hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo cá lăng nha - Pdf 20

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
HOÀN THIỆN QUI TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG
NHÂN TẠO CÁ LĂNG NHA
(MYSTUS WYCKIOIDES Chaux và Fang, 1949)
Ngành: THỦY SẢN
Khóa: 2001 – 2005
Sinh Viên Thực Hiện:BÙI THỊ HOÀNG OANH
TRẦN THANH LUÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-2005-
2
HOÀN THIỆN QUI TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG NHÂN TẠO
CÁ LĂNG NHA
(MYSTUS WYCKYIOIDES Chaux và Fang, 1949)
Thực hiện bởi
Trần Thanh Luôn
Bùi Thò Hoàng Oanh
Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản
Giáo viên hướng dẫn: Ngô Văn Ngọc

Thành phố Hồ Chí Minh
-2005-
TÓM TẮT
Đề tài “Hoàn Thiện Qui Trình Sản Xuất Giống Cá Lăng Nha” được tiến
hành từ tháng 3/2005 – 7/2005. Cá bố mẹ được thu mua từ Hồ Trò An và được nuôi vỗ
tại Trại Thực Nghiệm Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh.

- The eggs of red tail catfish are adhesive and ivory in color. The eggs are about
1,6mm in diameter. Real fecundity ranged from 8.000 to 25.000 eggs/kg of female.
Latency time is around 9 – 13 hours at 29,5 – 32
0
C for two hormones. Hatchling time
ranges from 22 to 24 hours. Fertilization rates ranged from 30 to 63%. Hatchling rates
oscillated from 30 to 80%.

- Nursing was carried out by two stages:
+ Stage I (from 3 to 6 - days old fry). At this stage, the fry was nursed in
composite tank with two kinds of feed such as Moina and Tubifex.
+ Stage II (from 6 to 27 - days old fingerlings). At the stage, the fry was
nursed in nylon tanks and earthen ponds with Tubifex, trash fish and small pellet.
The result indicated that an average size of 6 days - old fry were 8mm in length
and 0.013g in weight. The 27 - days old fingerlings were 4cm in length and 0.8g in
weight.
At the first stage, survival rate gained above 90%. And at the second stage,
survival rate gained from 43 to 64,7%.
3

CẢM TẠ
Chúng tôi xin chân thành cảm tạ:
Ba, mẹ đã nuôi nấng dạy dỗ con nên người và luôn hổ trợ vật chất, tinh thần cho
con được hoàn thành tốt luận văn này.
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy sản
Cùng toàn thể q thầy cô Khoa Khoa Học, Khoa Thủy Sản đã tận tình giảng
dạy, truyền đạt kiến thức cho chúng tôi trong suốt khóa học.
Đặc biệt với lòng biết ơn sâu sắc xin gởi đến thầy Ngô Văn Ngọc đã tận tình
hướng dẫn và giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt

2.1.5 Đặc điểm sinh sản 3
2.1.6 Phân biệt đực cái 3
2.2 Một Số Kết Quả Nghiên Cứu về Cá Lăng 6
2.2.1 Ngoài nước 6
2.2.2 Trong nước 6
2.3 Chất Kích Thích Sinh Sản Dùng cho Cá Sinh Sản Nhân Tạo 6
2.3.1 HCG (Human Chorionic Gonadotropin) 6
2.3.2 GnRH (Gonadotropin Releasing Hormone) 7
2.3.3 Chất kháng Dopamine 7
5

2.4 Ảnh Hưởng của Các Yếu Tố Bên Ngoài Lên Sự Phát Triển
Tuyến Sinh Dục của Cá Bố Mẹ 8
2.4.1 Thức ăn 8
2.4.2 Nhiệt độ 8
2.4.3 Quang kỳ 9
2.4.4 Dòng chảy 9
2.4.5 Các yếu tố khác 9
2.5 Thức Ăn trong Quá Trình Ương Nuôi Cá 10
2.5.1 Moina 10
2.5.2 Trùn chỉ 10
III. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1 Thời Gian và Đòa Điểm Thực Hiện Đề Tài 11
3.2 Vật Liệu và Trang Thiết Bò Dùng trong Nghiên Cứu 11
3.3 Phương Pháp Nghiên Cứu 11
3.3.1 Nguồn gốc cá bố mẹ 11
3.3.2 Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản 11
3.3.3 Kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá lăng nha 12
3.3.4 Ương nuôi cá bột 16
3.3.5 Kiểm tra tốc độ tăng trưởng 17

2.2 Kết Quả Gieo Tinh Nhân Tạo Cá Lăng Nha bằng HCG
2.3 Kết Quả Ấp Trứng
2.3.1 Cá được tiêm bằng LH – RHa
2.3.2 Cá được tiêm bằng HCG
2.4 Kết Quả Ương Nuôi Cá Lăng Nha
Phụ Lục 3
3.1 Kết Quả Ương Nuôi Cá Lăng Nha Đợt I
3.2 Kết Quả Ương Nuôi Cá Lăng Nha Đợt II
Phụ Lục 4
4.1 Kết Quả Phân Tích ANOVA về Tăng Trưởng của Đợt I
4.2 Kết Quả Phân Tích ANOVA về Tăng Trưởng của Đợt II
8

DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG NỘI DUNG TRANG
Bảng 2.1 Thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của cá lăng Hemibagrus guttatus4
Bảng 2.2 Tỷ lệ cá lăng cái Hemibagrus guttatus thành thục theo các lứa tuổi 4
Bảng 4.1 Hệ số thành thục của cá lăng nha đực 20
Bảng 4.2 Kết quả gieo tinh nhân tạo cá lăng bằng LH – RH 26
Bảng 4.3 Kết quả gieo tinh nhân tạo cá lăng bằng HCG 27
Bảng 4.4 Kết quả ấp trứng cá lăng nha tiêm bằng LH-RHa 29
Bảng 4.5 Kết quả ấp trứng cá lăng nha tiêm bằng HCG 29
Bảng 4.6 Tỷ lệ sống của cá lăng nha 6 ngày tuổi 32
Bảng 4.7 Các yếu tố môi trường ương nuôi 33
Bảng 4.8 Chiều dài và trọng lượng trung bình của cá lăng nha 36
9

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ VÀ HÌNH ẢNH
ĐỒ THỊ NỘI DUNG TRANG
Đồ thò 4.1 Tỷ lệ rụng trứng của cá lăng nha qua 4 đợt sinh sản 28

I. GIỚI THIỆU
1.1 Đặt Vấn Đề
Hiện nay, sự gia tăng dân số trên thế giới nhanh chóng dẫn đến nhu cầu về thực
phẩm cũng gia tăng. Thực phẩm đòi hỏi không chỉ ngon mà còn đòi hỏi phải đủ dinh
dưỡng, đảm bảo sức khoẻ cho con người. Cá và các sản phẩm từ cá là loại thức ăn có
giá trò dinh dưỡng cao. Đặc biệt có một số loài cá rất được ưa chuộng và có giá trò kinh
tế cao đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Trong khi đó, việc khai thác quá mức và sự
phát triển công nghiệp mạnh mẽ làm cho chất lượng nước tự nhiên suy thoái nghiêm
trọng điều này dẫn đến sản lượng cá ngoài tự nhiên giảm sút nhanh chóng nhất là các
loài cá q hiếm và có giá trò kinh tế cao. Để góp phần làm giảm áp lực của việc đánh
bắt cũng như bảo vệ một số loài cá có giá trò kinh tế đang có nguy cơ tuyệt chủng thì
việc tạo ra những con giống nhân tạo phục vụ cho nuôi trồng thủy sản là vấn đề đang
được các nhà nuôi cá quan tâm.
Cá lăng nha (Mystus wyckioides) là một đối tượng có giá trò kinh tế cao, kích
thước lớn, tốc độ tăng trưởng nhanh, thòt trắng, dai, ngon, không xương dăm và tương
đối dễ nuôi. Đây là loài cá bản đòa, chúng chỉ hiện diện ở miền Đông Nam Bộ và Đồng
bằng sông Cửu Long.
Hiện nay, nhu cầu về con giống và cá thòt cá lăng nha rất cao nhưng nguồn
giống ngoài tự nhiên đang cạn kiệt dần. Do đó, việc nghiên cứu sản xuất giống nhân
tạo cá lăng nha là vấn đề cấp thiết. Năm 2002 Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Nông
Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo cá lăng nha
nhưng quá trình chưa hoàn tất. Mãi đến tháng 3 năm 2005, kỹ thuật sản xuất loài cá
này mới thành công hoàn toàn. Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu và sản xuất có
những công đoạn kỹ thuật cần hoàn chỉnh nên trước hiện trạng đó, được sự chấp thuận
của Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài: “HOÀN THIỆN QUI TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG
NHÂN TẠO CÁ LĂNG NHA (Mystus wyckioides Chaux và Fang, 1949)”.
1.2 Mục Tiêu Đề Tài
Đề tài được thực hiện với các mục tiêu sau:
11

một đôi râu mũi kéo dài đến mắt, hai đôi râu cằm, một đôi râu hàm trên rất dài đến
giữa vây hậu môn. Miệng ở dưới rộng hướng ra phía trước. Môi trên dầøy và nhô hơn
môi dưới, hàm trên và hàm dưới đều có răng nhỏ, nhọn. Khoảng cách hai ổ mắt rộng,
khe mang rộng, màng mang tách khỏi eo mang. Vây lưng và vây ngực có tia cứng, tia
cứng vây ngực to, khỏe, phía sau có răng cưa nhưng tia cứng ở vây lưng nhỏ và được
bao phủ bởi lớp da không có răng cưa. Thân có màu xám hoặc xanh đen. Vây đuôi và
mép các vây như vây lưng, vây ngực, vây bụng, vây hậu môn có màu đỏ. Mép vây
lưng kéo dài đụng gốc vây mỡ. Râu hàm trên của cá có màu trắng đục và to (Chaux và
Fang, 1949; trích bởi Lê Đại Quan, 2004).
13

Hình 2.1 Cá lăng nha bố mẹ
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá lăng nha là loài ưa tối, sống đáy, chui rúc vào những bụi rậm, hốc đá, hang,…
không thích hợp nuôi trong bể kiếng. Cá lăng nha được xếp vào loài cá dữ (Sterba,
1962; trích bởi Mai Thò Kim Dung, 1998).
Theo Ngô Trọng Lư và Thái Bá Hồ (2001) khi còn nhỏ cá ăn côn trùng ở nước,
ấu trùng muỗi, giun ít tơ, rễ cây,.. cá lớn ăn cả tôm, cua và cá con.
Ngoài ra, cá lăng vàng (Mystus nemurus) và lăng đòa (Mystus sp) hoàn toàn chấp
nhận thức ăn công nghiệp trong điều kiện nhân tạo (Ngô Văn Ngọc, 2002).
Theo Phạm Báu và Nguyễn Đức Tuân (1998; trích bởi Đào Dương Thanh, 2004)
cá lăng có cấu tạo bộ máy tiêu hóa của cá dữ điển hình: miệng rộng, răng hàm sắc,
nhọn, dạ dày lớn, tỷ lệ chiều dài ruột/chiều dài thân =89,35%. Phân tích 25 mẫu vật
thức ăn trong ruột cá, chỉ số no đầy = 1,18. Thành phần thức ăn chính là động vật.
14

Bảng 2.1 Thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của cá lăng (Hemibagrus guttatus) trên
hệ thống sông Hồng (Phạm Báu và Nguyễn Đức Tuân, 1998).
Loại thức ăn Cá Tôm
Côn

6
+
7
+
8
+
9
+
II (%) 70,00 51,85 30,77 16,67 12,50 11,11 33,33
III (%) 5,00 3,70 15,38 33,33 25,00 0,00 33,33
IV, V, VI – II (%) 25,00 44,44 53,85 50,00 62,50 88,89 33,33
Số mẫu 20 27 13 6 8 9 3
2.1.5.2 Mùa sinh sản

Theo Rainboth (1996; trích bởi Lê Đại Quan, 2004), cá vào rừng ngập nước để
sinh sản, ở Tonlé Sap cá con được tìm thấy vào tháng tám và trở ra sông vào tháng 10 –
12.
Mùa sinh sản của cá lăng kéo dài quanh năm và không xác đònh được đỉnh. Có
thể thu mẫu cá đang trong thời kỳ sinh sản vào tháng 11. Cá có chiều dài khoảng từ
30cm trở lên có thể tham gia sinh sản.
Cá vào bờ sinh sản sau khi nước lên, mùa sinh sản từ tháng 6 đến tháng 7 và chỉ
sinh sản một lần trong năm (Mai Thò Kim Dung, 1998). Nhưng theo nghiên cứu mới đây
của chúng tôi thì mùa vụ sinh sản cá lăng nha có thể từ tháng 3 đến tháng 11, thời gian
tái thành thục của cá lăng nha là 2,5 tháng. Với điều kiện sinh sản nhân tạo ta có thể
cho cá sinh sản quanh năm.
15

2.1.5.3 Sức sinh sản
Theo Phạm Báu và Nguyễn Đức Tuân (1998), cá lăng có sức sinh sản thấp, hệ
số thành thục trung bình 7,48%; sức sinh sản tuyệt đối tăng theo tuổi cá từ 3 – 11 tuổi

nemurus) thành công vào tháng 9 năm 2002. năm 2003, Ngô Văn Ngọc và Bùi Minh
Phục đã hoàn chỉnh quy trình sản xuất giống cá lăng vàng. Sau đó, nghiên cứu sản xuất
giống cá lăng lai, cá lăng hầm (M.filamentus), cá lăng nha (M.wyckioides) đã thành
công do các tác giả Ngô Văn Ngọc, Lê Thò Bích Ngà, Nguyễn Thò Huệ, Đào Dương
Thanh, Đặng Thò Quyên Trinh, Lê Đại Quan.
2.3 Chất Kích Thích Sinh Sản (CKTSS) Dùng cho Cá Sinh Sản Nhân Tạo
2.3.1 HCG (Human Chorionic Gonadotropin)

HCG được phát hiện bởi Zondec và Ascheis vào năm 1927. HCG là kích dục tố
màng đệm hay kích dục tố nhau thai, chiết xuất từ nước tiểu hoặc nhau thai (đã nạo
trong kế hoạch hóa gia đình) của phụ nữ mang thai vào đầu thai kỳ.
HCG có tác dụng duy trì thể vàng, mang bản chất là một glycoprotein vì thế
việc chiết xuất HCG dựa vào nguyên lý tách protein tan trong nước.
HCG là loài kích dục tố dò chủng được dùng có hiệu quả cho nhiều loài cá.
Ngoài các loài cá mè, cá trê, HCG còn có tác dụng gây rụng trứng cho các loài
khác như: cá vền, cá trôi, cá bống, cá vàng, cá chình, cá bơn, cá bống tượng, cá chạch.
Đơn vò tính của HCG khi sử dụng trên cá là IU/kg (International unit).
17

2.3.2 GnRH (Gonadotropin Releasing Hormone)
GnRH là hormone phóng thích kích dục tố từ tuyến yên, nó còn có các tên khác
như GRH, LH – RHa, LH – RH (Luteinizing hormone – Releasing hormone), LRH,
FSH – RH. Là một hoạt chất tổng hợp tương tự một loại hormone nội sinh, GnRH
không có tác dụng trực tiếp lên tuyến sinh dục (buồng trứng, buồng tinh) mà thông qua
não thùy (tuyến yên) để kích thích sự phát triển của tuyến sinh dục cũng như gây chín
và rụng trứng. Khi tiêm GnRH cho cá, não thùy của cá tiết ra kích dục tố và chính kích
dục tố nội sinh của cá kích thích cá đẻ. Do tác dụng gián tiếp này mà GnRH có thời
gian hiệu ứng dài hơn so với các loại kích dục tố.
Từ việc xác đònh trình tự aminoacid (aa) trong cấu tạo của các GnRH, người ta
đã tạo ra những chất tương đồng gọi là GnRHa (analog) có hoạt tính đặc biệt cao được

cá. Để cá bố mẹ có thể thành thục, có hệ số thành thục cao ngoài điều kiện dinh dưỡng
tốt cần phải có môi trường thuận lợi cho sự phát triển. Như vậy, trong quá trình nuôi
vỗ, các yếu tố bên ngoài rất quan trọng. Tuy nhiên, các yếu tố này cũng ảnh hưởng
đáng kể đến quá trình chín, rụng trứng và tiết tinh ở cá.
Môi trường cho sự thành thục tuyến sinh dục và sự sinh sản của cá là một phức
hợp bao gồm nhiều yếu tố vật lý, hóa học, sinh học.
2.4.1 Thức ăn
Là nguồn vật chất cho sự sinh trưởng, cung cấp năng lượng cho sự trao đổi chất,
là nguyên liệu cho sự tích lũy noãn hoàng và tinh sào.
Chế độ dinh dưỡng tốt có thể làm cho cá phát dục, thành thục tốt và sinh sản
sớm.
Thành phần và chất lượng thức ăn khi nuôi vỗ cá có ý nghóa quyết đònh đến sự
thành thục, tỉ lệ thành thục và chất lượng sản phẩm sinh dục của cá.
2.4.2 Nhiệt độ
Nhiệt độ ảnh hưởng đến các phản ứng sinh hóa trong cơ thể.
Ở nhiệt độ thấp quá hay cao quá, cá không còn bắt mồi được và tuyến sinh dục
là nguồn chất dự trữ để duy trì sự sống của cá. Trong trường hợp này, tuyến sinh dục
ngưng phát triển và tiêu biến, sự sinh sản bò ảnh hưởng xấu.
Đối với mỗi loài cá có một khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển tuyến
sinh dục và sinh sản. Ngoài khoảng nhiệt độ ấy, cá có thể sống nhưng không thể thành
thục và sinh sản được.
19

Trong phạm vi nhiệt độ thích hợp thì nhiệt độ càng cao, càng rút ngắn thời gian
nuôi vỗ cá bố mẹ. Đối với cá đã thành thục hoàn toàn, sự thay đổi nhiệt độ môi trường
trong thời gian ngắn có ý nghóa như một yếu tố kích thích chuyển sang tình trạng sinh
sản, hoạt hóa bộ máy nội tiết sinh sản.
2.4.3 Quang kì
Là khoảng thời gian mặt trời chiếu sáng liên tục trong một ngày đêm. Tính mùa
vụ của sự thành thục và sinh sản của cá là tính thích nghi một cách vững chắc với

với miệng của nó.
2.5.1 Moina
Moina hay còn gọi là bo bo thuộc nhóm động vật không xương sống, lớp giáp
xác thấp (Entomostroca) sống chủ yếu ở các thủy vực nước ngọt như sông, suối, ao, hồ.
Thân hình có kích thước nhỏ 0,7 – 1mm hình bầu dục hoặc hình gần tròn, có vỏ giáp
trong suốt bao bọc cơ thể, không phân đốt rõ rệt, sống lơ lửng, bơi chậm, tập trung
thành từng đám.
Moina là một loại thức ăn quan trọng không thể thay thế được bằng các loại
thức ăn công nghiệp khác đối với hầu hết các loài cá ở giai đoạn cá mới biết ăn.
So với Artemia thì Moina có ưu điểm là dễ tìm, sẵn có, giá thành rẻ hơn đem lại
hiệu quả kinh tế cao hơn và đặc biệt là giá trò dinh dưỡng không kém so với Artemia.
2.5.2 Trùn chỉ
Trùn chỉ là động vật đáy thuộc nhóm giun ít tơ (Oligochaeta), có màu hồng, hình
sợi mảnh, dài và sống chung thành tập đoàn gồm nhiều cá thể kết lại với nhau thành
búi, chùm tỏa tròn hoạt động uốn lượn trong tầng nước để trao đổi khí và bài tiết.
Thường sống ở những nơi có mùn bã hữu cơ, những nơi nước chảy liên tục như cống
rãnh, ao, hồ, sông, nước thải sinh hoạt.
Trùn chỉ (Tubifex tubifex) có kích thước nhỏ, đường kính khoảng 0,1 – 0,3mm,
chiều dài 1 – 40mm, thích hợp cho miệng cá con và các loài cá có kích thước nhỏ.
Khác với những thức ăn nhân tạo, khi còn thừa sẽ bò hư và làm môi trường nước
bò dơ gây ô nhiễm và sản sinh nhiều vi khuẩn, thức ăn là trùn chỉ vẫn còn sống ngay cả
khi nhiệt độ nước còn 21,5
0
C (Davies, 1964; trích bởi Đào Dương Thanh, 2004). Trùn
chỉ sẽ tập trung thành đám trên nền đáy và tiếp tục làm thức ăn cho cá.
21

III. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời Gian và Đòa Điểm Thực Hiện Đề Tài
Đề tài được tiến hành từ tháng 3/2005 – 07/2005, tại Trại Thực Nghiệm Thủy

22

Số cá cái rụng trứng
Tỷ lệ rụng trứng (%) = 100
Số cá cái tham gia sinh sản
Tổng số trứng thu được
Sức sinh sản thực tế =
(trứng/kg) Tổng trọng lượng cá cái đẻ trứng
Số trứng thụ tinh
Tỷ lệ thụ tinh (%) = 100
Số trứng đẻ ra
Số cá bột mới nở
Tỷ lệ nở (%) = 100
Số trứng đã thụ tinh
Số cá cuối thí nghiệm
Tỷ lệ sống (%) = 100
Số cá ban đầu
Thời gian hiệu ứng được tính từ khi tiêm liều quyết đònh đến khi cá rụng trứng
đồng loạt, đơn vò là giờ.
3.3.3 Kỹ thuật sinh sản nhân tạo
3.3.3.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ
Cá bố mẹ được nuôi vỗ trong ao đất, diện tích 1.200m
2
, độ sâu mực nước 1,2m.
Thức ăn chủ yếu là cá tạp, ngoài ra còn cho ăn thức ăn công nghiệp Greenfeed.
Mỗi ngày cho ăn hai lần vào buổi sáng và buổi chiều, với khẩu phần ăn 3 – 5%
trọng lượng đàn cá.
Dùng que thăm trứng để kiểm tra, cá có trứng đạt giai đoạn bốn được chọn vào
bể xi măng (1,541,2m) chuẩn bò cho sinh sản.
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status