo hiện đại và địa động lực Biển Đông làm cơ sở khoa học
cho việc dự báo các tai biến liên quan và đề xuất giải pháp phòng tránh” (Đề tài
trọng điểm cấp nhà nước; Mã số: KC.09.11/06-10; Thời gian thực hiện từ năm
2007-2010; NCS với vai trò là người tham gia chính); Đề tài “Nghiên cứu mối quan
hệ giữa nguy cơ dầ
u tràn và các biến cố địa chất tự nhiên trên vùng biển Việt Nam”
(Đề tài trọng điểm cấp nhà nước; Mã số: KC.09.11BS/06.10; Thời gian thực hiện từ
năm 2008-2010; NCS với vai trò là người tham gia chính);…
Trong quá trình thực hiện luận án, NCS đã công bố các kết quả nghiên cứu
có liên quan đến đề tài luận án trong 15 bài báo khoa học trên các tạp chí và hội
thảo khoa học. Các công trình tập trung vào các nội dung sau: Nghiên cứu đứt gãy
đang hoạt động và đánh giá động đất cự
c đại; Ứng dụng viễn thám và GIS đánh giá
động đất cực đại; Ứng dụng công nghệ GPS trong việc xác định chuyển dịch kiến

4
tạo hiện đại; Vai trò của hoạt động kiến tạo trẻ và kiến tạo hiện đại tới tai biến địa

1.1.1. Địa động lực hiện đại
Nghiên cứu sự phát triển các khái niệm về vấn đề và các phương pháp
nghiên cứu địa động lực hiện đại được tổng hợp khá đầy đủ trong công trình của
Yu. O. Kuzmin (Viện Vật lý Địa cầu Schmidt, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga).
Đáng lưu ý là công trình “Kiến tạo vật lý và Địa động lực hiện đại” (Tectonophysics
and Recent Geodynamics) (2009) [73], bằng việc tổng hợp và phân tích với nhiều
hướng tiếp cận khác nhau, Kuzmin đưa ra định nghĩa về địa động lực “là một ngành
khoa học, nghiên cứu các chuyển động của lớp vỏ, manti và nhân Trái đất, cũng như
các yếu tố khác phục vụ cho các chuyển động này”. Tiếp đến, Kuzmin xây dựng
định nghĩa về địa động lực hiện đại trên c
ơ sở nhấn mạnh đến một số vấn đề về
động lực học. Theo nghĩa tổng quát thì “Động lực học là khoa học nghiên cứu cả
các chuyển động và các yếu tố gây ra chuyển động”. Theo nghĩa này thì “chuyển
động hiện đại của vỏ Trái đất” được ông thay bằng “điạ động lực hiện đại”. Từ đó
Kuzmin [73] cho rằng: “Địa động lực hi
ện đại là một phần của địa động lực nói
chung, nghiên cứu về các chuyển động bên trong Trái đất và các yếu tố liên quan,
khi thời gian của hoạt động gần đây có liên quan tới khoảng thời gian của quá trình
quan sát (các chuyển động được quan sát bởi con người)”. Thời gian quan sát là
khoảng giữa các phép đo lặp (phép đo trắc địa, địa vật lý, địa chấn) hoặc thời gian
ghi liên tục các tham số bởi các phươ
ng pháp (công cụ) địa vật lý. Khác với địa
động lực - chỉ nghiên cứu quá trình tự nhiên, địa động lực hiện đại nghiên cứu cả
các quá trình tự nhiên và nhân sinh. Sự biến dạng và các quá trình địa chấn, cũng
như sự biến đổi của các trường địa vật lý và địa hóa học liên quan đến các quá trình
này là các hiện tượng chính được nghiên cứu trong khuôn khổ địa động lực hiện
đại.
Trong công trình “Địa động lực và tai bi
ến địa chất” (Chu Văn Ngợi, 2007)
[91], căn cứ vào thời gian xảy ra các vận động địa chất, địa động lực được chia

chúng trong khoảng thời gian dài hơn, ít nhất là vài nghìn năm đến hàng chục nghìn
năm, bởi vì đặc trưng của đứt gãy sinh chấn thường có chu kỳ tái diễn dài (khoảng
thời gian giữa các sự kiện). Phụ thuộc vào các sự kiện
đã xảy ra, mà các đứt gãy có
khả năng sinh động đất có thể tái hoạt động trong một vài thập kỷ hoặc một vài
nghìn năm. Quan điểm khác cho rằng, khung thời gian thích hợp cho nghiên cứu
kiến tạo hoạt động là vài triệu năm. Theo NCS, sự am hiểu về quá trình kiến tạo
trong vài triệu năm là cần thiết cho sự hiểu biết đầy đủ về đặc điểm phát triển địa
hình trong m
ối liên quan với kiến tạo trẻ và địa động lực hiện đại cũng như giảm
nhẹ tai biến địa chất, đặc biệt là tai biến động đất.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Đới ĐGSH kéo dài hơn 1000km từ Tây Tạng tới vịnh Bắc Bộ, nơi đây được
coi như là mô hình kinh điển của sự xuyên thủng vỏ và đứt gãy chuyển đổi nội lục
phân tách khố
i Đông Dương với khối Nam Trung Hoa (Tapponnier và Molnar,

7
1977 [124]; Tapponnier và nnk, 1990 [125]; Allen và nnk, 1984 [2]; Leloup và nnk,
1995 [76], 2001 [77]), vì vậy khu vực này được rất nhiều các nhà khoa học trong và
ngoài nước quan tâm nghiên cứu.
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Từ những năm đầu thế kỷ XX, các nhà địa chất Pháp đã áp dụng thuyết Địa
di để giải thích các vấn đề cấu trúc địa chất, vai trò chuyển động Hecxin ở Đông
Dương, về hoạt động của đới ĐGSH. Theo Fromaget (1941) [47], sự dịch chuyển
của các đại lụ
c Gondvana và Âu - Á làm cho các yếu tố chính của kiến trúc Đông
Dương dịch lại gần nhau. Kết quả gây nên sự nén ép các kiến trúc nội bộ, chủ yếu là
các địa máng Trias và việc phát triển lớp phủ địa di, trong đó lớn nhất là ''lớp phủ
Sông Đà''. Lớp phủ này bị dịch khỏi phần tây của vòng cung Sông Mã sang phía

đoạn sớm của sự đụng độ hình thành Biển Đông vào khoảng từ 32 tới 17 triệu năm,
mảng Ấn Độ thúc trượt từ phía đông nam (hệ toạ độ hiện tại), ranh giới phía đông
bắc là đới trượt cắt Ailao Shan. Sự biến dạng chuyển hướng bắc từ Miocen và
Pliocen. Theo mô hình đó, một khối lớp vỏ ngoài đã bắt đầu thúc trượt, giới hạn b
ởi
đứt gãy trượt trái Altyn Tagn ở phía bắc và đứt gãy trượt phải Sông Hồng ở phía tây
nam, một phần tái hoạt động và đảo chiều trượt theo đới trượt cắt Ailao Shan cổ
hơn.
Trong hơn hai thập kỷ sau đó, một loạt các bài báo đi vào chi tiết về mô hình
thúc trượt. Avouac và Tapponnier (1993) [14] và Peltzer và Saucier (1996) [92] đã
công bố các mô hình số và nhấn mạnh về tính rắn chắc tự nhiên của các khối vỏ
ngoại lai (intervening crustal blocks) và Peltzer và Saucier (1996) [92] đã tranh luậ
n
rằng trên 80% của sự hội tụ giữa Ấn Độ và Âu-Á có thể bị hút dọc các đứt gãy trượt
bằng chính. Một loạt các nghiên cứu khác tập trung vào các mối liên hệ thực tế và
địa thời của các đới trượt cắt chính, trong đó khẳng định vai trò quan trọng của đới
trượt cắt Ailao Shan và ĐGSH (Scharer và nnk, 1990 [108]; Harrison và nnk, 1992
[58]; Lacassin và nnk, 1993 [74]; Leloup và nnk, 1993 [78]; Leloup và Keinast,
1993 [75]; Schirer và nnk, 1994 [107]; Leloup và nnk, 1995 [76]; Harrison và nnk,
1996 [57]; Zhang và Scharer, 1999 [173]; Leloup và nnk, 2001 [77]; Replumaz và
nnk, 2001 [99]; Gilley và nnk, 2003 [50]). Nói chung, các nghiên cứu đó đã đưa ra
các giả thuyế
t về sự thúc trượt, xác minh đới trượt cắt Ailao Shan biến dạng dẻo,
trượt bằng trái trong Oligo-Miocen với độ dịch chuyển có thể tới một vài trăm
kilômét. Các nghiên cứu cũng xác nhận rằng ĐGSH là một đứt gãy hoạt động hoặc
hoạt động gần đây với cơ thức trượt bằng phải, nhưng có độ dịch chuyển bé hơn sự
hình dung ban đầu bởi mô hình thúc trượt (Allen và nnk, 1984 [2]; Leloup và nnk,
1995 [76]; Replumaz và nnk, 2001 [99]). Tuy nhiên, các nghiên cứu đó còn hạn chế
việc xem xét cách thức ở đó đới trượt cắt Ailao Shan và ĐGSH tương tác lẫn nhau
và với các đặc trưng địa chất khu vực khác.

Ruddiman và Kutzbach, 1989 [103]; Royden, 1996 [101]; Royden và nnk, 1997
[102]; Shenet và nnk, 2001; Burchfiel và nnk, 1995 [21]; Clark và Royden, 2000
[30]; Kirby và nnk, 2002 [69]; 2003 [70]; Clark và nnk, 2003 [31] mà chưa quan
tâm nhiều đến sự phát triển địa hình dọc các đứt gãy trượt b
ằng như ĐGSH.
Trong lĩnh vực sử dụng trắc địa vệ tinh (GPS) để nghiên cứu chuyển động
kiến tạo hiện đại đã có một số công trình đề cập đến toàn bộ khu vực rìa Đông Nam
cao nguyên Tây Tạng, khu vực Đông Nam Á và cũng rất quan tâm tới đới ĐGSH:
Các kết quả GPS đầu tiên ở Đông Nam Á (Tregoning và nnk, 1994 [136]; Genrich
và nnk, 1996 [49]) kết luận rằng khu vực này dường như là một phầ
n của mảng Âu
Á. Tuy nhiên, điều này dựa trên các đo đạc GPS từ các mạng lưới địa phương,
tương đối nhỏ mà chủ yếu nằm ở đới biến dạng thuộc các mảng (Sumatra, Java,
Sulawesi, Banda arc) bao quanh khối Sundaland. Ngược lại, mạng lưới
GEODYSSEA bao gồm khoảng 40 điểm GPS phân bố một cách có hệ thống trong
khu vực Đông Nam Á đã xác nhận Sundaland là một khối cố kết dịch chuyển so vớ
i
Âu Á và được ngăn cách khỏi nền Siberia qua một loạt các khối đang biến dạng và
dịch chuyển (Chamote-Rooke và Pichon, 1999 [26]; Simons và nnk, 1999 [117];
Michel và nnk, 2001 [84]). Các nghiên cứu GPS mới công bố gần đây cũng xác

10
định khối Sunda đang dịch chuyển một cách độc lập (Sella và nnk, 2002 [113];
Bock và nnk, 2003 [18]; Kreemer và nnk, 2003 [72]).
Nhờ việc chia sẻ dữ liệu GPS trong khu vực EU-ASEAN, Simons và nnk
(2007) [116] đã giới thiệu một trường tốc độ GPS thống nhất phủ toàn bộ khu vực
Đông Nam Á. Kết quả này dựa trên số liệu đo GPS trong vòng 10 năm (1994-2004)
ở hơn 100 điểm ở Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Myanmar, Philippine, và Việt
Nam. Trái với các nghiên cứu trước đây, kết quả cho thấy Sundaland dị
ch chuyển

cứu chính:

11
Hướng nghiên cứu về địa chất - kiến tạo: Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu
này phải kể đến công trình thành lập bản đồ địa chất miền Bắc tỷ lệ l:500.000 và sơ
đồ phân vùng kiến tạo tỉ lệ 1:2.000.000 do A. E. Dovjikov (1965) [40] làm chủ
biên. Trong các công trình này các tác giả đặc biệt quan tâm tới đới ĐGSH và đã lấy
ĐGSC để phân chia hai miền kiến tạo lớn là miền chuẩn uốn nếp Đông Vi
ệt Nam
(miền nền Hoa Nam) và miền uốn nếp Tây Việt Nam (miền địa máng Mezozoi).
Còn Kitovani (1964) [71] trong công trình “Sơ lược về kiến tạo miền Bắc Việt
Nam”, lại lấy ĐGSH làm ranh giới phân chia hai miền kiến tạo này.
Trong công trình “Một số ý kiến về kiến tạo miền Bắc Việt Nam” của Iu. M.
Pushazovxki (1965) [95] và "Một số vấn đề về kiến tạo miền Bắc Việt Nam" của
Ngô Thường San (1965) [104], đã gọ
i DNCV là một “nêm kiến tạo”. Tiếp đến Iu.
Gatinxki và nnk (1970) [48], với công trình "Bàn về phân vùng kiến tạo miền Bắc
Việt Nam", hay Trần Đức Lương
(1965) [83] "Cấu trúc địa chất Indosini miền Bắc
Việt Nam và tóm tắt lịch sử phát triển kiến tạo của chúng" cho rằng ĐGSC được
hình thành từ Proterozoi muộn, dạng tuyến tính kéo dài 350 km là ranh giới rìa nền
Hoa Nam và miền uốn nếp Mezozoi, còn ĐGSH biểu hiện là đới cà nát mạnh,
Trần Văn Trị (1977) [137] đưa ra mô hình phân vùng kiến tạo và chia ra
miền uốn nếp Bắc Bộ nối liền với Caledonit Hoa Nam và miền uốn nếp Đ
ông
Dương. Ranh giới giữa hai miền là ĐGSC.
Văn Đức Chương (1985) [29] dựa vào học thuyết tiến hoá vỏ Trái đất, đã
chia lãnh thổ Việt Nam thành 7 miền có tuổi hình thành vỏ lục địa khác nhau. Ông
xem ĐGSH là ranh giới giữa miền có vỏ lục địa tuổi tiền Cambri và miền có vỏ lục
địa Paleozoi sớm.

đầu trượt bằng trái từ 27 tr.n về trước.
Trần Ngọc Nam (1999) [88], phân tích tiến trình nguội lạnh của khoáng vật
trong các đá biến chất của đới trượ
t Sông Hồng, đã xác định giai đoạn trượt bằng
trái bắt đầu từ 35 tr.n trước.
Các công bố của Phan Trọng Trịnh và cộng sự từ 1990 đến 2004 [141, 145,
149], qua nghiên cứu về trường ứng suất khu vực Tây Bắc và đứt gãy đang hoạt
động ở Miền Bắc Việt Nam cũng như phân tích biến dạng sâu của đới ĐGSH và lân
cận, đã xác định được cơ thức trượt b
ằng trái của đới ĐGSH trong giai đoạn Oligo-
Miocen và tốc độ dịch chuyển phải của đới ĐGSH trong Đệ tứ muộn.
Nguyễn Đăng Túc (2002) [150] nghiên cứu một số đặc điểm tân kiến tạo hệ
ĐGSH - Sông Chảy, đã xác định được đới động lực đới ĐGSH – Sông Chảy, cơ
thức dịch trượt, giai đoạn phát triển và trạng thái ứng suất ki
ến tạo của đới đứt gãy.
Các công trình của Lê Đức An, Lại Huy Anh, Đào Đình Bắc, Đặng Văn Bào,
Vũ Văn Phái và các đồng nghiệp (1985, 1990, 1994, 2000, 2001, 2004) [5-11],…,
đã nêu lên được những nét đặc trưng về địa hình Việt Nam cũng như khu vực đới
ĐGSH và bước đầu đánh giá được mức độ ổn định của chúng. Đáng lưu ý, Lê Đức
An và nnk (2001) [6], bằng các phương pháp địa mạo đã cho rằng DNCV có từ
3-5
bậc địa hình cơ bản, phân bố thành 3 dải chính phương TB-ĐN với đặc thù hình thái
khác nhau. Cự ly nâng DNCV từ cuối Miocen đến nay khoảng 700 đến 1100m
tương ứng với tốc độ 0.1-0.16mm/năm và từ Pliocen đến nay là 150m đến 650m,
tương ứng với tốc độ 0.07 đến 0.32mm/năm,

13

Trích đoạn Kiểu địa hình karst Lịch sử phát triển địa hình khu vực và vùng lân cận từ Pliocen tới nay Các dấu hiệu hoạt động trẻ từ Pliocen –Hiện đạ Đặc điểm động hình học các chấn đoạn đứt gãy hoạt động Khái quát lịch sử hoạt động địa chấn khu vực nghiên cứu và lân cận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status