Bảng số liệu hay các biểu đồ đều để ở phần phụ lục gây khó khăn cho việc theo dõi, đối chiếu, nghiên
cứu và sắp xếp như thế này cũng hoàn toàn sai khoa học
Biểu đồ 3 bạn viết:” Đây là biểu đồ so sánh tình trạng bất bình đẳng thu nhập trên thế
giới và ở 1 số quốc gia (Xem Phụ lục 1 – Biểu đồ 3)” nhưng bảng này là phần trăm
phân phối thu nhập vì thế nên người đọc không hiểu từ đó phải xem chỉ tiêu như thế
nào để biết được tình trạng bất bình đẳng
Còn những nhận xét được bôi dấu đỏ hoặc vàng để trong () dưới bài tiểu luận
MỤC LỤC
1
(Phần nội dung gồm 28 trang từ trang 5 đến trang
33)LỜI MỞ ĐẦU
Trong những thập niên trở lại đây, nền kinh tế thế giới nói chung đã có những
sự tăng trưởng vượt bậc cả về chất và lượng. Thế giới đã chứng kiến sự vươn lên mạnh
mẽ của các cường quốc. Nền kinh tế Hoa Kỳ với sự phát triển từ những năm 1920, trải
qua những cuộc suy thoái lớn, những chi phí cho chiến tranh cũng không hề nhỏ
nhưng hiện tại đây vẫn là một trong những nền kinh tế có quy mô lớn nhất thế giới.
Nằm trong khối liên minh châu Âu, Đức đã có sự phục hồi thần kỳ từ những hậu quả
nặng nề sau cuộc chiến thế giới lần II, là nước có vị trí cao trong xếp hạng GDP danh
nghĩa của thế giới. Những năm trở lại đây, nền kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh
chóng, hiện là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới sau khi vượt qua được Nhật Bản. Những
nền kinh tế lớn mạnh này đã và đang chi phối nền kinh tế toàn cầu.
Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế cũng mang tính chất hai mặt. Mặc dù nền kinh tế
phát triển với tốc độ chưa từng có, song tăng trưởng kinh tế dẫn đến tình trạng các
nước giàu ngày càng giàu hơn và các nước nghèo ngày càng nghèo đi. Vấn đề bất bình
đẳng trong phân phối thu nhập đang là một trong những vấn đề cấp bách.
Để làm rõ hơn về vấn đề này, chúng em xin đi sâu vào phân tích nền kinh tế Ấn
Độ bởi sự bùng nổ kinh tế ở Ấn Độ đã giúp hàng triệu người thoát khỏi cảnh nghèo
đói nhưng đồng thời cũng khiến cho chênh lệch về thu nhập tăng lên trông thấy. “Theo
tạp chí Forbes, Ấn Độ hiện có 69 tỷ phú, tăng thêm 17 người so với năm 2009. Tổng
số tài sản của 40 nhà tỷ phú hàng đầu của Ấn Độ trị giá 243 tỷ USD, tăng 14 tỷ trong
ba năm từ 2009 với mức 229 tỷ USD. Tuy nhiên, các tổ chức chống nghèo đói ở Ấn
Nguồn:http://tin180.com/thegioi/cuoc-song-do-day/20110924/400-trieu-nguoi-an-do-song-duoi-muc-
ngheo-kho.html
3
A. Lý thuyết chung về bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
I. Giải thích các khái niệm và cách đo lường
1. Các khái niệm
- Phân phối thu nhập: Trong phạm vi một nước, phân phối thu nhập là cách mà
thu nhập quốc dân của nước đó được chia cho công dân của mình
- Bình đẳng về thu nhập: là khi mọi người nhận được khoản thu nhập như
nhau.Bình đẳng là một tiêu chuẩn khách quan
- Công bằng về thu nhập: là khi mỗi người và mọi người nhận được mức thu
nhập (hay hưởng thành quả kinh tế) xứng đáng với khả năng, nỗ lực, trình độ và
sự sẵn sàng chịu rủi ro của mình.Công bằng là một khái niệm mang tính chủ
quan (thay đổi theo không gian và thời gian)
- Từ khái niệm bình đẳng (equality) và công bằng (equity), chúng ta có khái niệm
đối ngược là bất bình đẳng (inequality) và bất công bằng (inequity).
Vấn đề bình đẳng và giảm tình trạng bất bình đẳng đã trở thành vấn đề cốt lõi của
mọi vấn đề phát triển.Và trên thực tế, nó đã trở thành mục tiêu chủ yếu của chính sách
kinh tế.
2. Các thước đo bất bình đẳng
a) Đường Lorenz
• Khái niệm: Đường Lorenz biểu thị mối liên hệ giữa tỷ lệ phần trăm thu nhập
quốc dân cộng dồn và phần trăm dân số cộng dồn tương ứng.
• Do nhà thống kê người Mỹ- C.
Lorenz xây dựng năm 1905.
• Đường Lorenz biểu thị mối quan
hệ giữa nhóm dân số xếp theo thu
nhập từ thấp đến cao cộng dồn và
tỷ lệ thu nhập tương ứng của họ
nhập.
- Hạn chế: Chưa thể hiện được sự so sánh giưa nhóm có thu nhập cao nhất
và thấp nhất trong một quốc gia.
5
Có trường hợp: Hệ số Gini giống nhau nhưng hình dạng đường cong
Lorenz khác nhau => Hệ số Gini : thước đo không nhất quán.
3. Các mô hình về bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
a) Mô hình chữ U ngược của S.Kuznets
• Do S.Kuznets xây dựng từ nghiên cứu thực nghiệm năm 1955
• Dùng tỷ số thu nhập của 20% giàu nhất/thu nhập của 20% nghèo nhất (Tỷ số
Kuznets)
• Giả thuyết của Kuznets: bất bình đẳng tăng lên ở giai đoạn đầu và giảm ở giai
đoạn sau, khi lợi ích của tăng trưởng lan tỏa rộng hơn.
• Một số nghiên cứu sau đó đã kiểm chứng giả thuyết
Tuy nhiên, giả thuyết của S.Kuznets chưa giải thích được:
• Nguyên nhân cơ bản nào tạo ra sự thay đổi trong bất bình đẳng;
• Mức độ khác biệt giữa các nước áp dụng các chính sách khác nhau tác động vào
tăng trưởng và bất bình đẳng
Chưa trả lời được câu hỏi cho các nước đang phát triển là: (1) Liệu các
nước có thu nhập thấp tất yếu phải chấp nhận mức độ bất bình đẳng tăng lên
trong quá trình tăng trưởng kinh tế hay không, và (2) Các nước này có thể trông
6
đợi rằng bất bình đẳng sẽ tự giảm đi khi tăng trưởng đạt tới một mức độ nhất
định hay không
b) Mô hình tăng trưởng trước, bình đẳng sau của A. Lewis
• Mô hình này nhất trí với Kuznets về mô hình chữ U ngược
• Mô hình này giải thích được nguyên nhân của xu thế này: Lúc đầu khi LĐ dư
thừa trong nông nghiệp được thu hút vào công nghiệp vẫn chỉ được trả lương ở
mức tối thiểu, còn nhà tư bản có thu nhập được tăng cao do quy mô mở rộng và
giám sát xem tăng trưởng có đi đôi với xóa đói giảm nghèo và giảm bất bình
đẳng không. (tự dưng lại cho phần biện pháp vào mỗi cái cuối???)
II. Nguyên nhân - ảnh hưởng của bất bình đẳng
1. Nguyên nhân của bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
Để có giải pháp cho công bằng xã hội, trước tiên ta tìm hiểu những nguyên nhân
dẫn đến bất bình đẳng trong phân phối thu nhập.
Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập vừa là vấn đề của lịch sử để lại, vừa là
vấn đề của sự phát triển mà quốc gia nào cũng vấp phải. Một vấn đề đặt ra là tại sao có
người nghèo và người giàu? Nguồn gốc của sự giàu có và nghèo đói là ở đâu? Có
nhiều nguyên nhân và các nguyên nhân có thể đan xen, thâm nhập vào nhau, nhưng
quy tụ lại có hai nhóm nguyên nhân chủ yếu là bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
từ tài sản và từ lao động.
a) Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ tài sản.
Trong nền kinh tế thị trường, một bộ phận thu nhập của các cá nhân được phân
phối theo sở hữu các nguồn lực. Tùy theo các yếu tố sản xuất mà mỗi người có được
cũng như việc định giá của các yếu tố đó trên thị trường cạnh tranh mà chúng có ảnh
hưởng đến mức thu nhập của mỗi cá nhân. Cách phân phối như vậy gọi là phân phối
thu nhập từ tài sản. Tài sản của mỗi cá nhân có được là do những nguồn hình thành
khác nhau.
- Do được thừa kế tài sản: Mỗi người được thừa kế tài sản ở các mức độ khác nhau.
Nhiều cá nhân sinh ra đã là người giàu vì họ được thừa kế một cơ nghiệp lớn. Sự bất
8
công về thu nhập do của cải thừa kế tập trung vào tay một số ít người đã gây nhiều sự
phản đối và một cách được chính phủ áp dụng để hạn chế sự bất bình đẳng này là đánh
thuế cao vào tài sản thừa kế và quà tặng.
- Do hành vi tiêu dùng và tiết kiệm khác nhau của các cá nhân ảnh hưởng lớn đến sự
khác nhau về của cải tích lũy được. Có những người tiết kiệm nhiều để tích lũy một
lượng của cải khi về hưu. Trái lại, có những người sẵn sàng tiêu dùng hết những gì
mình kiếm được mà không lo nghĩ cho tương lai.
Trong số các nguyên nhân nêu trên thì sản xuất kinh doanh là một cách quan
biệt những kỷ lục tăng trưởng hoàn mỹ.
2. Ảnh hưởng của bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
Tình trạng bất công, bất bình đẳng về phân phối thu nhập trong xã hội đang
tăng lên, đe dọa an ninh kinh tế, an ninh xã hội, cản trở cải cách ở nhiều quốc gia trên
thế giới.
a) Chênh lệch khoảng cách giàu nghèo
Đây là ảnh hưởng đầu tiên và trực tiếp nhất do bất bình đẳng trong phân phối
thu nhập gây ra. Tình trạng bất bình đẳng càng gia tăng thì xã hội chia ra hai tầng lớp
giàu – nghèo càng rõ rệt. Khoảng cách này tạo ra những xu hướng ứng xử kinh tế khác
nhau đối với mỗi người dân, tạo ra hậu quả tiêu cực cho toàn xã hội.
b) Sự thụt lùi về tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp leo thang.
Tại nhiều quốc gia khác, sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đã làm cho
nền kinh tế trở nên mong manh hơn bao giờ hết. Kể từ thập niên 1980 đến nay, vấn
nạn này đã kéo lùi tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế lớn nhất thế giới xuống khoảng
1/3. IMF đã so sánh ví von chính sách đó với việc dùng thuỷ triều dâng cao làm nổi
những tàu thuyền đang gặp khó khăn, mà quên mất rằng chỉ một vài trong số đó là tàu
thuỷ còn đại bộ phận là những chiếc ca nô. Những chiếc ca nô nhỏ thiếu trọng tải lớn,
thiếu trang thiết bị để lèo lái trước triều cường nên rất dễ bị lật nhào. Tăng trưởng kinh
tế chỉ làm giàu cho thiểu số mà không đem lại lợi ích cho số đông.
Từ đó suy rộng ra, tại mọi nền kinh tế, dù giàu có hay nghèo khó, bất bình đẳng
tỷ lệ nghịch với tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ thuận với sự suy yếu của nền kinh tế đó.
(làm giàu cho thiểu số đồng nghĩa với việc bất bình đẳng và tăng trưởng tỉ lệ thuận
chứ)
10
Bất bình đẳng là nhân tố có sức ảnh hưởng sâu rộng nhất hơn cả những yếu tố
mà chính phủ các nước hiện nay đang ra sức củng cố như đầu tư nước ngoài, mở cửa
kinh tế, tỷ giá hối đoái hay tiềm lực của những định chế lớn. Nói nôm na, muốn đất
nước đi lên thì phải lấy dân làm gốc. Vì thế mỗi quốc gia cần có các chính sách giảm
thiểu bất bình đẳng trong phân phối thu nhập.
Ngoài ra, ông Sanjay Mathur đến từ Ngân hàng Hoàng gia Scotland RBS cho
Hằng nổi tiếng thế giới, có diện tích rộng lớn, lao động dồi dào (1,2 tỷ dân – năm
2010), tài nguyên thiên nhiên phong phú. Nằm trong khu vực Nam Á, Ấn Độ được coi
là nền kinh tế lớn nhất chiếm đến 79% GDP của cả khu vực.Sau khi giành được độc
lập năm 1947, Ấn Độ xây dựng nền kinh tế tự lực, tự cường trên cơ sở kế hoạch
hóa.Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng trung bình 3,5%. Ấn Độ đang mạnh mẽ vươn
lên trở thành một cường quốc kinh tế ở khu vực.
Từ năm 1991, Ấn Độ tiến hành cải cách, áp dụng mô hình kinh tế mới mở cửa,
dựa nhiều hơn vào dịch vụ và tri thức để phát triển công nghệ thông tin (IT), coi đây là
đầu tàu cho toàn bộ nền kinh tế. Năm 2008, khu vực dịch vụ đóng góp tới 56% GDP,
công nghiệp 22% và nông nghiệp 18,5%. Năm 2007-2008, Tổng GDP đạt khoảng 1,16
nghìn tỷ USD, tăng trưởng GDP đạt 9%, xuất khẩu đạt 159 tỷ USD (tăng 25,8%), nhập
khẩu đạt 239,65 tỷ USD (tăng 29%), FDI đạt 32,44 tỷ USD, dự trữ ngoại tệ đạt 249,3
tỷ USD (đến tháng 2/2009). Ấn Độ đang mạnh mẽ vươn lên trở thành một cường quốc
kinh tế ở khu vực. Năm 2009 tăng trưởng GDP của Ấn Độ đạt 7,4% dù chịu ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, năm 2010 chứng kiến sự
phục hồi mạnh mẽ của kinh tế Ấn Độ tăng trưởng kinh tế đạt 8,3%. Những dự báo gần
đây của các tổ chức kinh tế thế giới, năm 2011, GDP của Ấn Độ có thể tăng trưởng với
tốc độ 9,0% trong năm tài khoá 2011-2012. Ấn Độ hiện xếp thứ 11 trên thế giới về
khía cạnh GDP.Trong thời gian qua, Ấn Độ đã có nhiều nỗ lực để kích thích nền kinh
tế, mặc dù lạm phát vẫn là yếu tố tiềm ẩn nhiều rủi ro. Nước này còn có kế hoạch áp
dụng một bộ luật thuế mới được cho là hiệu quả hơn kể từ tháng 4/2011 với hy vọng sẽ
mang lại 1,5%-2,0% tăng trưởng GDP cho nền kinh tế. Ngành nông nghiệp Ấn Độ dự
kiến có một mùa vụ bội thu nhờ tình hình thời tiết thuận lợi. Từ những triển vọng trên
đã khiến Hội đồng Cố vấn Kinh tế của Thủ tướng Manmohan Singh phải nâng dự báo
12
tăng trưởng từ mức 8,5% lên 9% trong năm tài khoá 2010-2011, lạm phát sẽ giảm từ
mức hai con số xuống còn 6,5% vào tháng 3 năm tới.
Các số liệu về kinh tế Ấn Độ cập nhật 30/3/2011 theo Hồ sơ thị trường của
VCCI- Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam:
• Tăng trưởng GDP cao thứ 2 sau Trung Quốc- bình quân 8,5% trong 5 năm qua.
Trong năm tài chính 2011-2012 (bắt đầu từ ngày 01/4/2011 và kết thúc vào
ngày 31/03/2012) tổng thu nhập quốc dân của Ấn Độ tăng khoảng 7,1% cao hơn số
liệu ước tính đã công bố trước đó tăng trưởng ở mức 6,9%."Thể trạng" kinh tế Ấn Độ
6 tháng đầu năm 2012 không được sáng sủa, với mức tăng trưởng GDP của quý IV tài
khoá 2011-2012 (kết thúc vào ngày 31/3/2012) chỉ đạt 5,3% - mức thấp nhất trong 9
năm và tăng trưởng GDP trong toàn tài khoá 2011-2012 là 6,5% (mức thấp nhất trong
vòng 3 năm trở lại đây), so với 8,4% của tài khoá 2010-2011.
Tăng trưởng GDP bình quân đâu người giai đoạn 1990-2010 của Ấn Độ so với
một số nước thuộc OECD (Xem tại Phụ lục 1– Biểu đồ 1)
Dự đoán đến năm 2015, hơn 300 triệu người dân Ấn Độ (63 triệu hộ gia đình)
sẽ có thu nhập của hộ vượt mức 6000 Đô-la Mỹ (tương đương hơn 30000 Đô-la Mỹ
tính theo ngang giá sức mua).
Đặc biệt, theo số liệu của Hội đồng Vàng thế giới (WGC), Ấn Độ tiêu thụ 223,1
tấn vàng trong quý III năm nay, tăng 9% so với cùng kỳ năm ngoái. Với con số này,
Ấn Độ đã lấy lại được vị thế số 1 thế giới về tiêu thụ vàng. Nhu cầu vàng của Trung
Quốc giảm mạnh 8% trong quý III xuống còn 177 tấn do tăng trưởng kinh tế chững
lại. Ấn Độ và Trung Quốc đóng góp 55% tổng nhu cầu vàng thế giới. WGC cho biết,
nhu cầu của Ấn Độ tăng mạnh trở lại trong quý III khi các nhà làm trang sức nước này
tăng cường dự trữ vàng cho mùa lễ hội đến vào quý IV – thời điểm nhu cầu mua vàng
của người dân Ấn Độ tăng mạnh. WGC cho biết, lực mua từ Ấn Độ cũng có thể là một
yếu tố đẩy giá vàng tăng trong quý III.
II. Thực trạng bất bình đẳng thu nhập ở Ấn Độ
14
1. Bất bình đẳng thu nhập giữa các tầng lớp trong xã hội
Hệ số Gini đã tăng trong ba nền kinh tế lớn của khu vực là Trung Quốc, Ấn
Độ và Indonesia. Từ đầu những năm 1990 tới năm 2010, hệ số này đã tăng từ 0,32 lên
0,43 tại Trung Quốc, từ 0,33 lên 0,37 tại Ấn Độ và từ 0,29 lên 0,39 tại Indonesia.
Riêng ở Ấn Độ, bất bình đẳng thu nhập đã tăng mạnh trong 2 thập kỉ. Trong những
năm 1990, hệ số Gini của Ấn Độ rất gần với các nước đang phát triển, nhưng càng
ngày, nó càng gia tăng và có xu hướng giống các nước đang phát triển. Dưới đây là hệ
hộ gia đình, tương đương với 160 triệu dân được xếp vào hạng trung lưu với mức thu
nhập hàng năm là từ 340.000 – 1.700.000 Rs.
Phần thứ 3 của kim tự tháp ( màu đỏ ) tươmg ứng với 71 triệu hộ gia đình,
tương đương với 359 triệu dân được xếp vào thu nhập thấp với mức thu nhập là
150.000 – 340.000 Rs hàng năm
Cuối cùng là phần màu vàng tương ứng với 135 triệu hộ gia đình, tương đương
với 684 triệu dân được xếp vào hạng nghèo nàn với mức thu nhập dưới 150.000 Rs
mỗi năm.
Khối kim tự tháp thể hiện khối tài sản của Ấn Độ theo số liệu năm 2010 (Xem
phụ lục 1 – Hình 2) (hình ảnh sắp xếp không khoa học)
Nhìn vào kim tự tháp có thể thấy phần chóp màu tím của kim tự tháp thể hiện
khối lượng tài sản của những tỉ phú với số lượng của cải trên 1 tỉ đô la.
Phần màu hồng thể hiện khối lượng tài sản của tầng lớp cận tỉ phú với số lượng
tài sản là từ 500 triệu đến 1 tỉ đô la .
Phần màu đỏ thể hiện khối lượng tài sản ròng của những người có thu nhập cực
cao với số lượng tài sản là 50 – 500 triệu đô la.
Tiếp theo là khối lượng tài sản ròng của những người có thu nhập cao và không
ngừng tăng lên với số lượng tài sản là 10 – 50 triệu đô la.
Tiếp đó là khối lượng tài sản của những người có thu nhập tiềm năng với số
lượng tài sản từ 5- đến 10 triệu đô la.
Cuối cùng là khối lượng tài sản của những người có thu nhập cao với khối
lượng tài sản từ 1- 5 triệu đô la.
16
(k có nhận xét gì thêm à, chỉ mới chỉ ra mà không hề đưa ra bình luận nào thêm.
VD sự chênh lệch này so với trung bình thế giới và các nước khác là cao, hay điều này
thể hiện sự chênh lệch quá lớn về bất bình đẳng)
2. Bất bình đẳng giữa Ấn Độ với các nước trong khu vực Nam Á, Châu Á,
xếp hạng trên thế giới.
Theo IMF Ấn Độ là 1 trong 10 nền kinh tế lớn nhất năm 2011 với tổng GDP
tính theo PPP là 2.965 tỷ USD, chỉ xếp sau Mỹ (13.860 tỷ USD), Trung Quốc (7.043
trong khi đóng góp vào GDP chỉ chiếm hơn 14%
[3]
- năm 2010-2011 - nguồn
Central Statistical Organisation) làm gia tăng mức chênh lệch thu nhập của
người dân ở các thành phần kinh tế khác nhau.
- Tự do kinh tế, toàn cầu hoá mở cửa nền kinh tế khiến cho sức ép cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp ở Ấn Độ ngày càng nặng nề hơn. Những người có năng
lực sẽ đào thải những người có trình độ làm việc thấp. Chế độ lương bổng và
công việc giữa các tầng lớp lao động đều được phân phối lại
- Sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội giữa các vùng miền ở Ấn Độ
làm cho sự khác biệt về thu nhập lớn hơn.
Ví dụ: Mumbai là một thành phố của Ấn Độ với lợi thế về biển nên thu nhập của
người dân ở nơi đây có thể cao hơn các vùng khác do khai thác lợi thế về du lịch biển
cũng như địa hình thuận lợi cho phát triển các khu kinh tế lớn, an toàn,ổn định.
2. Yếu tố văn hóa – giáo dục – chính trị - xã hội (chưa thấy bàn đến văn hóa
giáo dục)
- Nạn phân biệt chủng tộc và tôn giáo
Sự phân biệt giữa Ấn đen và Ấn trắng còn tồn tại ở rất nhiều doanh nghiệp Ấn
Độ.
[3]
[3]
Theo http://user.hnue.edu.vn/index.php?page=news&uid=118&news_id=550
18
Ví dụ: Mới đây một người mẫu Ấn độ đã cáo buộc ngành công nghiệp thời trang trong
nước đang có sự phân biêt chủng tộc rõ rệt khi ưu ái nhiều người mẫu da trắng hơn
nhưng cô gái da nâu địa phương đồng thời với mức thu nhập khác biệt rõ rệt.
- Bất bình đẳng giới lớn
Ở Ấn Độ, nam và nữ giới được tiếp cận với các cơ hội kinh tế khác nhau, do đó
có mức thu nhập không đồng đều. “Phụ nữ thường là những người làm việc không
lương trong gia đình hoặc làm những nghề được trả lương thấp” – bà Revenga, một
ion=1.0
19
lợi nhuận cao nhờ lợi thế nhất định có sự tham gia và hỗ trọ đáng kể của chính phủ Ấn
Độ.
- Ngoài ra, vấn đề gia tăng dân số, cơ cấu dân số trẻ, dồi dào gây sức ép cho việc
giải quyết việc làm cho người dân
3. Chính sách quản lý và điều tiết của cơ quan chức năng
Sự cứng nhắc, độc quyền trong luật lao động của Ấn Độ trong việc lựa chọn
những người như thế nào mới đựơc làm công việc cụ thể ra sao, làm giảm tính hiệu
quả của nền kinh tế, góp phần gây trầm trọng thêm vấn đề bất bình đẳng này.
Chủ nghĩa dân tộc về kinh tế, cả cánh tả và cánh hữu, vẫn gây cản trở đầu tư
nước ngoài quy mô lớn đổ vào Ấn Độ, làm kìm hãm sự phát triển kinh tế nước nhà,
chưa tận dụng tối đa được nguồn lao động trẻ, dồi dào.
chính sách về cơ chế quản lý của nhà nước Ấn Độ về quá trình phân phối lại tài
sản hay luật tiên lương tối thiểu ở Ấn Độ chưa hiệu quả, khiến vấn đề bất bình đẳng
trong thu nhập trở nên rắc rối hơn
Thậm chí còn có nhiều “câu chuyện đen tối” về việc Ấn Độ cho di dân để xây
đường xá, thủy điện hay khai mỏ,…Những cưỡng chế di dời, gian lận hợp đồng, thất
hứa với người nghèo này của các doanh nghiệp, của cơ quan chức trách địa phương và
sự thiếu sát sao, trách nhiệm của chính phủ làm cho tình hình bất bình đẳng này trở
nên trầm trọng hơn.
IV. Giải pháp của chính phủ Ấn Độ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
V. Giải pháp của chính phủ Ấn Độ
1. Cải cách và phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo
- Tháng 7/1991, một cuộc cải cách mạnh mẽ và toàn diện đã được Chính phủ phát
động và thực hiện cho đến ngày nay. Quá trình thực hiện cuộc cải cách về kinh tế ở Ấn
Độ từ năm 1991 đến nay được chia thành 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn đầu (1991-1999): Ấn Độ hầu như tập trung vào cải cách mạnh mẽ
trên lĩnh vực kinh tế nhằm ổn định nền kinh tế vĩ mô, thực hiện các chính sách nhằm
20
định trước đó về FDI trong Luật quản lý ngoại hối (FEMA) năm 1999, Quy chế quản
lý ngoại hối năm 2000 và các thông tư, quy định của Ngân hàng dự trữ Ấn Độ. Việc
hợp nhất này nhằm mục đích cụ thể hóa chính sách FDI của Ấn Độ và làm cho việc
hiểu và thực hiện chính sách FDI được tốt hơn.
3. Tăng cường phát triển nông nghiệp
- Từ năm 1991, Ấn Độ bắt đầu công cuộc cải cách toàn diện, trong đó, nông nghiệp
là lĩnh vực trọng tâm. Hàng loạt biện pháp được Ấn Độ áp dụng trong quá trình cải
cách, đó là:
+ Tăng cường kết cấu hạ tầng trong nông nghiệp. Về thủy lợi, Chính phủ đã đưa
ra kế hoạch phát triển các nguồn nước, lập quỹ hỗ trợ phát triển nguồn nước cho 100
khu vực được ưu tiên. Các lĩnh vực bảo quản, chế biến, tiếp thị sau thu hoạch cũng
được tăng cường đầu tư. Việc sử dụng phân bón được chú ý hơn. Nhà nước đã chi 10
triệu USD cho chương trình cải tạo và khai thác đất hoang.
+ Nâng cao vai trò của hộ nông dân, vì kinh tế hộ vẫn giữ vai trò to lớn trong
nền nông nghiệp Ấn Độ.
+ Quản lý tốt hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, áp dụng tiến bộ kỹ thuật để
tăng sản lượng lương thực tại miền Đông và Đông Bắc, mở rộng và củng cố các hợp
tác xã.
+ Khuyến khích nghề làm vườn, trồng hoa, cây dược liệu, trồng rừng, tăng xuất
khẩu các sản phẩm thuộc lĩnh vực này.
+ Thành lập trung tâm dự báo mùa màng quốc gia giúp nông dân chủ động hơn
trong sản xuất.
+ Sửa đổi Luật Hàng hoá thiết yếu, kiểm soát chặt chẽ việc tích trữ và buôn bán
các loại nông sản nhằm ổn định thị trường.
+ Xây dựng chương trình quốc gia về công nghiệp hoá nông thôn, với kế hoạch
mỗi năm triển khai ở 100 nhóm làng xã.
22
- Sau năm 1999, cải cách kinh tế bước vào giai đoạn II với chủ trương đẩy
mạnh hơn nữa sự kiểm soát chất lượng sản phẩm và tăng cường đầu tư, hỗ trợ sản
xuất.
được kiểm soát và tài trợ từ ba cấp độ: trung ương, các bang và địa phương. Ấn
Độ đã đạt được sự tiến bộ về tăng tỷ lệ tham gia giáo dục và mở rộng xóa mù
chữ khoảng 2/3 dân số. Sự tiến bộ đặc biệt là trong giáo dục đại học.
• Chương trình cải cách giáo dục cấp quận, huyện (Derp) đã được đưa ra vào
năm 1994 với mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học ở Ấn Độ bằng cách cải cách
và tiếp sức cho hệ thống giáo dục tiểu học hiện tại.
• Cùng với đó, khối Liên minh Tiến bộ chung (UPA) hướng vào mục tiêu tăng
chi tiêu cho giáo dục đến 6% trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) từ các giá trị
biến động khoảng 3% thông qua Chương trình chung tối thiểu quốc gia
(NCMP) vào năm 2004.
• Những tổ chức giáo dục của Ấn Độ đến năm 2004 đã bao gồm một số lượng
lớn các học viện công nghệ. Bên cạnh các trường đại học hàng về cũng cấp nền
giáo dục đẳng cấp thế giới, có tính cạnh tranh cao cho học sinh của mình, Ấn
Độ cũng là nơi có nhiều trường đại học đã được thành lập với mục tiêu duy
nhất là kiếm tiền một cách dễ dàng.
• Giáo dục cũng đã được thực hiện miễn phí đối với trẻ em từ 6 đến 14 tuổi hoặc
lên lớp VIII theo Quyền của Trẻ em hướng tới đạo luật Giáo dục bắt buộc và
miễn phí năm 2009.
• Một mặt đáng ghi nhận của hệ thống giáo dục trung học của Ấn Độ là tập trung
vào các thành phần có khó khăn của xã hội. Các chuyên gia từ các viện nghiên
cứu thường được gọi đến để hỗ trợ trong đào tạo nghề. Một mặt khác của hệ
thống giáo dục trung học của Ấn Độ là tập trung vào nghề nghiệp dựa trên đào
tạo nghề để học sinh đạt được các kỹ năng cho việc tìm kiếm nghề theo lựa
chọn của mình.
5. Chính sách về lao động, việc làm
24
• Ấn Độ có rất nhiều đạo luật lao động, trong đó có cấm phân biệt đối xử và cấm
lao động trẻ em (Điều 24 của hiến pháp của Ấn Độ cấm lao động trẻ em), nhằm
mục đích đảm bảo các điều kiện công bằng và tính nhân đạo của công việc,
đảm bảo chính sách an sinh xã hội, mức lương tối thiểu, quyền tổ chức, hình