Hoàn thiện quy trình sản xuất củ giống và hoa lily màu thương phẩm chất lượng cao - Pdf 22

.21

Hà Nội, Tháng 6 năm 2007

2
MỤC LỤC

Stt Nội dung Trang
Mở đầu
3
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG
VÀ NGOÀI NƯỚC
4
1 Kết quả nghiên cứu trong nước
4
2 Kết quả nghiên cứu ngoài nước
5
CHƯƠNG II LỰA CHỌN ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP SẢN
XUẤT THỬ NGHIỆM
7
1 Lựa chọn đối tượng và phương pháp
7
2 Vật liệu
8
3 Phương pháp
8
4 Tính mới và tính sáng tạo của Dự án
9
CHƯƠNG III NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ

Phụ lục 3 Danh mục các giống đã sưu tầm, thu thập
60
Phụ lục 4 Danh mục hợp đồng chuyển giao, kinh tế
61
Phụ lục 5 Tình hình sử dụng kinh phí
62
Phụ lục 6 Tóm tắt quy trình kỹ thuật trồng và thâm canh hoa lily
62
Lời cảm ơn
76
3
MỞ ĐẦU
Để thực hiện thắng lợi Nghị Quyết 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá
IX: tiếp tục đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì việc chuyển
dịch cơ cấu cây trồng và vật nuôi đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Trong số những cây
trồng có giá trị kinh tế cao, có thể sản xuất một lượng hàng hoá lớn phục vụ nội tiêu và
xuất khẩu có hoa lan và hoa lily màu. Đặ
c biệt hoa lily màu lại ngắn ngày, trồng rải được
nhiều thời vụ, nhất là vào vụ Đông ở đồng bằng sông Hồng. Vì vậy, Chính phủ đã phê
duyệt chương trình Phát triển rau hoa quả đến năm 2010. Mục tiêu của Chương trình là
phát huy lợi thế một nước nông nghiệp nhiệt đới ứng dụng nhanh chóng các tiến bộ khoa
học kỹ thuật đặc biệt là những tiến bộ của công ngh
ệ sinh học và giống cây trồng để tạo
ra những sản phẩm hàng hoá có giá trị cao trên thị trường trong nước và quốc tế, bảo đảm
sự cạnh tranh của những sản phẩm nông nghiệp nước ta, phấn đấu tạo giá trị xuất khẩu
rau hoa quả của nước ta đạt 1 tỉ USD vào năm 2010. Để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi
phải có sự nỗ lực vượt bậc của tất cả các cấp, nhất là của các cơ sở nghiên cứu phải phối

cấy mô tế bào in vitro và in vivo, đồng thời cũng khẳng định được rằng chúng ta tạo được
công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân trong qúa trình chuyển đổi cơ cấu cây
trồng nông nghiệp hiện nay. 5
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1. Kết qủa nghiên cứu trong nước

Về mặt khoa học hoa lily màu thuộc chi Lilium, họ hành tỏi Liliaceae, phân
bố chủ yếu ở vùng núi có độ cao từ 800 m trở lên. Ở Việt Nam phát hiện được 2 loài
hoang dại có tên là Bách hợp có hoa màu vàng và màu trắng, có mùi thơm, nở hoa và kết
qủa vào tháng 10 – 11 hàng năm. Ở Việt Nam chưa có một loài hoa lily nào được tạo ra
từ việc thuần hoá hoặc lai tạo. Hoa lily là một loài hoa rất mới mẻ
đối với Việt nam.
Vì vậy, các nghiên cứu về hoa lily hầu như chưa có, nhất là các nghiên cứu về
trồng và nhân giống các loại. Chỉ có một vài nghiên cứu về loại hoa loa kèn màu trắng
nhập nội từ những năm 90 của thế kỷ trước và sau đó được Viện Nghiên cứu rau hoa quả
Hà Nội, Trường Đại học Nông nghiệp I trồng và nhân giống để tạo củ giống cho những
năm sau. Tuy nhiên nh
ững kết quả này còn rất khiêm tốn chưa thể ứng dụng vào sản xuất
đại trà được.
Mười năm trở lại đây, do chủ trương của Đảng và Nhà nước đẩy mạnh công tác
đầu tư, liên doanh, liên kết với nước ngoài, tỉnh Lâm Đồng đã mạnh dạn cho phép Công
ty Hasfarm đầu tư 100% vốn vào thành phố Đà Lạt từ năm 1994 để phát triển các giống
hoa có chất lượng cao ở quy mô công nghi
ệp. Trong số 20 ha trồng các loại hoa, hoa lily
mới chỉ được trồng trên diện tích 4 ha, mỗi năm sản xuất 2 vụ, thu được khoảng 3 triệu

tới hàng tỉ USD. Theo dẫn liệu của các nhà phân loại thực vật thì chi Lilium có tới gần
100 loài, phân bố từ 10
O
đến 60
O
vĩ Bắc. Ở Châu Á có 50-60 loài (Nhật Bản, Trung
Quốc, Triều Tiên…). Bắc Mỹ có 24 loài (Canada, Achentina, Mỹ ). Châu Âu có 12 loài
(Hà Lan, Ý, Pháp, Đức) (Sihimizu 1973, Anderes 1986, Damies 1986, How 1986, Beattie
và White 1993…). Nhờ áp dụng những công nghệ truyền thống kết hợp với công nghệ
sinh học mà đến nay trên thế giới đã tạo ra hơn 2.000 giống hoa lily với đủ màu sắc, kích
cỡ hoa, hương thơm dịu mát và quyến rũ lòng người. Vì vậy hoa lily đã chiếm tới 46%
thị phần hoa cắ
t cành của thế giới. Hoa lily đứng hàng đầu về giá trị kinh tế ở các nước
tiên tiến (Konishik et al 1996). Mặc dù đa dạng về chủng loại, màu sắc, hương thơm cũng
như kiểu dáng hoa và nhất là thời gian sinh trưởng, nhưng tựu chung lại hoa lily thuộc 3
nhóm

7
1. Các giống hoa lily thuộc các con lai phương Đông (Oriental Hybrid);
2. Các giống hoa lily thuộc các con lai Châu Á (Asiatic Hybrid);
3. Các giống hoa thuộc nhóm loa kèn (Longiflorum);
Ba nhóm hoa này khác nhau ở đặc tính nông sinh học, kích cỡ hoa, hương thơm
… Nhưng khác nhau cơ bản nhất là phản ứng nhiệt độ cao lúc tạo củ, độ ngủ của củ, sự
hình thành hoa và quang chu kỳ. Lợi dụng những đặc tính này các nhà tạo giống đã lai
tạo ra hàng nghìn thứ hoa lily theo các mục đích sử dụng khác nhau. Thí dụ ph
ải tạo ra
các giống hoa lily cắt cành với chiều cao 90-110 cm, 5-7 hoa trên 1 cành, hoa dài tới 10 -
15 cm như giống Aktiva hoặc Sorbone … hoặc tạo ra các giống hoa lily mini để trồng
trong chậu cảnh có độ cao từ 30-40 cm. Hoa mọc ở đỉnh chứ không phải ở nhánh lá như
các giống hoa lily khác, thí dụ như giống: Pretti. hoa màu vàng (Vantuyl et al 1988),


Stt

Tên nước
1989-1990 1997-1998 1999-2001 2002-2005
1 Hà Lan 1.200 4.000 5.000 5.700
2 Pháp 30 150 420 480
3 Canada và Mỹ 200 215 235 250
4 Nhật Bản 370 350 360 365
5 Úc 50 250 400 490
6 Tân Tây Lan 4 40 70 100
7 Chi Lê 8 45 135 185
8 Hàn Quốc 131 20 250 290
9 Trung Quốc 15 45 450
10 Việt Nam 0 4 6 15
Nguồn: Trung tâm cây hoa và củ giống hoa quốc tế và Báo cáo chương trình hoa cây cảnh Việt nam

Riêng Hà Lan năm 2001 sản xuất 1 tỉ cành hoa lily và tổng doanh thu đạt 1,5 tỉ
USD (Joap.M.Tuyl 2001). Hiện nay, con só này đã cao hơn nhiều.
Song song với công tác chọn tạo giống lily mới, các nhà chọn tạo giống hoa lily ở
các nước đã có những thành công rất lớn nổi bật về kỹ thuật trồng, chăm sóc, phòng trừ
sâu bệnh, thu hoạch, bảo quản và đóng gói phục vụ nội tiêu và xuất khẩu. Các tác giả
cũng đã nghiên cứu khá kỹ
các điều kiện nhiệt độ, độ ẩm không khí, thời gian chiếu sáng,
mùa vụ gieo trồng, điều kiện đất đai thổ nhưỡng, chế độ phân bón tưới tiêu, phòng trừ
sâu bệnh để tăng năng suất và chất lượng hoa, chất lượng củ giống của các giống hoa lily
khác nhau và đã đưa ra được những quy trình tối ưu trong những điều kiện nhà lưới, nhà
Plastic và ngoài đồng ruộng tuỳ theo điều kiện của từng nước (Joap,M.Van Tuyl 1997
2001, Lee Young Suk, Park Nobuk 1999, Adzima Bireman, Rosen 1990, De Hertog
1996, Erwin et al 1989, Grueber et al 1984, Hendricks et al 1986, Zerzy et al 1981, Horst


2.
Vật liệu
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn nêu trên một số giống hoa lily màu được nhập
nội từ Hà Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Pháp, nhưng chủ yếu từ Hà Lan đã được chọn làm
vật liệu khởi đầu như các giống lily thơm: Sorbonne, Acapulco, Aktiva, Starfighter,
Casablanca, Medusa, Bernini, Yelloween Các giống không thơm như Brunello,
Barbados, Avelino, Corridia, Polyanna. Đây là những giống lily thơm và không thơm
thuộc 2 hệ lai: Oriental Hybrid và Asiatic Hybrid nhập từ Hà Lan. Các giống này đã được
nhập về
cùng nhiều giống khác nữa và đã được khảo nghiệm thử, xem xét đánh giá qua
3-4 vụ. Một số giống hoa nêu trên gồm Acapulco, Bernini, Tiber, Sorbonne, và

11
Yelloween tỏ ra có nhiều triển vọng nên đưa vào nghiên cứu và hoàn thiện các quy trình
nhân giống, để giống và sản xuất hoa thương phẩm để cuối cùng chọn ra được những
giống cho hoa thương phẩm đáp ứng với thị hiếu người tiêu dung và quan trọng hơn cả là
trồng được tại một số vùng của Việt Nam. Ngoài ra còn có thể nhân giống in vitro và in
vivo được để góp phần tự túc được một lượng giống nhất định trong công nghệ trồng hoa
lily cắt cành.

3. Phương pháp sản xuất thử nghiệm
Các phương pháp thí nghiệm, sản xuất thử nghiệm phù hợp với điều kiện Việt
Nam như nuôi cấy mô tế bào, nuôi trồng trong nhà màn, nhà plastic, chăm sóc cho ra hoa,
các phương pháp xác định bệnh, các phương pháp thí nghiệm trong phòng và ngoài đồng
ruộng, các phương pháp xử lý lạnh và bảo quản lạnh ẩm, các phương pháp xử lý thống kê
số liệu sinh học trên các phần mềm chuyên dụng đã được Dự án sử dụng.
a. Phương pháp bố
trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 4 lần nhắc lại (Phạm Chí

o Thu nhập hỗn hợp = Tổng thu - Tổng chi (Không bao gồm công lao động);
o Lãi = Thu nhập hỗn hợp – chi phí lao động;
o Hiệu quả kinh tế = Thu nhập hỗn hợp/Tổng chi (Không bao g
ồm công lao động).
Kỹ thuật trồng và chăm sóc: Lên luống cao 25 - 30 cm, rãnh rộng 20 - 25 cm, trồng 5
hàng nếu mặt luống rộng 1m, hoặc trồng 4 hàng nếu mặt luống rộng 80 cm, khoảng
cách 20 x 20 cm (mật độ 25 cây/m
2,
1.000 m2 trồng 15.000 củ) đối với các mô hình
hoặc trồng 4 hàng, cũng khoảng cách 20 x 20 cm (mật độ 25 cây/m
2
), 1.000 m
2
trồng
10.000 củ. Đối với mô hình kỹ thuật chăm sóc như bón phân, tưới nước, phòng trừ
sâu bệnh và các yếu tố phi thí nghiệm được thực hiện trên các giống là đồng nhất như
nhau. Diện tích trồng ở mỗi mô hình từ 500 – 1.000 m
2
/vụ.

c. Các phương pháp trong phòng thí nghiệm:

13
 Phương pháp nuôi cấy mô tế bào để tạo củ sơ cấp in vitro và thứ cấp trên môi trường
cải tiến MS, các phương pháp tạo củ thứ cấp và thương phẩm trên môi trường MS cải
tiến, với môi trường giá thể và đất khác nhau.
 Phương pháp sản xuất hoa và đánh giá giống hoa theo tiêu chuẩn của ngành và Trung
tâm Nghiên cứu hoa quốc tế;
 Các phương pháp xử lý lạnh và chất điều hoà sinh trưở
ng để phá ngủ và bảo quản củ

đến 1 ha cũng đã là mô hình phải đầu tư hàng tỉ đồng vào việc này. Vì vậy chúng tôi tin

14
chắc rằng sau khi Dự án kết thúc việc trồng hoa lily màu ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng
và một số tỉnh miền núi có điều kiện thích hợp sẽ phát triển mạnh.
Tuy nhiên vấn đề khó khăn nhất vẫn là bảo đảm đủ giống chất lượng. Trước mắt
chúng ta vẫn phải nhập các giống mà Dự án đã kết luận là tốt và phù hợp với điều kiệ
n
Việt Nam, còn việc cung cấp củ giống hoa lily thì đòi hỏi phải đầu tư các xí nghiệp sản
xuất củ giống lớn thì mới đáp ứng được nhu cầu củ giống trong tương lai.
Vì thế Chương trình công nghệ sinh học nông nghiệp vừa phê duyệt một đề án
phát triển xí nghiệp sản xuất các loại hoa chất lượng cao trong đó có củ giống hoa lily
giai đoạn 2007 - 2010. Đó cũng là nhữ
ng kết quả của Dự án khẳng định chúng ta có thể
sản xuất được giống một số loại hoa cao cấp trong điều kiện của Việt nam. 15
CHƯƠNG III
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ ĐÃ THỰC HIỆN

I. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ CẦN ĐẠT THEO THUYẾT MINH VÀ HỢP ĐỒNG
1. Nội dung
1) Sưu tập đánh giá và bảo quản tập đoàn hoa lily màu địa phương và nhập nội vào
nước ta cả in vitro và invivo;
2) Hoàn thiện quy trình tạo củ bằng in vitro, bằng phương pháp truyền thống: củ
con từ cây mẹ (gốc, nách lá, vảy) đạt kích thước củ có đường kính từ 2- 4 cm từ

củ giống ban đầu.
3) Hoàn thiện quy trình sản xuất: trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch,

ốn và từ đó có thể nhân giống để tạo thành giống thương mại bấy nhiêu. Vì vậy trong
Dự án này, nội dung đầu tiên dặt ra là phải sưu tầm và đánh giá được các giống hoa lily
màu của địa phương và nhập nội để từ đó tìm ra được những giống tốt nhất phục vụ cho
sản xuất. Vì vậy trong Dự án này bước đầu tiên chúng tôi đã tập trung vào nội dung này.
Nhờ có những kế
t quả kế thừa từ Đề tài trọng điểm cấp bộ về hoa lily 2003-2005,
chúng tôi đã bổ sung được tập đoàn và nhanh chóng đánh giá được các giống ưu việt cho
sản xuất hoa lily ở Việt Nam. Kết quả, chúng tôi đã thu thập và lưu giữ được hơn 15
giống hoa lily màu khác nhau (Xem Phụ lục 3). Qua trồng và theo dõi, đánh giá các đặc
tính nông sinh học của chúng, chúng tôi đã chọn ra được 8 giống lily thơm và không
thơm có thể
phát triển tốt ở Đồng bằng sông Hồng vào vụ Đông - Xuân và một số vùng
khác có khí hậu mát mẻ như Đà Lạt - Lâm Đồng, Sapa - Lào Cai, Tam Đảo - Vĩnh Phúc,
Kỳ Sơn - Nghệ An. Qua dẫn liệu ở Bảng 2, chúng tôi thấy mỗi loại hoa lily thuộc nhóm
thơm ( con lai hệ Phương Đông) và không thơm (con lai hệ Châu Á) hay nhóm loa kèn
(Longiflorum) hoặc các loài hoa hoang dại đều có những đặc tính nông sinh học không
giống nhau đặc trưng cho từng nhóm giống.
Qua phân tích số li
ệu ở Bảng 2, ta có thể chia các giống hoa lily thu thập được làm
3 nhóm:
 Nhóm ngắn ngày có thời gian sinh trưởng từ 65 đến 85 ngày;

17
 Nhóm dài ngày có thời gian sinh trưởng từ 100 đến 115 ngày hoặc dài hơn nếu
trời lạnh và mù như ở Sapa lên tới 120 ngày;
 Nhóm trung bình có thời gian sinh trưởng từ 86 đến 100 ngày.

Bảng 2
. Kết quả nghiên cứu khảo nghiệm một số đặc tính nông sinh học của các
giống lily trồng thử nghiệm

rộng: 3,5-4,5
5-7 Trắng Vàng
sẫm
Rất
thơm
4
Medusa Xanh nhạt 45,5 Rộng: 1,5-2,0
Dài: 10 - 13
4-6 hồng Hồng
sẫm
Thơm
5
Starfighter Tím nhạt 48,6 Rộng: 1,5-2,0
Dài: 10 - 13
5 -7 Hồng
đậm
Nâu
sẫm
Rất
thơm
6
Sorbonne Xanh nhạt 58,3 Rộng: 3,5-4,0
Dài: 10 - 13
5-7 Hồng Nâu
sẫm
Thơm
7
Tiber Xanh nhạt 47,9 Rộng: 2,5-3,3
Dài: 6 - 8
4-6 Hồng Nâu

mô của đỉnh sinh trưởng, thân hoặc chóp rễ khi chúng được nuôi cấy trên những môi
trường chuyên dụng. Trong Dự án này, ngoài việc phát huy những kết quả thăm dò và
những kết quả ở các đề tài cấp bộ và cấp nhà nước về kỹ thuật nhân vô tính các giống hoa
trong đó có hoa lily, khác với kỹ thuật nhân giống hoa lan, hoa cúc là tạo ra cây con hoàn
chỉnh, sau đó đưa ra nuôi tr
ồng ngoài vườn ươm hoặc trên đồng ruộng, Dự án còn phải
hoàn thiện quy trình tạo được củ in vitro, rồi từ củ in vitro tạo nên củ sơ cấp. Rồi sau đó
tiếp tục tách những vảy củ của củ sơ cấp này để nuôi cấy nhằm nhân nhanh một số lượng
lớn củ sở cấp. Tiếp theo là thu hoạch củ sơ cấp và tiến hành xử lý l
ạnh ẩm ở nhiệt độ 2-
5
0
C, độ ẩm 85%, thời gian từ 8-10 tuần để phá ngủ. Sau đó đem trồng ra giá thể hoặc
vườn ươm ở Tam Đảo hoặc Sa Pa. Toàn bộ quy trình gồm 8 bước sau.
Bước 1: Chọn nguyên liệu nuôi cấy
Trong nghiên cứu nhân giống in vitro, tạo vật liệu khởi đầu là giai đoạn quan trọng
quyết định cho sự thành công của cả quá trình nhân giống in vitro. Mẫu ở ngoài môi
trường dùng để làm vật li
ệu khởi đầu cho nuôi cấy in vitro cần phải đạt những yêu cầu
như mẫu phải khoẻ mạnh, không nhiễm bệnh. Nguyên liệu sử dụng để nuôi cấy là vảy củ
và mầm củ làm nguồn mẫu.
Lựa chọn các củ giống thương phẩm có kích thước vừa phải, củ chắc, vẩy củ ôm
chặt lấy trụ mầm bên trong, vẩy củ không bị tổ
n thương bên ngoài, mầm củ phát triển
khoẻ, có màu sắc đặc trưng của giống như màu trắng, màu hồng, hay tím nhạt
sức sống và có thể chết do đó phải tìm được một thời gian và phương pháp khử trùng
thích hợp để tạo được nguồn vật liệu khởi đầu cho quá trình nhân nhanh sau này. Qua các
thí nghiệm về nồng độ và thời gian khử trùng mẫu và sau một quá trình theo dõi đã cho
thấy rằng chế độ khử trùng kép với thời gian khử trùng mỗi lần 7 phút là thích hợp cho
các mẫu vẩy củ lily. ở chế độ này tỉ lệ nhiễm nấm và khuẩn của các mẫu vẩy củ giảm và
tỉ lệ mẫu sống tăng
. Điều này được thể hiện rõ ở các số liệu của Bảng 3.
Bảng 3: Khả năng sống và tái sinh của mẫu cấy của các giống lily ở các chế độ khử trùng
khác nhau
:

Giống Chế độ khử trùng (nồng
độ HgCl
2
, thời gian)
Tỉ lệ mẫu
nhiễm (%)
Tỉ lệ mẫu
chết (%)
Tỉ lệ mẫu tái
sinh (%)
Sorbonne
HgCl
2
1‰, 20 phút 93,33 0 6,67

20
HgCl
2
2‰, 12 phút 60,00 26,67 13, 33

HgCl
2
2‰, 7 phút x 2 36,67 23,33 40,00
HgCl
2
1‰, 20 phút 86,67 3,33 10,00
HgCl
2
2‰, 12 phút 70,00 13,33 16,67
Medusa
HgCl
2
2‰, 7 phút x 2 33,33 30,00 36,67
HgCl
2
1‰, 20 phút 90,00 3,33 6,67
HgCl
2
2‰, 12 phút 70,00 20,00 10,00
Pretibrigitte
HgCl
2
2‰, 7 phút x 2 30,00 26,67 43,33

Ghi chú: HgCl
2
2‰, 7 phút x 2 là chế độ khử trùng kép, mỗi lần khử trùng trong 7 phút.

Tối hoàn toàn Callus → củ Sau một thời gian nuôi cấy trên hai loại môi trường khác nhau và các loại mẫu
cấy khác nhau, ở điều kiện chiếu sáng khác nhau thì thấy có sự phát sinh hình thái khác
nhau. Trên môi trường có 3% đường Saccarose có bổ sung kinetin và IAA, ở điều kiện
chiếu sáng 16h/ ngày thì tất cả vẩy củ của các giống đều hoá xanh sau đó hình thành các
chồi nhỏ. Trên môi trường có nồng độ đường cao 9% có bổ sung than hoạt tính, BAP ở
điều kiện chiếu sáng là tối hoàn toàn thì có hai hướng phát sinh hình thái. Các mẫu là mô
vẩ
y củ đã hình thành trực tiếp củ non còn các mẫu là mô thân của mầm phát sinh theo
hướng tạo callus rồi mới hình thành củ con. Như vậy, qua thí nghiệm này chúng tôi chọn
môi trường
MS + 9% saccarose + 0,1% than hoạt tính + 2mg/l BAP để nhuộm vảy củ tạo
vật liệu khởi đầu có quá trình sản xuất củ mini và củ thương phẩm sau này. Để đảm bảo
được công suất 30 vạn củ/năm thì số bình mẫu đưa vào ban đầu của các giống đã chọn
lọc là 600 bình. Mỗi bình cất 15 mẫu, tỉ lệ là 9.000 mẫu được nuôi cấy. Sau mỗi chu kỳ
nhân, hệ số nhân trung bình là 2,5 thì sau 4 chu kỳ nhân liên tiếp sau lần cấy mẫu đầu
tiên ta thu được hơn 30 vạn củ bi/năm. Cụ thể được diễn giải như sau:
• Đưa 600 bình mẫu vào x 15 mẫu/bình = 9.000 mẫu;
Sau 8 tuần nuôi cấy ta thu được lượng mẫu:
• 600 bình x 15 mẫu x 2,5 = 22.500 củ bi;
Nhân tiếp thành 1.500 bình, sau 8 tuần nuôi ta được số mẫu củ là:
• 1.500 bình x 15 mẫu x 2,5 = 56.250 củ bi;
Tiếp tục nhân thành 3.750 bình, sau 8 tuần nuôi ta được số mẫu là:
• 3.750 x 15 x 2,5 = 140.625 củ bi;

22
Nhân tiếp thành 9.375 bình, sau 8 tuần nuôi ta được số mẫu củ là:
• 9.375 x 15 x 2,5 = 351.562.500 củ bi

thúc đẩy sinh trưởng của các chồi tái sinh.
Kinetin và BAP là những chất điều khiển sinh trưởng có tác dụng kích thích sự
sinh trưởng của chồi và làm tăng hệ số nhân chồi nên chúng tôi đã sử dụng chúng để làm
tăng số lượng chồi lily.
Chồi của 6 giống lily hình thành ở các vẩy củ được tách ra, c
ắt bỏ những lá dài sau
đó được cấy trên các loại môi trường khác nhau và được nuôi trong điều kiện chiếu sáng
16h / ngày. Sau 8 tuần theo dõi kết quả thu được nêu ở Bảng 5.

Bảng 5. Nghiên cứu ảnh hưởng của BAP đến hệ số nhân chồi của các giống lily.
Giống Công thức Môi trường (mg/l) Hệ số
nhân
Chất lượng
chồi
CT1 MS + 1 mg Kinetin 2,3 ++
CT2 MS + 1 mg Kinetin + 0,5 BAP 2,8 +++

Sorbonne
CT3 MS + 1,5 mg Kinetin+ 0,5 BAP 3,1 +++
CT1 MS + 1 mg Kinetin 2,4 ++
CT2 MS + 1 mg Kinetin + 0,5 BAP 2,6 +++

Tiber
CT3 MS + 1,5 mg Kinetin+ 0,5 BAP 3,3 +++
CT1 MS + 1 mg Kinetin 2,2 ++
CT2 MS + 1 mg Kinetin + 0,5 BAP 2.8 +++

Bernini
CT3 MS + 1,5 mg Kinetin+ 0,5 BAP 2,4 +++
CT1 MS + 1 mg Kinetin 2,5 +

pháp nhân chồi là cây đưa ra có tỉ lệ sống thấp (Lê Thị Nh
ẫn, Nguyễn Quang Thạch,
2001), Dương Tấn Nhựt và cs 2003. Do đó chúng tôi sử dụng lượng chồi tạo được làm
vật liệu để tạo củ sơ cấp giống lily.

CT1
(MS + 1 BAP + 1 Kinetin)
CT2
( MS + 1 BAP + 0,2 IAA)
CT3
( MS + 1 Kinetin + 0,2 IAA)

Bước 6
. Nhân củ con
Đối với nguyên liệu là mô vảy củ thì đã có rất nhiều nghiên cứu của các tác giả
như Robb (1957), Hackett (1969)[39], Allen (1974), Simmomds và Cumming (1976),
Van Aatrijk và Blom- Barnhoom (1977)[65], Stimart và Ascher (1978) Qua những
nghiên cứu đó các tác giả cho thấy rằng vảy củ là nguồn nguyên liệu chính cho việc nuôi
cấy mô khi sản xuất củ giống lily. Sử dụng phương pháp nuôi cấy củ in vitro cho phép
trong một thời gian ngắn tạo ra một lượng củ giống lớn đồng đều. Ph
ương pháp này đáp
ứng được cho sản xuất ở quy mô công nghiệp.

25
Trong môi trường nhân nhanh, hàm lượng đường là không thể thiếu đối với sự
kích thích hình thành chồi. Nó cung cấp nguồn các bon hữu cơ cho quá trình dinh dưỡng
của chồi. (Van Aatrijk và Blom-Barnhoom, 1979). Và trong giai đoạn tạo củ thì cây cần
một hàm lượng các bon rất lớn để vừa có thể sinh trưởng phát triển vừa tích luỹ được
chất dinh dưỡng ở phần củ sử dụng cho các thế hệ sau. Vì vậy việc bổ sung vào môi
trường một l


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status