Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Viện khkt nông nghiệp miền nam
Báo cáo tổng kết đề tài nhánh
xây dựng mô hình chăn nuôi lợn khép kín
tại huyện củ chi, tp. Hồ chí minh
_____________________________________
thuộc đề tài cấp nhà nớc mã số kc 06.06
nghiên cứu một số giải pháp khoa học công nghệ và thị
trờng nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thịt lợn
Chủ nhiệm đề tài: ts . đỗ văn quang
thác tốt. Mặc dù vậy, sản phẩm chăn nuôi lợn ở nước ta hầu như chưa xuất khẩu được vì chưa
đạt tiêu chuẩn quốc tế. Hơn nữa việc đầu tư phát triển chăn nuôi lợn ở vùng nông thôn chưa
được chú trọng nhiều, chăn nuôi ở nông thôn chủ yếu là chăn nuôi nhỏ qui mô hộ gia đình với
hình thức chính là tận dụng các phụ phế phẩm trồng trọt và lao động nông nhàn, mà phương
thức này chỉ phù hợp với các giống lợn đòa phương có năng suất và chất lượng thòt thấp. Vì thế
sản phẩm thòt lợn của nước ta chưa đủ sức cạnh tranh được với các nước khác trong khu vực
cũng như trên toàn thế giới. Chính vì vậy mà cần thiết phải nghiên cứu xây dựng các mô hình
chăn nuôi lợn tiên tiến, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi để nâng cao năng
suất và chất lượng sản phẩm, từ đó tuyên truyền, quảng bá và hướng dẫn mở rộng cho người
chăn nuôi ở những nơi có điều kiện áp dụng theo các mô hình đã xây dựng nhằm sản xuất
được sản phẩm thòt lợn đạt tiêu chuẩn trong nước và quốc tế để đáp ứng nhu cầu người tiêu
dùng trong nước và cho xuất khẩu là việc làm rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Xây dựng mô hình chăn nuôi lợn khép kín tại Huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí
Minh.
- Chuyển giao những tiến bộ mới về giống, chuồng trại, phương thức chăn nuôi, vệ sinh
môi trường, an toàn dòch bệnh, sử dụng thức ăn chăn nuôi phù hợp với đòa phương nhằm nâng
cao năng suất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, đáp ứng được các tiêu chuẩn về thòt xuất
khẩu.
2
III. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
A/ Nội dung
1. Điều tra, khảo sát trình độ chuyên môn và khả năng tiếp thu tiến bộ kỹ thuật trong
chăn nuôi lợn của các nông hộ trong vùng tham gia đề tài.
2. Chọn ba hộ chăn nuôi lợn có đủ các điều kiện về trình độ, khả năng chuyên môn, cơ
sở vật chất và số đầu lợn nái của mỗi hộ ở vùng điều tra để tiến hành chuyển giao các tiến bộ
chuyển chuồng hay xuất bán lợn.
- Giới thiệu các mô hình hầm ủ bioga, hướng dẫn họ xây dựng hầm ủ bioga để xử lý
chất thải, giảm tối đa gây ô nhiễm môi trường.
- Mở sổ sách theo dõi lòch tiêm phòng, tình hình dòch bệnh và công tác thú y.
3
* Chuồng trại
- Căn cứ vào điều kiện thực tế của từng hộ chăn nuôi để giới thiệu các mô hình chuồng
trại: Chuồng nền hay chuồng lồng, chuồng sàn, chuồng cá thể, máng ăn và máng uống tự
động.
Tùy theo điều kiện mặt bằng, vò trí đòa lý, điều kiện kinh tế của các hộ chăn nuôi để
hướng dẫn họ nên xây dựng hay cải tiến theo mô hình chuồng nuôi lợn kết hợp trồng cây và ao
cá, mô hình chuồng nuôi công nghiệp, mô hình chuồng nuôi khép kín ổn đònh nhiệt.
* Phương thức chăn nuôi
- Giới thiệu, hướng dẫn các hộ chăn nuôi thực hiện các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng
từng loại lợn, đảm bảo tối ưu các điều kiện để lợn sinh trưởng và phát triển.
- Phân tích và tham mưu cho các trang trại nên áp dụng phương thức chăn nuôi theo
kiểu công nghiệp tập trung hay kết hợp (VAC).
* Đánh giá hiệu quả của từng mô hình đặc trưng.
B/ Phương pháp tiến hành
1. Điều tra khảo sát lựa chọn hộ
Điều tra khảo sát ở một số xã của Huyện Củ Chi, xác đònh những hộ có điều kiện về
đất đai, tiền vốn, trình độ, lực lượng lao động chuyên môn để xây dựng mô hình phù hợp với
yêu cầu đặt ra.
2. Hướng dẫn các chủ hộ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn
- Áp dụng thụ tinh nhân tạo cho đàn lợn.
- Sử dụng các thiết bò tiên tiến như chuồng lồng, núm uống tự động.
- Hướng dẫn áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong chế biến thức ăn như cách chọn lựa
nguyên liệu, cân đối khẩu phần, phối trộn thức ăn cho từng loại lợn, chú ý sử dụng các nguyên
liệu sẵn có của đòa phương như khoai mỳ, tấm, cám, bắp, đậu nành.
STT Họ và tên Đòa chỉ hộ Số nái Số thòt
1 Nguyễn Minh Tâm Xã Phước Vónh An, Củ Chi 60 300
2 Trần Văn Xí Xã Phước Thạnh, Củ Chi 18 120
3 Trần Văn Triếu Xã Phước Thạnh, Củ Chi 15 100
Tổng cộng 93 520
* Số liệu tháng 10 năm 2003
Hầu hết các hộ chăn nuôi trên đây đều chưa mở sổ sách theo dõi năng suất sinh sản
cũng như theo dõi dòch bệnh và chích ngừa cho lợn. Tuy nhiên theo đánh giá của các chủ hộ
thì các chỉ tiêu năng suất của lợn ở các hộ đều ở mức trung bình trong khu vực. Điều đáng chú
ý là hộ nào đã có chú ý thực hiện công tác chăm sóc nuôi dưỡng tốt thì tỷ lệ hao hụt từ sơ sinh
đến cai sữa thấp như hộ ông Tâm đồng thời trọng lượng lợn con cai sữa (28 ngày) cao hơn
(khoảng 7 kg) so với các hộ khác (khoảng 6,5 kg). Đặc biệt hộ ông Triếu do ít chú ý hơn đến
kỹ thuật, hơn nữa điều kiện chuồng nuôi chưa đảm bảo tốt do đó tỷ lệ hao hụt từ sơ sinh đến
cai sữa cao nhất (khoảng 13%). Đối với các chỉ tiêu tăng trọng lợn thòt cũng như hệ số chuyển
hóa thức ăn ở hộ ông Tâm cũng tốt hơn các hộ khác do hộ này đã có nhiều chú ý về vệ sinh
thú y, quản lý chặt chẽ và biết thực hiện tốt các quy trình chăm sóc nuôi dưỡng hơn các hộ kia. 2. Tổ chức hướng dẫn thực hiện công tác giống
- Trên cơ sở đánh giá chất lượng đàn giống hiện có của các hộ, tất cả các hộ đã được
chọn lựa đều nuôi lợn nái giống Yorshire, Landrace, Yorshire x Landrace, mua từ Trại giống
Cấp I, từ trại France Hybrid và sử dụng nguồn tinh phối của các cơ sở chăn nuôi đực giống,
giống đực phối chủ yếu là Duroc, Landrace, Yorshire và PD.
Hộ ông Nguyễn Minh Tâm thực hiện khá tốt công tác giống, biết chọn lựa những con
giống tốt để sử dụng, hộ ông Trần Văn Xí và Trần Văn Triếu với qui mô nhỏ, vì thế chưa quan
tâm nhiều đến vấn đề này. Mặc dù vậy, chưa có hộ nào có sổ sách theo dõi chi tiết từng con
giống, chưa theo dõi kỹ các chỉ tiêu sinh sản, tình hình dòch bệnh và công tác thú y của trại,
±
0,05 1,30
±
0,05 1,30
±
0,05
5 Số con cai sữa/ổ (con) 8,85
±
0,27 8,8
±
0,25 8,62
±
0,25
6 T.lượng BQ cai sữa(kg) 6,95
±
0,15 6,65
±
0,2 6,53
±
0,25
7 Tỷ lệ hao hụt (%) 9,32 9,23 10,95
8 Số lứa đẻ nái/năm(lứa) 2,14
±
0,05 2,10
±
0,05 2,10
±
0,07
9 SCCS nái/năm (con) 18,94
±
tiết kiệm không nhỏ đối với một cơ sở có qui mô chăn nuôi nhỏ. Điều đặc biệt quan trọng là sử
dụng thức ăn tự trộn đã hòan toàn kiểm soát được chất lượng nguyên liệu, điều chỉnh được
thành phần dinh dưỡng của thức ăn cho phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của từng loại lợn, từng
lứa tuổi lợn, kiểm soát được việc dùng các chất kháng sinh, hormon, đảm bảo sản phẩm thòt
lợn sản xuất ra không có tồn dư các chất độc hại.
Riêng hộ ông Trần Văn Xí và Trần Văn Triếu đến nay chưa đủ điều kiện kinh tế để
đầu tư, vì thế vẫn phải mua thức ăn đậm đặc hoặc thức ăn hoàn chỉnh của các nhà máy chế
biến bởi vì khi mua thức ăn hoàn chỉnh hay thức ăn đậm đặc của cơ sở chế biến thì họ sẽ
không phải trả tiền ngay mà có thể thiếu hàng tháng, thậm chí cơ sở sản xuất sẵn sàng cho họ
nợ cho đến khí xuất bán lợn thòt thì họ mới thu tiền, vì vậy hiệu quả chăn nuôi của các hộ này
chưa cao.
Bảng 3.
Tăng trọng và chi phí thức ăn cho lợn mô hình
STT CHỈ TIÊU Ô. TÂM Ô. XÍ Ô.TRIẾU
1 Tổng số lợn theo dõi (con) 320 120 80
2 Trọng lượng ban đầu (kg) 22,10
±
0,52 21,28
±
0,26 20,54
±
0,46
3 Trọng lượng xuất bán (kg)
97,00
±
0,61
95,25
±
0,30
119
11.613
±
97* Giá thức ăn thời điểm tháng 12 năm 2004
Theo đánh giá của các chủ trại cũng như qua thực tế ở các cơ sở chăn nuôi trên, chúng
tôi thấy đối với các trang trại chăn nuôi tập trung với quy mô vừa và nhỏ, nếu được hướng dẫn
kỹ thuật hoàn chỉnh từ khâu chọn giống, chăm sóc nuôi dưỡng cho đến tự sản xuất thức ăn sẽ
mang lại hiệu quả tốt nhất, họ sẽ tự chủ động được nguồn thức ăn cho trang trại của mình và
kiểm soát được thành phần nguyên liệu cũng như tiết kiệm chi phí thức ăn. Tiêu biểu trong số
hộ trên đây là hộ ông Nguyễn Minh Tâm đã phát huy tốt việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào
thực tế do đó hiệu quả chăn nuôi cao hơn so với các hộ khác.
4. Công tác thú y
Do được hướng dẫn chi tiết cách lập sổ sách, lên lòch chích ngừa cho từng đối tượng lợn
theo đònh kỳ đối với các loại vaccin chủ yếu như tụ huyết trùng, dòch tả, FMD,
E.coli
,
parvovirut; vì thế các hộ mô hình đã thực hiện rất tốt việc chích ngừa cho đàn lợn. Tình hình
dòch bệnh trong năm qua đã không xảy ra, tỷ lệ tiêu chảy của lợn giảm đáng kể, tỷ lệ hao hụt
giảm rất nhiều so với trước khi tham gia mô hình. Đây là một trong những nguyên nhân giảm
chi phí chăn nuôi, nâng cao hiệu quả kinh tế.
7
Tuy nhiên, cả 3 hộ chăn nuôi trên, chủ hộ đều tự làm công tác thú y, tự làm công tác
Sau khi tham khảo thêm một số nơi, ông Trần Văn Xí đã đầu tư xây dựng chuồng nuôi lợn thòt
ra khu riêng biệt và sử dụng máng ăn bán tự động, dùng núm uống, vì thế đến nay tình hình
chăn nuôi lợn của hộ gia đình ông Xí đã cải thiện rất nhiều.
Trong số 3 hộ này thì hộ ông Trần Văn Xí và Trần Văn Triếu được xây dựng liền sát
với khu dân cư, công tác phòng ngừa dòch bệnh gặp khó khăn hơn. Vì thế tỷ lệ hao hụt do dòch
bệnh ở các hộ này cao hơn hộ ông Nguyễn Minh Tâm. Đây là vấn đề cần chú ý khi quy hoạch
xây dựng trang trại chăn nuôi.
Với vùng chăn nuôi lợn được quy hoạch tại Củ Chi, việc xây dựng các trang trại nhỏ có
quy mô từ 15 nái đến 50 nái là thích hợp, vừa phù hợp về khả năng áp dụng tiến bộ kỹ thuật và
quản lý, vừa phù hợp với điều kiện chung về đất đai và tiền vốn của từng hộ gia đình cũng như
việc đầu tư thu mua nguyên liệu và tự phối trộn thức ăn hoàn chỉnh cho lợn và tiêu thụ sản
phẩm.
86. Hiệu quả kinh tế và xã hội
Trong thời gian thực hiện đề tài, do giá lợn thòt trên thò trường cao, do đó cả 3 hộ đều
sản xuất lợn con để nuôi thòt (khoảng 90%), phần bán giống ra ngoài chỉ chiếm khoảng 10%
cho các hộ bà con thân thích. Tính đến tháng 4 năm 2005, số lượng đầu lợn ở các hộ như sau:
Bảng 4.
Số đầu lợn trước và sau khi thực hiện mô hình
TRƯỚC TRIỂN KHAI SAU TRIỂN KHAI
STT HỌ VÀ TÊN
Lợn nái Lợn thòt Lợn nái Lợn thòt
1 Nguyễn Minh Tâm 60 300 80 450
2 Trần Văn Xí 18 120 25 150
3 Trần Văn Triếu 15 100 15 120
Tổng cộng 93 520 120 720
Sau gần hai năm, số đầu lợn nái ở các hộ đều tăng lên, số nái tăng lên một phần được
707.200 681.600 656.000
-
4 Chi phí T. ăn (đồng/con) 769.520 840.800 840.800 -
5 Chi phí thú y (đồng/con) 18.000 21.000 32.000 -
6 Chi phí nhân công (đ/con) 30.000 30.000 30.000 -
7 Giá bán (đồng/con) 2.350.000 2.300.000 2.300.000 -
8 Hạch toán (đồng) + 825.280 + 726.600 + 741.200 -
* Bình quân khu vực – theo số liệu điều tra của Phòng nghiên cứu Tiểu gia súc – Viện KHKT
NN miền Nam năm 2002
9
* Giá lợn con giống tính theo thời điểm tháng 4 năm 2004 là 32 000 đồng/kg, giá lợn thòt tính
theo thời điểm tháng 12 năm 2004
Tăng trọng bình quân ngày của lợn thòt ở hộ ông Tâm và ông Xí cao hơn, nhưng hộ ông
Triếu chỉ tương đương mặt bằng chung cả khu vực. Sở dó như vậy là vì điều kiện chăm sóc,
nuôi dưỡng ở hai hộ này tốt hơn, con giống được chú ý chọn lọc kỹ hơn, tinh lợn giống phối ở
hai hộ này chủ yếu là Duroc hoặc Pietrain x Duroc hay SP.
Đồng thời với các chỉ tiêu kỹ thuật tốt thì các chỉ tiêu kinh tế cũng tốt theo. Mặc dù
chưa tính hết các chi phí, song kết quả cũng cho thấy, tiền lời trong chăn nuôi lợn thòt ở hộ ông
Tâm là cao nhất sau đó mới đến hộ ông Triếu và ông Xí.
Qua tất cả các chỉ tiêu về kinh tế kỹ thuật, chúng tôi thấy rằng mô hình trang trại có
chú ý đầu tư như hộ ông Tâm rõ ràng mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Tuy nhiên nếu hạch
toán đầy đủ các khoản thu ngoài sản phẩm chính từ lợn thì chúng tôi thấy mô hình hộ ông
Triếu cũng mang lại hiệu quả kinh tế không thấp. Như vậy, tùy điều kiện thực tế từng vùng,
từng hộ và điều kiện kỹ thuật từng vùng mà có biện pháp áp dụng mô hình nào cho thích hợp.
Một điều đáng ghi nhận là các hộ được hỗ trợ một phần về vac xin, tinh lợn giống do
đó việc phòng ngừa dòch bệnh trong thời gian qua khá tốt, không có hiện tượng dòch bệnh xảy
ra, việc lai tạo ra những con giống tốt từ nguồn tinh hỗ trợ đã phần nào nâng cao được năng
suất đàn lợn. Hầu hết các hộ đã một phần hoặc hoàn toàn chủ động trộn thức ăn theo hướng