TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN
Đề tài: CÁC CHUẨN BIỂU DIỄN VÀ NÉN ẢNH :
- CHUẨN NÉN JPEG
- CHUẨN NÉN JPEG2000
- CHUẨN NÉN FAX
Giáo viên hướng dẫn: TRẦN THỊ BÍCH THẢO
Sinh viên thực hiện: Nhóm 14
1. Vũ Đức Chiến
2. Phạm Vĩnh Lộc
3. Phạm Văn Cương
1
A. MỞ ĐẦU.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của máy tính và sự ra đời của Internet thì việc
tìm một phương pháp nén ảnh để giảm bớt không gian lưu trữ thông tin và truyền
thông tin trên mạng nhanh chóng đang là một yêu cầu cần thiết. Trong những năm
gần đây, có rất nhiều các phương pháp đã và đang được nghiên cứu rộng rãi để thực
hiện nén ảnh. Tất cả đều với một mục đích chung là làm thế nào để biểu diễn một ảnh
với dung lượng ít nhất để có thể tối thiểu hoá dung lượng kênh truyền và không gian
lưu trữ trong khi vẫn giữ được tính trung thực của ảnh. Và JPEG là một trong những
phương pháp nén ảnh khá hiệu quả.
B. NỘI DUNG.
I. CÔNG NGHỆ JPEG.
1. JPEG là gì?
JPEG viết tắt của Joint Photographic Experts Group, một nhóm các nhà nghiên
cứu đã phát minh ra định dạng này để hiển thị các hình ảnh đầy đủ màu hơn (full-
colour) cho định dạng di động mà kích thước file lại nhỏ hơn. Đây là một phương
pháp nén ảnh hiệu quả, nó cho phép làm việc với các ảnh có nhiều màu và kích cỡ
lớn, tỷ lệ nén ảnh đạt mức so sánh tới vài chục lần (chứ không phải phần trăm).
Phương pháp nén ảnh theo thuẩn JPEG có thể cho hệ số nén tới 80:1 hay lớn hơn,
nhưng bạn phải chịu mất thông tin (ảnh sau khi bung nén khác với ảnh ban đầu), lượng
thông tin mất mát tăng dần theo hệ số nén. Tuy nhiên sự mất mát thông tin này không bị
làm một cách cẩu thả. JPEG tiến hành sửa đổi thông tin ảnh khi nén sao cho ảnh mới
gần giống như ảnh cũ, khiến phần đông mọi người không nhận thấy sự khác biệt. Và bạn
hoàn toàn có thể quản lý sự mất mát này bằng cách hạn chế hệ số nén. Như thế người
dùng có thể cân nhắc giữa cái lợi của việc tiết kiệm bộ nhớ và mức độ mất thông tin của
ảnh, để chọn phương án thích hợp.
4
Phương pháp nén ảnh JPEG dựa trên nguyên lý sau: ảnh màu trong không gian của 3
màu RGB (red Green Blue) được biến đổi về hệ YUV (hay YCBCr) (điều này không
phải là nhất thiết, nhưng nếu thực hiện thì cho kết quả nén cao hơn) theo công thức :
YUV. = 0.615R − 0.515G − 0.100B
Y= 0.299R + 0.587G + 0.114B
U= 0.492(B − Y)= = − 0.147R − 0.289G + 0.436B
V= 0.877(R − Y)
Hệ YUV là kết quả nghiên cứu của các nhà sản xuất vô tuyến truyền hình hệ Pal, Secam
và NTSC, nhận thấy tín hiệu video có thể phân ra 3 thành phần Y, U, V (cũng như phân
theo màu chuẩn đỏ, xanh lá cây và xanh da trời). Và một điều thú vị là hệ nhãn thị của
con người rất nhạy cảm với thành phần Y và kém nhạy cảm với hai loại U và V. Phương
pháp JPEG đã nắm bắt phát hiện này để tách những thông tin thừa của ảnh. Hệ thống
nén thành phần Y của ảnh với mức độ ít hơn so với U, V, bởi người ta ít nhận thấy sự
thay đổi của U và V so với Y.
Giai đoạn tiếp theo là biến đổi những vùng thể hiện dùng biến đổi cosin rời rạc
(thông thường là những vùng 8x8 pixel). Khi đó thông tin về 64 pixel ban đầu sẽ biến
đổi thành ma trận có 64 hệ số thể hiện "thực trạng" các pixel. Điều quan trọng là ở đây
hệ số đầu tiên có khả năng thể hiện "thực trạng" cao nhất, khả năng đó giảm rất nhanh
với các hệ số khác. Nói cách khác thì lượng thông tin của 64 pixel tập trung chủ yếu ở
một số hệ số ma trận theo biến đổi trên. Trong giai đoạn này có sự mất mát thông tin,
bởi không có biến đổi ngược chính xác. Nhưng lượng thông tin bị mất này chưa đáng kể
chuyển sang định dạng JPEG. Đường bao giữa các khối màu có thể xuất hiện nhiều
điểm mờ, và các vùng sẽ mất sự rõ nét, tỉ số nén càng cao thì sự mất mát thông tin trên
ảnh JPEG càng lớn. Nói một cách khác, định dạng JPEG thực hiện bảo quản tất cả thông
tin màu trong hình ảnh đó, tuy nhiên với các hình ảnh chất lượng màu cao high-colour
như hình ảnh chụp thì điều này sẽ không hề hấn gì.
Các ảnh JPEG không thể làm trong suốt hoặc chuyển động - trong trườn hợp này
bạn sẽ sử dụng định dạng GIF (hoặc định dạng PNG để tạo trong suốt).
II. JPEG 2000
Như đã trình bày, kỹ thuật nén JPEG sẽ làm mất thông tin lúc giải nén, càng nén với hệ
số cao thì thông tin càng mất nhiều khi bung. Vì vậy để giải quyết vấn đề này, tháng
12/1999 một bản phác thảo tiêu chuẩn nén hình ảnh theo công nghệ mới JPEG2000.
Tháng 8/2000, bản phác thảo về tiêu chuẩn JPEG2000 đã được lưu hành trong giới
chuyên gia hình ảnh. Sau đó nó đã được công nhận là tiêu chuẩn quốc tế vào tháng
12/2000 và được ISO hợp thức hóa năm nay để cho phép ứng dụng vào các hệ xử lý,
phân phối.
Với JPEG2000 kỹ thuật xử lý hình ảnh sẽ đạt được những kết quả rất ngoạn mục vì có
thể nén nhỏ từ 100-200 lần mà hình ảnh không sai sót bao nhiêu so với hình ảnh gốc.
Nhưng đâu là điểm khác biệt để kỹ thuật JPEG2000 vượt trội hơn hẳn so với JPEG?
JPEG2000 là hệ thống mã hóa hình ảnh mà kỹ thuật nén dựa trên kỹ thuật sóng ngắn. Là
một tiện ích toán học cho phép mô tả bằng một công thức đơn giản những gì xảy ra tại
một thời điểm chính xác của tín hiệu. Với một chuỗi sóng ngắn, chỉ cần biểu diễn bằng
7
vài công thức, đường biểu diễn không đều mà không cần phải mô tả đặc tính của từng
điểm một. Và lẽ dĩ nhiên sẽ rất đắc lực khi phân tích tỉ mỉ một file ảnh kỹ thuật số.
Thuật toán trong kỹ thuật JPEG2000 là chọn một số nhỏ các sóng ngắn, các sóng này
được lập lại ở những nơi khác nhau, tỷ lệ khác nhau đã mô tả chính xác tín hiệu của hình
ảnh. File ảnh nén không chứa nhiều hơn số lượng chỉ vị trí và giãn nở của từng sóng
ngắn. Và kỹ thuật mã hóa theo từng khối, theo từng khu vực ưu tiên của hình ảnh (ROI
-Regional Of Interest) được áp dụng cũng là một tiến bộ đáng kể trong thuật toán mã
hóa JPEG2000.
lượng tử hóa phụ thuộc vào độ chính xác của bộ giải mã.
2.Đảo ngươc:Nó chỉ sử dụng hệ số nguyên,cho nên đầu ra không yêu cầu làm tròn
số(lượng tử) và vì vậy nó không thực hiện bất kì sai số lượng tử nào.Nó được sử dụng
trong mã hóa không mất mát thông tin.
3.4-Lượng tử hóa(Quantization )
Sau khi biến đổi wavelet transform,các hệ số là vô hướng-đã được lượng tử hóa để giảm
số lượng các bit ,tại các điểm tổn hao của mất mát lượng tử.Đầu ra là 1 tập hợp
các số nguyên phải được mã hóa bit-by-bit.Các tham số có thể được thay đổi để
đạt chất lượng cuối cùng là bước lượng tử hóa:các bước quan trọng hơn là bước
nén và sự mất mát thông tin lượng tử.Với 1 bước lượng tử bằng 1,không có quá
trình lượng tử nào được thực hiện(nó được gọi là nén không mất mát)
3.5-Siêu dữ liệu(Metadata)
9
Đối với JPEG truyền thống, bổ sung các siêu dữ liệu: lưu trữ các thông tin về bức
ảnh( kích cỡ,độ sâu màu,độ phân giải, ngày tạo bức ảnh…)
3.6- Motion JPEG 2000
Motion JPEG quy định việc sử dụng định dạng JPEG 2000 cho các trình tự tính thời
gian của hình ảnh (tự động), có thể kết hợp với âm thanh, và tạo ra cách trình bày tổng
thể. Tên file mở rộng cho các tệp video Motion JPEG 2000 là .mj2 .mjp2 Motion JPEG
2000 (thường được biết đến như MJ2 hoặc MJP2) cũng đang được xem xét như là một
định dạng lưu trữ kỹ thuật số của Library of Congress. Nó là một tiêu chuẩn quốc tế mở
và cập nhật những thuận lợi cho MJPEG (hoặc MJ), được dựa trên những thành tựu của
định dạng JPEG. Không giống như các định dạng video phổ biến, chẳng hạn như
MPEG-4 Part 2, WMV, và H.264 thì MJ2 không sử dụng các khung nội suy (inter-
frame). Thay vào đó, mỗi frame là một thực thể độc lập được mã hóa bởi một biến thể
hoặc mất dữ liệu hay không giảm chất lượng của JPEG 2000. Nó là 1 cấu trúc vật lý
không phụ thuộc vào time ordering,nhưng nó sử dung những profile riêng biệt để bổ
sung dữ liệu. Đối với âm thanh, nó hỗ trợ LPCM mã hóa, cũng như biến thể khác của
MPEG-4 , như là dữ liệu thô "hoặc bổ sung dữ liệu".
3.7-JPEG2000 Security–JPSEC