Kiểm tra chất lượng, phát hiện khuyết tật cọc khoan nhồi- Nguyên nhân- Giải pháp khắc phục
Đặt vấn đề
Cọc khoan nhồi đang được sử dụng rộng rãi tại nhiều công trình dân dụng, công
nghiệp và giao thông tại Việt nam. Loại cọc này có khả năng áp dụng thích hợp
cho các công trình có tải trọng lớn, trong các khu đô thị đông đúc Trong
những năm gần đây, ngành xây dựng công trình giao thông ở nước ta đã có
những tiến bộ vượt bậc. Cùng với các công nghệ thi công cầu tiên tiến như đúc
hẫng cân bằng, đúc đẩy, thi công cầu dây văng khẩu độ lớn, đã và đang trở nên
phổ biến thì công nghệ thi công cọc khoan nhồi cũng đã được sử dụng một cách
rộng rãi. Qua thực tế thi công cho thấy đã có nhiều sai sót về mặt kỹ thuật và
xẩy ra một số sự cố đáng tiếc. Điều đó cho thấy cần phải quan tâm tới công tác
quản lý, kiểm tra và đánh giá chất lượng cọc khoan nhồi và đề ra các giải pháp
khắc phục.
tình hình áp dụng các phương pháp kiểm tra cọc khoan nhồi
Tình hình áp dụng các phương pháp kiểm tra chất lượng và xác
định sức chịu tải cọc khoan nhồi trên thế giới :
Trên thế giới, các phương pháp kiểm tra chất lượng và xác định sức chịu tải
cọc khoan nhồi được quan tâm từ rất sớm. Đến nay đã có rất nhiều các
nghiên cứu lý thuyết, các phương pháp và thiết bị kiểm tra được áp dụng có
hiệu quả trong công tác quản lý chất lượng cọc khoan nhồi. Có nhiều hãng
chuyên sản xuất thiết bị và thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng
cọc nh PDI, LOADTEST của Mü, TNO của Hà Lan, Testconsult,
♦ Các phương pháp kiểm tra chất lượng cọc :
Các phương pháp kiểm tra chất lượng cọc khoan nhồi ban đầu chủ yếu dựa
vào nguyên lý phản hồi âm thanh, phản hồi xung. Năm 1983, Trung tâm thí
nghiệm động lực học ở Delft (Hà Lan) đã nghiên cứu, phát triển phương
pháp phản hồi âm thanh để kiểm tra độ đồng nhất thân cọc.
Năm 1977, Wetman đề xuất phương pháp phản hồi xung và đo trở kháng cọc
để xác định khuyết tật trong cọc và độ cứng của hệ cọc-đất nền. Đây chính là
cơ sở lý thuyết cho các thiết bị kiểm tra chất lượng cọc khoan nhồi nh là PIT
Kiểm tra chất lượng, phát hiện khuyết tật cọc khoan nhồi- Nguyên nhân- Giải pháp khắc phục
là hãng giữ độc quyền về sản xuất các thiết bị của phương pháp này.
Phương pháp thư tải cọc khoan nhồi mới nhất là “Phương pháp thư tải tĩnh
động STATNAMIC”. Phương pháp này được thí nghiệm lần đầu tiên vào
năm 1988 ở Canada. Từ năm 1989 nó đã bắt đầu dược ứng dụng trong thực tế
ở các nước Canada, Hà Lan, Nhật Bản, Năm 1995, Hội nghị quốc tế lần thứ
nhất về STATNAMIC tổ chức từ ngày 27-30/9 đã tập hợp gần 200 nhà khoa
học trên thế giới. Trong Hội nghị này đã thông báo các nghiên cứu lý thuyết
và thực nghiệm được tiến hành ở nhiều nước, đây cũng là diễn đàn để trao
đổi để hoàn thiện hơn phương pháp này. Hiện nay, hãng TNO của Hà Lan,
một hãng đi đầu trong nghiên cứu phương pháp STATNAMIC đang có hệ
thống thiết bị được sử dụng phổ biến nhất.
Tình hình áp dụng các phương pháp kiểm tra chất lượng và xác
định sức chịu tải cọc khoan nhồi ở Việt Nam :
ở nước ta trong những năm gần đây cọc khoan nhồi đã được sử dụng phổ
biến trong xây dựng nền móng các công trình xây dựng, giao thông,
cảng, Việc kiểm tra đánh giá chất lượng và sức chịu tải của cọc khoan nhồi
đã được quan tâm chú ý.
♦ Các phương pháp kiểm tra chất lượng cọc :
Phương pháp tia gama là phương pháp kiểm tra chất lượng cọc khoan nhồi
được sử dụng lần đầu tiên ở nước ta trong xây dựng cầu Việt Trì (vào đầu
những năm 90). Tuy nhiên nó có hạn chế về độ an toàn và bề dày bê tông đo
được, do đó không được áp dụng rộng rãi.
Hiện nay, các phương pháp kiểm tra chất lượng cọc khoan nhồi được sử dụng
phổ biến trong nước là phương pháp thư động biến dạng nhỏ (PIT, MIMP) và
phương pháp siêu âm truyền qua. Hầu hết các cọc khoan nhồi được kiểm tra
đều áp dụng đồng thời cả hai phương pháp này.
♦ Các phương pháp thư tải cọc khoan nhồi :
Phương pháp thư tải tĩnh là phương pháp được sử dụng đầu tiên để xác định
sức chịu tải cọc khoan nhồi.
Kiểm tra chất lượng, phát hiện khuyết tật cọc khoan nhồi- Nguyên nhân- Giải pháp khắc phục
lượng cọc. Việc khoan và dọn lỗ cọc, sau đó là cách giữ thành vách lỗ cọc là
những công đoạn quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng lỗ cọc tốt hay xấu.
Các chỉ tiêu về chất lượng lỗ cọc bao gồm vị trí, kích thước hình học, độ
nghiêng lệch, tình trạng thành vách và lớp cặn lắng ở đáy lỗ. Dưới đây trình
bày các thông số đánh giá chất lượng và phương pháp kiểm tra chóng.
Bảng Các thông số cần kiểm tra về lỗ cọc
TT Thông số kiểm
tra
Phương pháp kiểm tra
1 Tình trạng lỗ cọc
- Kiểm tra bằng mắt có thêm đèn dọi
- Dùng phương pháp siêu âm hoặc camera ghi chụp thành
lỗ cọc
2
Vị trí, độ thẳng đứng
và độ sâu
- Đo đạc so với mốc và tuyến chuẩn
- So sánh khối lượng đất lấy lên với thể tích hình học của
cọc
- Theo lượng dùng dung dịch giữ thành vách
- Theo chiều dài tời khoan
- Quả dọi
- Máy đo độ nghiêng, phương pháp siêu âm
3 Kích thước lỗ
- Mẫu, calip, thước xếp mở và tự ghi độ lớn nhỏ đường kính
- Theo đường kính giữ ống thành
- Theo mức độ của cánh mũi khoan khi mở rộng đáy
4
Tình trạng đáy lỗ và
độ sâu của mũi cọc
φφ
;
Trong đó :
φ - đường kính lỗ cọc đo được, m;
φ
0
- đường kính lỗ cọc lúc đầu, m;
∆V - Biến đổi điện áp, V;
k - hệ số m/Ω;
I - Cường độ dòng điện, A.
Tình trạng thành vách và độ nghiêng cọc :
Khi cọc nhồi được tạo lỗ trong điều kiện khô ráo thì việc kiểm tra tình trạng
thành vách, độ thẳng đứng, độ sâu, lớp đất rời nằm ở đáy lỗ, lắp đặt lồng cốt
thép là khá dễ dàng.
Khi thi công trong điều kiện có nước ngầm và có dùng dung dịch sét để giữ
thành thì tình trạng thành vách, độ thẳng đứng và độ dày lớp cặn lắng chỉ có
các thiết bị, máy móc mới có thể kiểm tra được.
Phương pháp sóng âm :
Nguyên lý làm việc là dựa vào hiệu ứng điện áp của tinh thể mà phát sinh ra
sóng siêu âm, thông qua bộ chuyển đổi năng lượng đặt ở đầu dò, thu được
các đại lượng :
Kiểm tra chất lượng, phát hiện khuyết tật cọc khoan nhồi- Nguyên nhân- Giải pháp khắc phục
C
L
t =
;
Trong đó : t - thời gian sóng âm truyền qua môi trường, giây;
L - đoạn đường truyền của sóng (âm trình), m;
C - Vận tốc của sóng âm, m/giây.
4
Kiểm tra chất lượng, phát hiện khuyết tật cọc khoan nhồi- Nguyên nhân- Giải pháp khắc phục
Bộ phận chủ yếu của máy phát sóng âm là thiết bị rung. Điện mạch xung có
tần số nhất định mà máy rung sinh ra sau khi được phóng đại chuyển thành
sóng âm nhờ đầu dò phát. Tần số rung của thiết bị có thể điều chỉnh, thu được
sóng âm của các loại tần số để đáp ứng các yêu cầu kiểm tra khác nhau.
Bố trí thiết bị DM-68 trên miệng lỗ khoan
Bộ phận khuếch đại, phóng đại, chỉnh hình và hiển thị tín hiệu điện do đầu dò
thu truyền đến, hiển thị thời gian bằng trục thời gian hoặc hiển thị bằng số.
Người ta có thể dựa vào độ dài của đoạn sáng giữa điểm ®µu tiên của sóng
và tín hiệu đầu tiên để xác định thời gian truyền sóng trong vật chất của môi
trường.
Các thiết bị dò gồm có 2 cặp tế bào đầu dò cảm ứng, mỗi cặp dùng cho một
trục đo. Những trục này gọi là A-A’ và B-B’ định hướng trực giao cho mỗi
cặp và sẽ được thực hiện tương đẳng với 4 điểm Compa đã đánh dấu. Thiết bị
KODEN DM-684 được định tâm trên miệng hè khoan sao cho tâm của thiết
bị trùng với tâm của hè khoan bằng cách dùng thước đo đến hai trục sau đó
đánh dấu sơn lên sàn công tác quy định trục hướng đo.
Ghi nhận số liệu :
Cùng một thời gian đo, chỉ có thể đọc cho một cặp tế bào đầu dò cảm biến
thể hiện cho một trục. Trong quá trình hạ đầu dò xuống hè khoan, các tế bào
cảm ứng sẽ phát ra tín hiệu sóng siêu âm một cách định kỳ. Các sóng siêu âm
Kiểm tra chất lượng, phát hiện khuyết tật cọc khoan nhồi- Nguyên nhân- Giải pháp khắc phục
khi gặp thành vách phản hồi lại sẽ được đo bởi một tế bào cảm ứng tương tự.
Ngay khi đó các tín hiệu phản hồi sẽ được chuyển trực tiếp đến máy và được
in ra giấy. Bản tín hiệu in ra giấy là giá trị thu được dọc theo chiều sâu hè
khoan. Tư lệ theo phương đứng trên bản in sẽ cho biết được chính xác vị trí
nào trong hè khoan (theo chiều sâu) có khuyết tật hay thành vách bị lệch hay
nhô ra hoặc mở rộng, thu hẹp Thiết bị KODEN DM-684 có thể đo được hè
khoan đường kính đến 4 m, chiều sâu đến 110 m.
Theo định luật Ôm, ta có :
RR
R
VV
x
+
=
12
;
Trong đó : V
1
- điện áp ổn định của dòng xoay chiều, V;
V
2
- điện áp đo được, V;
R - điện trở điều chỉnh, Ω;
R
x
– trị số điện trở của đất ở đáy lỗ, Ω.
Giá trị R
x
phụ thuộc vào môi trường, nó có các giá trị khác nhau tương ứng
với các giá trị V
2
khác nhau đọc được ở máy phóng đại.
Cách đo :
3
4
2
1
V
1
R
x
V
2
R
1
Sơ đồ nguyên lý đo cặn lắng bằng phương pháp điện trở
1-Đầu đo; 2-Bộ khuyÕch đại; 3-Bộ chỉ thị.
Phương pháp điện dung :
Dựa vào nguyên lý khoảng cách giữa hai cực bản kim loại và kích thước giữa
chóng không thay đổi thì điện dung và suất điện giải của môi trường tư lệ
thuận với nhau; suất điện giải của môi trường nước+dung dịch giữ thành+cặn
lắng có sự khác biệt, do đó từ sự thay đổi của suất điện giải ta suy được
chiều dày lớp cặn lắng.
Hình dưới trình bày nguyên lý xác định chiều sâu lớp cặn lắng bằng phương
pháp điện dung.
1 - Đầu đo;
2 - Dây điện;
3 - Nguồn điện khởi động;
4 - Bộ chỉ thị;
Kiểm tra chất lượng, phát hiện khuyết tật cọc khoan nhồi- Nguyên nhân- Giải pháp khắc phục
5 - Cặn lắng.
Sơ đồ nguyên lý đo cặn lắng bằng phương pháp điện dung
Phương pháp âm (Sonic) :
Phương pháp này dựa trên nguyên lý phản xạ âm khi gặp các mặt phẳng khác
nhau trên đường truyền. Phương pháp này có đầu dò đảm nhận cả chức năng
phát và thu âm thanh. Khi sóng gặp lớp cặn lắng phản xạ lại, thời gian ghi
nhận được lúc này là t
Chất lượng xi măng;
Mức hỗn hợp bê tông trong lỗ khoan;
Độ sâu ngập ống dẫn bê tông trong hỗn hợp bê tông;
Khối lượng bê tông đã đổ trong lỗ cọc;
Cường độ bê tông sau 7 và 28 ngày.
Kiểm tra chất lượng cọc sau thi công :
Giới thiệu chung :
Chất lượng cọc sau khi thi công thường thể hiện bằng những chỉ tiêu chất
Kiểm tra chất lượng, phát hiện khuyết tật cọc khoan nhồi- Nguyên nhân- Giải pháp khắc phục
lượng sau :
Độ nguyên vẹn (tính toàn khối của cọc);
Sự tiếp xúc giữa đáy cọc và đất nền;
Sự tiếp xúc giữa thân cọc và đất đá xung quanh.
Hiện nay, có rất nhiều phương pháp kiểm tra chất lượng cọc khoan nhồi.
Dưới đây trình bày một số phương pháp kiểm tra chất lượng cọc sau thi công
đã được sử dụng trên thế giới và ở Việt Nam. Các phương pháp phổ biến như
phương pháp thư động biến dạng nhỏ, phương pháp siêu âm truyền qua sẽ
được giới thiệu kỹ. Một số phương pháp khác ít phổ biến hơn sẽ chỉ trình bày
về nguyên lý và cách thức kiểm tra chứ không đi sâu về các quy trình kiểm
tra cơ thể.
Phương pháp thư động biến dạng nhỏ :
Nguyên lý phương pháp :
Phương pháp thư động biến dạng nhỏ dựa trên nguyên lý phản xạ khi gặp trở
kháng thay đổi của sóng ứng suất, gây ra bởi tác động của lực xung tại đầu
cọc, khi truyền dọc theo thân cọc.
Tùy theo việc đo đạc và phân tích số liệu thu dược mà có thể chia ra thành 2
phương pháp như sau :
Phương pháp phản hồi âm thanh (Sonic Echo Test-SET) :
Phương pháp phản hồi âm thanh được phát triển ở Trung tâm thí nghiệm
Động lực học ở Delft, Hà Lan. Ưu điểm của phương pháp này là việc kiểm
Kiểm tra chất lượng, phát hiện khuyết tật cọc khoan nhồi- Nguyên nhân- Giải pháp khắc phục
Nếu có một khuyết tật trong cọc, giá trị L nhận được từ sự phản hồi đầu tiên
sẽ nhỏ hơn chiều dài của cọc và sẽ là chiều sâu thực tế của khuyết tật. Trong
hầu hết các thiết bị người ta thường lập trình để hiển thị số liệu chiều sâu này
bằng việc nhân giá trị thời gian nhận được với C/2.
Phương pháp ứng xử nhanh (Transient Response Method-TRM) :
Phương pháp này cũng dùng để kiểm tra độ nguyên vẹn của cọc khoan nhồi
tương tự như phương pháp phản hồi âm thanh, tuy nhiên việc xử lý số liệu
của phương pháp này công phu hơn và do đó có thể cho kết quả tốt hơn.
Dùng búa tác động một lực va đập vào đầu cọc, dao động đầu cọc và lực va
đập tác dụng được ghi lại theo thời gian. Hai tín hiệu này được xử lý trong
máy tính bằng phần mềm phân tích sử dụng phương pháp biến đổi nhanh
Fourier. Số liệu xử lý được xuất ra dưới dạng biểu đồ quan hệ giữa tư lệ vận
tốc đầu cọc (V
0
) / lực đầu cọc (F
0
) và tần số giao động xung (f). Trên hình
dưới thể hiện một dữ liệu đầu ra lý tưởng của phương pháp này.
Số liệu xuất ra này được giải thích nh sau :
Thứ nhất, đoạn dốc đầu tiên của đường cong có quan hệ với độ cứng dọc trục
của cọc. Nếu độ dốc đoạn này bé hơn so với các cọc khác cùng kích thước đã
được kiểm tra đạt chất lượng tốt, thì trong cọc này có thể đã xuất hiện khuyết tật.
Từ số liệu này có thể xác định được độ cứng động mũi cọc theo công thức :
2 /( / )
M M
E f V f
π
=
®é cøng cña cäc/®Êt
L
C
f
2
=∆
M
Đầu ra lý tưởng của phương pháp ứng xử nhanh
Thứ hai, số gia tần số
∆
f giữa hai điểm lồi của đồ thị liên hệ với khoảng cách L
từ đầu cọc tới điểm mà năng lượng sóng bị phản xạ trở lại (các khuyết tật lớn
hoặc đáy cọc) theo công thức :
L
C
f
2
=∆
;
Trong đó :
∆f - thời gian hành trình của sóng âm, giây;
L - chiều dài cọc hoặc khoảng cách từ đầu cọc đến khuyết tật, m;
C - Vận tốc của xung trong bê tông, m/giây.
Từ công thức này dễ dàng xác định được, chiều dài cọc hoặc vị trí của khuyết
tật trong cọc.
Tín hiệu vận tốc âm thanh và mặt cắt dọc cọc
Các tín hiệu từ các gia tốc kế sẽ được chuyển đến thiết bị ghi, biến đổi và
trình diễn số liệu theo một hàm của thời gian.
Với việc phân tích sâu hơn các số liệu thu được của các phương pháp trên, và
cho rằng tư trọng và vận tốc sóng trong bê tông là không đổi, người ta có thể
thể hiện được biểu đồ của diện tích mặt cắt ngang như là một hàm của độ sâu
cọc. Kết quả của việc phân tích số liệu này sẽ đưa ra được các mặt cắt dọc
cọc cho thấy được đường kính trung bình của cọc theo độ sâu. Trên hình thể
hiện các mặt cắt dọc của cọc đo được theo phương pháp này.
Ngoài bộ thiết bị kiểm tra độ đồng nhất thân cọc PIT của Mü, ở hiện nay ở
Việt Nam đã có hệ thống thiết bị MIMP-15 kiểm tra chất lượng cọc theo
nguyên lý trở kháng cơ học (MIMP) của Pháp theo Tiêu chuẩn NF 94-160.4
Nền : Khảo sát và thử nghiệm - Phần 4 : Phương pháp dùng trở kháng
Ngoài các thông tin về khuyết tật của cọc nh phương pháp PIT, phương pháp
này còn cho phép xác định được độ cứng đàn hồi của hệ cọc-nền, tham số
Kiểm tra chất lượng, phát hiện khuyết tật cọc khoan nhồi- Nguyên nhân- Giải pháp khắc phục
dùng để tính móng trên nền đàn hồi.
Trình tự tiến hành :
Chuẩn bị đầu cọc :
Việc chuẩn bị phần trên đầu cọc nhằm mục đích :
Tiếp xúc thuận tiện với đầu cọc (tháo bỏ cốt đai);
Loại bỏ phần bê tông bị rỗ, xốp hoặc nứt, làm vệ sinh một mặt phẳng nằm ngang
và không ngập nước;
Tạo được hai diện tích phẳng có đường kính từ 10 cm đến 15 cm, một ở tâm và
một ở chu vi;
Thử nghiệm :
Đặt thiết bị thu trên đầu cọc có dính một chất làm tiếp xúc để đảm bảo tiếp nhận
tốt các sóng truyền cơ học;
Kiểm tra ảnh hưởng của các nguồn dao động bên ngoài;
Tác dụng một lực va đập lên mặt phẳng giữa tâm cọc theo hướng song song với
Thứ năm, phương pháp này với các công nghệ hiện tại chỉ có thể đưa ra được độ
sâu của khuyết tật mà không đưa ra được hướng của nó so với tim cọc. Đây
chính là một hạn chế rất lớn của phương pháp này vì đối với cọc chịu cả lực
ngang thì các vết nứt nhỏ ở vùng chịu nén sẽ bất lợi hơn trong vùng chịu kéo.
Phạm vi áp dụng :
Phương pháp thư động biến dạng nhỏ được xem nh là một phương pháp thô
chỉ có thể xác định được các khuyết tật lớn nh là đất lẫn vào cọc nhiều hoặc
đáy cọc khoan chưa đến độ sâu thiết kế. Trên hình dưới thể hiện hình ảnh của
một khuyết tật mà phương pháp này có khả năng phát hiện ra được với độ tin
cậy cao. Phương pháp này cũng chỉ thích hợp với các cọc có chiều dài nhỏ
hơn 30 lần đường kính.
Baker sau nhiều thí nghiệm đã khuyến nghị rằng phương pháp thư động biến
dạng nhỏ không nên sử dụng như là phương pháp đầu tiên để kiểm tra độ
nguyên vẹn của các cọc khoan nhồi khi mà sức chịu tải đáy cọc chiếm
khoảng 40% sức chịu tải của cọc.
Kiểm tra chất lượng, phát hiện khuyết tật cọc khoan nhồi- Nguyên nhân- Giải pháp khắc phục
Khuyết tật nghiêm trọng mà phương pháp
thư động biến dạng nhỏ có thể phát hiện được
Một biến thể của phương pháp này được được Olson phát triển năm 1993 gọi
là phương pháp sóng uốn. Phương pháp này được sử dụng để phát hiện
khuyết tật bằng việc tác động lên thành cọc hoặc kết cÂu phía trên đầu cọc
khi không thể tiếp cận được đầu cọc.
Phương pháp chấn động song song (Parallel Seismic Test) :
Trong những trường hợp không tiếp cận được đầu cọc, hoặc cọc quá dài thì
người ta phải sử dụng một phương pháp khác gọi là phương pháp chấn động
song song. Mô hình thí nghiệm của phương pháp này được thể hiện trên hình
Mô hình phương pháp chấn động song song
Trong phương pháp này, người ta dùng búa tác động lên một điểm của kết
cấu phía trên cọc, sóng tạo ra sẽ truyền dọc theo cọc xuống phía dưới. Một
phần năng lượng của sóng trong cọc sẽ được truyền sang đất đá gần cọc. Thời
hiệu thu được. Ví dụ trên hình dưới cho thấy biên độ của các tín hiệu máy dò
âm thanh trong đất được vẽ trên đồ thị với tư lệ thời gian bình thường. Sự
truyền sóng ứng suất tới cũng nh sóng ứng suất phản xạ từ đáy cọc có thể
được thấy ở mỗi vị trí của máy dò âm thanh. Trên đồ thị, trục ngang là trục
thời gian, các đường thẳng nối các điểm trên các đường cong cắt nhau tại độ
sâu từ đó sóng âm phản xạ, có thể xác định được mặt chiếu đứng của cọc.
Nếu sóng phản xạ tới từ một cấp độ cao hơn hoặc các tín hiệu bị cản trở tại
một hoặc nhiều cấp trước khi phản xạ tại đáy cọc thì cọc có thể đã có khuyết
tật.
So với phương pháp phản hồi âm thanh thì các bộ thu nhận tín hiệu của
phương pháp này có ưu điểm hơn do giảm được độ nhiễu tín hiệu, có thể cài
đặt được nhiều các bộ thu và tất nhiên cũng có thể bố trí bộ thu ở đáy cọc.
Tuy nhiên phương pháp này cũng có những hạn chế nh phương pháp phản
Kiểm tra chất lượng, phát hiện khuyết tật cọc khoan nhồi- Nguyên nhân- Giải pháp khắc phục
hồi âm thanh. Ngoài ra giá thành của nó đắt hơn và việc sử dụng phương
pháp này phải được quyết định trước khi thi công cọc.
Một kết quả điển hình của phương pháp
Phương pháp khoan và lấy mẫu (Drilling and Coring) :
Một phương pháp nữa được dùng để kiểm tra chất lượng cọc khoan nhồi là
phương pháp khoan và lấy mẫu. Các phương pháp này đưa ra được tương đối
xác thực các đặc điểm của bê tông trong một thể tích tương đối nhỏ của cọc,
tuy nhiên nó lại mất nhiều thời gian và tốn kém và đôi khi cũng có thể nhầm
lẫn.
Một vấn đề của phương pháp này là việc điều chỉnh hướng mũi khoan. Lỗ
khoan đôi khi đi trệch ra ngoài thành cọc hoặc gặp phải hoặc nhiều thanh cốt
thép. Để thực hiện phương pháp một cách chính xác này cần phải có những
người có kinh nghiệm và các thiết bị phù hợp .
Phương pháp khoan nhanh hơn so với phương pháp lấy mẫu nhưng các thông
tin thu được lại ít hơn. Chất lượng bê tông được khoan đôi khi có thể suy
luận ra từ mức độ khoan. Nếu khi khoan mà khoan bị tụt đột ngột xuống một